NGHỆ THUẬT ĐẶT TÊN CÔNG TY

NHƯ QUỲNH (Tổng hợp từ Zhuk)

Tên gọi là điều đầu tiên mà các khách hàng và đối tác biết về bạn. Một cái tên đặc biệt và truyền cảm sẽ là cách quảng cáo tốt nhất cho công ty của bạn. Ngược lại, với một cái tên khó phát âm thì công việc kinh doanh của công ty sẽ rất dễ gặp phải trắc trở.
Có cả một bộ môn khoa học vềcách đặt tên cho công ty và sản phẩm/dịch vụ. Ở Việt Nam mọi người còn ít biết đến chuyên ngành khoa học này. Đôi khi cũng xuất hiện những cái tên thành công nhưng phần nhiều là do các ông chủ ngẫu nhiên chọn được. Hơn nữa, bộ môn khoa học này còn chứng minh rằng: khi tạo ra một cái tên cần phải cân nhắc đến rất nhiều yếu tố marketing khác.

Ai là các khách hàng tiềm năng của bạn? Điểm khác biệt của công ty bạn so với các đối thủ cạnh tranh khác là gì? Bạn muốn truyền tải thông điệp nào đến với khách hàng thông qua cái tên của mình? Liệu một cái tên êm ái du dương đã đủ thỏa mãn những yêu cầu về kinh doanh của công ty? Khi trả lời các câu hỏi này cộng với việc nắm vững những nguyên tắc chính của khoa học đặt tên, thì việc tìm được một cái tên thành công không phải là quá phức tạp. Và sau đây là những nguyên tắc chính của nghệ thuật đặt tên:

Tạo ra ấn tượng dễ chịu

Ấn tượng đầu tiên mà một cái tên cần phải có là làm cho các khách hàng và đối tác nảy sinh mong được tiếp cận với công ty của bạn. Ấn tượng được tạo thành từ cảm giác và những hình ảnh hiện lên trong nhận thức của mọi người. Ví dụ, nếu một công ty chuyên tổ chức các buổi lễ hội thì với cái tên “Tết” là rất thích hợp. Chỉ cần nghe thấy từ “Tết”, trong đầu mọi người đã xuất hiện nhiều hồi tưởng dễ chịu. Những cái tên tương tự có thể tự động tạo ra một hình ảnh có lợi cho công ty. Khi làm được điều này, có thể coi các ông chủ đã có trong tay một tấm “bùa hộ mệnh”.

Tiếp tục đọc

Advertisements

TRANH CHẤP SỞ HỮU: VỤ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI GẦN 20 NĂM Ở CÀ MAU, TỈNH PHẢI CHI 3,3 TỶ ĐỒNG ĐỂ SỬA SAI

PHÙNG DUY NHÂN

Ngày 12-11 – 2008, UBND tỉnh Cà Mau đã ra quyết định chi từ ngân sách hơn 3,3 tỉ đồng để bồi thường cho bà Nguyễn Kim Phượng, ngụ tại 132 Nguyễn Tất Thành, phường 8, TP Cà Mau. Nếu nhận số tiền này, gia đình người khiếu kiện sẽ không còn sống trong cảnh nghèo khó, nợ nần, song họ đã không đồng tình vì cho rằng cách giải quyết chưa hợp tình, hợp lý.

Lập hồ sơ giả để chiếm đất

Năm 1966, ông Nguyễn Văn Quán, cha bà Phượng, mua 3.780 m2 đất tại xã Hòa Thành, quận Quản Long, tỉnh An Xuyên (nay thuộc phường 8, TP Cà Mau). Gia đình bà Phượng đã cất nhà ở và sinh sống trên đất này từ đó đến nay. Mảnh đất đã được cấp chứng thư quyền sở hữu vào ngày 18-6-1971. Năm 1989, ông Tô Văn Hiền, em vợ ông Quán, làm đơn gửi UBND phường 8 đòi lại một phần đất này, với căn cứ là tờ nhượng phần đất ngang 12 m, dài 105 m mà ông Quán đã viết cho ông năm 1971.

Trên tờ nhượng đất chỉ có chữ ký của ông Quán và không có xác nhận của chính quyền. Dù vậy, ngày 6-5-1994, ông Nguyễn Thanh Đằng, Chủ tịch UBND phường 8, vẫn ra quyết định buộc gia đình bà Phượng phải trả lại phần đất này cho ông Hiền. Ngày 28-11-1994, ông Kiều Minh Đấu, Chủ tịch UBND thị xã Cà Mau, ký quyết định chuẩn y quyết định của ông Đằng.

Ngày 14-2-2000, ông Nguyễn Văn Diệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, tiếp tục chuẩn y quyết định này. Đến ngày 10-8-2001, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau ra quyết định buộc bà Phượng giao trả phần đất đang tranh chấp có diện tích 1.143,2 m2 cho ông Hiền quản lý sử dụng. Tiếp đó, ngày 6-5-2002, UBND TP Cà Mau đã cấp sổ đỏ cho ông Hiền, rồi cưỡng chế gia đình bà Phượng để giao đất cho ông này bán cho người khác lấy một khoản tiền lớn.

Tiếp tục đọc

GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA TỜ KHAI ĐĂNG KÝ HỘ TỊCH

NGUYỄN THANH XUÂN – Bộ Tư pháp

Đăng ký hộ tịch là một trong những quyền và nghĩa vụ của công dân được Nhà nước và pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Điều này được thể hiện ở chỗ khi người dân đến đăng ký hộ tịch, nếu họ đã nộp đủ các hồ sơ, giấy tờ theo quy định thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện việc đăng ký hộ tịch mà không có quyền từ chối việc đăng ký hộ tịch đó. Nếu người đi đăng ký hộ tịch còn thiếu các thủ tục thì cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm hướng dẫn đầy đủ, cụ thể, rõ ràng để công dân hiểu và có sự bổ sung.

Hiện nay, trong những trường hợp đăng ký hộ tịch nhất định như đăng ký lại việc sinh, cấp lại bản chính giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc tử, cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, đăng ký lại việc nuôi con nuôi… thì hồ sơ đăng ký hộ tịch của công dân khi có yêu cầu thường có các tờ khai đăng ký theo mẫu quy định nhằm xác định nội dung nhân thân của một cá nhân, từ đó có sự đối chiếu xác minh nhằm giải quyết đúng quy định cũng như yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân. Trước đây, các mẫu tờ khai đăng ký hộ tịch được quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch và Quyết định số 1203/QĐ-TP/HT ngày 26/12/1998 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp về việc ban hành biểu mẫu, sổ sách hộ tịch theo quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP.

So sánh các mẫu tờ khai hiện nay và trước đây có một số điểm khác nhau về nội dung. Theo các quy định pháp luật hộ tịch hiện hành như tờ khai hiện tại không có các xác nhận của người làm chứng hay lý do không đăng ký đúng hạn khi đăng ký khai tử quá hạn… Các mẫu tờ khai hộ tịch như quy định hiện nay không thể hiện sự “xin – cho” như các mẫu trước đây mà thể hiện rõ việc đăng ký hộ tịch là yêu cầu của người dân đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đây là sự khác biệt cơ bản giữa các mẫu tờ khai hộ tịch hiện nay và trước đây. Điều này thể hiện tinh thần cải cách hành chính mạnh mẽ, thể hiện sự bình đẳng giữa người dân và cơ quan đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện để các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được đảm bảo và thực hiện theo quy định của pháp luật.

Tiếp tục đọc

VỀ HỆ THỐNG PHÁP LUẬT HỒI GIÁO

image PGS.TS. THÁI VĨNH THẮNG

Cùng với Thiên chúa giáo và Phật giáo, Hồi giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới, có hơn một tỷ tín đồ. Khoảng 30 quốc gia trên thế giới[1] được coi là quốc gia Hồi giáo. Hệ thống pháp luật Hồi giáo (Islam) có mối quan hệ mật thiết với đạo Hồi, ở đâu không có đạo Hồi thì ở đó không có pháp luật Hồi giáo.

1. Khái quát về đạo Hồi và hệ thống pháp luật Hồi giáo

Cùng với Thiên chúa giáo và Phật giáo, Hồi giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất trên thế giới, có hơn một tỷ tín đồ. Khoảng 30 quốc gia trên thế giới[1] được coi là quốc gia Hồi giáo. Hệ thống pháp luật Hồi giáo (Islam) có mối quan hệ mật thiết với đạo Hồi, ở đâu không có đạo Hồi thì ở đó không có pháp luật Hồi giáo.

Thuật ngữ “Hồi giáo” (Islam, Musulman) có nghĩa là “sự khuất phục”, sự “hiến dâng”. Người Hồi giáo phục tùng ý chí của đấng Allah, người duy nhất có quyền phán xử điều đúng, sai. Đạo Hồi chính là những lời răn dạy của đấng Allah mà Mohammed đã tìm ra và truyền lại cho người đời. Đó là tập hợp những giáo lý về đạo đức cũng như những quy tắc của cuộc sống mà con người phải theo.

Đạo Hồi và hệ thống pháp luật Hồi giáo hình thành từ thế kỷ thứ VII, khi nhà tiên tri Mohammed, một thương gia thành phố Mécca, bắt đầu truyền đi bức thông điệp từ đấng Allah. Mohammed và những người đồng hành đã rời Mecca năm 622 sau Công nguyên, và quay trở lại 8 năm sau đó để trị vì vùng này, lập nên một đế chế tôn giáo. Ngày Mohammed rời Mecca được gọi là ngày hijra, ngày bắt đầu lịch Hồi giáo mà phần lớn các nước Trung Đông sử dụng. Trong khi châu Âu còn đang chìm đắm trong đêm trường Trung cổ thì nền văn hoá Hồi giáo đã phát triển mạnh mẽ. Các nhà toán học, triết học, các nhà văn Hồi giáo đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển của nền văn hoá nhân loại.

Tiếp tục đọc

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ MỞ CỬA, HỘI NHẬP HIỆN NAY

TS. DƯƠNG QUANG TUNG – Viện khoa học Tổ chức Nhà nước

Chủ trương cải cách nền hành chính nhà nước ở Việt Nam được bắt đầu cuối những năm 80 của thế kỷ XX, gắn liền với thời điểm bắt đầu công cuộc đổi mới đất nước theo đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế đặt ra sự cần thiết khách quan phải tiến hành công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước nhằm tạo lập một nền hành chính mới, hiện đại, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách kinh tế, phát huy dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế.

Trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, thực hiện các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, lần thứ VIII, các Nghị quyết Trung ương 8 (khóa VII), Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 6 (lần 2) và Trung ương 7 (khóa VIII); công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên những cải cách mới chỉ là bước đầu, nền hành chính nhà nước vẫn còn mang nặng dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp trước đây, ngày càng trở thành lực cản, kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong điều kiện mới.

Trước tình hình đó, để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI, ngày 17 tháng 9 năm 2001, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành quyết định số 136/2001/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010, đánh dấu một bước phát triển mới trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước.

1. Những kết quả, tiến bộ đã đạt được.

Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước, công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo nền bước chuyển biến, tiến bộ đáng ghi nhận của nền hành chính nhà nước trên các lĩnh vực chủ yếu sau:

1.1. Về cải cách thể chế.

– Đã đổi mới một bước quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi trách nhiệm của Chính phủ, góp phần tích cực vào việc bổ sung hoàn thiện hệ thống thể chế, từng bước tạo môi trường hành lang pháp lý đồng bộ, thuận lợi cho các hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước trong điều kiện mới.

Trong hơn 6 năm qua, Quốc hội đã ban hành trên 50 luật, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua trên 20 pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành trên 1000 Nghị định để điều chỉnh các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội… Một loạt các luật mới ban hành như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài, Luật cạnh tranh, Luật phá sản, Luật xây dựng, Luật đất đai, Luật thương mại, Bộ luật lao động, Bộ luật dân sự… đã tạo môi trường pháp lý thông thoáng thuận lợi hơn cho hoạt động của các doanh nghiệp, các tổ chức và công dân trong phát triển sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống xã hội. Chính quyền địa phương các cấp cũng đã tích cực công tác cải cách thể chế, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền để cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng các khu công nghiệp, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển… Tiếp tục đọc

QUI ĐỊNH CỦA WTO VỀ QUI TẮC XUẤT XỨ VÀ CAM KẾT CỦA VIỆT NAM

T.T.T

Quy tắc xuất xứ được hiểu là những luật, quy định, quyết định hành chính được các nước Thành viên WTO sử dụng để xác định nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, những quy tắc này không liên quan đến thoả thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chỉnh của GATT 1994, nó bao gồm tất cả các quy tắc xuất xứ được sử dụng trong công cụ chính sách thương mại không ưu đãi.

Hiệp định về quy tắc xuất xứ được hình thành với mong muốn tiếp tục thực hiện mục tiêu của GATT 1994 của các nước Thành viên. Hiệp định gồm có 4 Phần với 9 Điều và 2 Phụ lục quy định Uỷ ban kỹ thuật về quy tắc xuất xứ và Tuyên bố chung về quy tắc xuất xứ.

Quy định nguyên tắc điều chỉnh việc áp dụng quy tắc xuất xứ, Hiệp định phân biệt hai thời kỳ quá độ và thời kỳ sau quá độ.

Trong thời quá độ

Trong thời kỳ quá độ đòi hỏi các Thành viên phải đảm bảo một số các nguyên tắc cơ bản: khi ban hành quyết định hành chính để áp dụng chung thì các yêu cầu cần được định nghĩa rõ ràng, ví dụ khi áp dụng các tiêu chí chuyển đổi hạng mục trên biểu thuế quan thì phải phải quy định rõ ràng dòng thuế hoặc nhóm các dòng thuế trên biểu thuế chịu sự điều chỉnh của quy tắc đó hoặc khi áp dụng tiêu chí theo tỷ lệ phần trăm giá trị phải quy định cách thức tính phần trăm này trong quy tắc xuất xứ; các quy tắc xuất xứ cũng không được sử dụng để trực tiếp hay gián tiếp theo đuổi chính sách thương mại; không tạo ra các tác động hạn chế, bóp méo thương mại, không đưa ra yêu cầu chặt chẽ hơn thông lệ hoặc không liên quan đến sản xuất hoặc chế biến; việc áp dụng quy tắc xuất xứ đối với hàng xuất khẩu và nhập khẩu không được chặt chẽ hơn quy tắc xuất xứ xác định có phải hàng nội địa hay không;

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: