BÀN VỀ TIỀN LƯƠNG

image TS. ĐINH SƠN HÙNG

Thị trường hàng hóa sức lao động là một trong những thị trường cơ bản của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường và trong thị trường này, tiền lương, tiền công là giá cả của loại hàng hóa đặc biệt – hàng hóa sức lao động. Do vậy mối quan hệ, tương quan giữa giá cả với hàng hóa cùng các quan hệ cung – cầu, cạnh tranh; sự vận động của thị trường hàng hóa sức lao động luôn là mối quan tâm của các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách – đặc biệt là chính sách về lao động, việc làm và tiền lương. Tuy vậy, bài viết dưới đây chỉ góp phần bàn thêm về cơ sở, nguyên tắc định giá hàng hóa sức lao động trên thị trường hàng hóa sức lao động Việt Nam khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường.

Quan điểm tiền lương của Karl Marx.

K.Marx định nghĩa tiền lương là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng biểu hiện ra bên ngoài như là giá cả của lao động.

Như vậy, căn cứ chủ yếu để xác định tiền lương là giá trị sức lao động và tiền lương sẽ luôn luôn vận động cùng chiều với giá trị sức lao động; giá trị sức lao động được đo lường thông qua giá trị những tư liệu tiêu dùng vật chất và tinh thần cần thiết tối thiểu để nuôi sống người lao động và gia đình người lao động, cộng với chi phí đào tạo. Nghĩa là tiền lương phải đủ để nuôi sống được người lao động và gia đình họ trên hai phương diện: vật chất và tinh thần. Bên cạnh đó, trong lý luận giá trị, khi nghiên cứu nguồn gốc của giá trị, K.Marx cho rằng trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn so với lao động giản đơn, lao động phức tạp là “bội số” của lao động giản đơn. Do vậy lương trả cho lao động phức tạp tất yếu phải cao hơn so với lao động giản đơn, và lương sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng tính phức tạp của lao động cũng như của trình độ người lao động.

Tiếp tục đọc

Advertisements

CÁC LOẠI HỢP ĐỒNG GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀNG HÓA GIAO SAU

THS. VŨ THỊ MINH NGUYỆT

Thị trường giao sau (futures market) là một thị trường tập trung có tổ chức rất cao, chỉ mua bán các sản phẩm dẫn xuất từ thị trường hàng hóa thực là các hợp đồng giao sau (HĐGS – futures contract). Thị trường đã ra đời và phát triển cùng với phương thức giao dịch thông qua các hợp đồng mua bán giao sau các loại hàng hoá thực. HĐGS được tiêu chuẩn hóa: về số và chất lượng hàng hóa, nơi giao hàng, thể thức thanh toán, tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ ký qũy bảo đảm thanh toán,… Nơi mua bán các HĐGS này người ta quen gọi là sàn giao dịch (pit) hay sở giao dịch (exchange).

Từ đây, người ta thường dùng thuật ngữ thị trường hàng hóa giao sau hay thị trường giao sau để ám chỉ sở giao dịch các HĐGS, bởi các hợp đồng giao sau chỉ được mua bán trong các sở giao dịch mà thôi. Cũng chính bởi lý do chỉ mua bán các hợp đồng giao sau tại sàn, hàng hóa cơ sở được giao nhận tại một nơi khác, nên nó có thể xem như một cái chợ ảo. Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ viễn thông, thị trường giao sau ngày nay sở hữu khoảng 70% lưu lượng vốn toàn cầu vào – ra thị trường hàng ngày. Có được sự tăng trưởng nhanh chóng vậy cũng cần phải kể đến các dạng công cụ được giao dịch trên thị trường ngày càng phức tạp và tinh vi, giúp người tham gia thị trường nhiều cơ hội kinh doanh và phòng chống rủi ro.

Các dạng hợp đồng chuyển giao rủi ro

§ Các dạng hợp đồng truyền thống được sử dụng trên thị trường hàng hóa

o Hợp đồng giao ngay (spot contract ): là loại hợp đồng mà giá cả gọi là giá giao ngay (giá cả của hàng hóa được mua bán trên thị trường ngay tại thời điểm này), nghĩa là việc giao hàng và thanh toán chỉ có thể diễn ra trong vòng 1 hay 2 ngày (làm việc) kể từ khi bản hợp đồng được ký kết.

Tiếp tục đọc

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THẺ THANH TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

PHẠM THỊ BÍCH HẠNH

Tiền mặt đã xuất hiện từ lâu và là một phương thức thanh toán không thể thiếu ở bất cứ một quốc gia nào. Tuy nhiên, khi xã hội càng phát triển, có rất nhiều phương thức thanh toán nhanh chóng, tiện dụng và hiện đại hơn ra đời và được gọi chung là phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM). Và thẻ thanh toán là một trong những phương tiện thanh toán KDTM được sử dụng phổ biến nhất trong giai đoạn hiện nay.

1. Sự cần thiết của thẻ thanh toán trong xã hội hiện đại

Cùng với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và những ứng dụng thành tựu công nghệ thông tin, tự động hóa…, có rất nhiều hình thức TTKDTM tiện lợi, an toàn đã, đang được sử dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Phương tiện thanh toán tiền mặt là không thể thiếu, song ngày nay, thanh toán bằng tiền mặt không còn là phương tiện thanh toán tối ưu trong các giao dịch thương mại, dịch vụ nữa.

Các hoạt động giao dịch thương mại, dịch vụ, hàng hóa ngày nay diễn ra mọi lúc, mọi nơi, vượt qua cả giới hạn về khoảng cách. Xét trên nhiều góc độ, khi hoạt động thanh toán trong xã hội còn thực hiện phổ biến bằng tiền mặt có thể dẫn đến một số bất lợi và rủi ro như: Chi phí của xã hội để tổ chức hoạt động thanh toán (như chi phí của Chính phủ cho việc in tiền; chi phí vận chuyển, bảo quản, kiểm, đếm tiền của hệ thống ngân hàng, của các chủ thể tham gia giao dịch thanh toán) là rất tốn kém; việc thực hiện giao dịch thanh toán bằng tiền mặt dễ bị các đối tượng phạm pháp lợi dụng để gian lận, trốn thuế, trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc các chủ nợ; vấn đề an ninh trong thanh toán, bảo quản, vận chuyển tiền mặt luôn tiềm ẩn nhiều nguy hiểm; sử dụng tiền mặt trong giao dịch thanh toán của xã hội sẽ là môi trường thuận lợi cho tội phạm lưu hành tiền giả, đe dọa trực tiếp đến lợi ích của các tổ chức, cá nhân và tình hình an ninh quốc gia.

Tiếp tục đọc

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM DÙ CÓ VÔ HIỆU CŨNG KHÔNG LÀM MẤT QUYỀN ĐƯỢC PHÁP LUẬT ĐỐI XỬ BÌNH ĐẲNG

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Vụ thứ nhất

Ngày 28/04/2004, vợ chồng bà L vay 360 triệu đồng của Ngân hàng H đểmua nhà, đất số 46, lô A.12, khu dân cư Phường An Bình, TP. Biên Hòa, Đồng Nai (nhà do công ty S – có chức năng kinh doanh nhà, đầu tư xây dựng và bán), thời hạn vay 84 tháng, đồng thời ký hợp đồng thế chấp (HĐTC) nhà, đất trên cho Ngân hàng H (là tài sản hình thành từ vốn vay). Do thời điểm này quan điểm của cơ quan công chứng địa phương không thực hiện công chứng đối với các giao dịch liên quan đến tài sản hình thành trong tương lai nên trong HĐTC, các bên đã thoả thuận: “khi có giấy chủ quyền nhà, đất, bên thế chấp sẽ làm thủ tục công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm”. Cùng ngày, Ngân hàng H phát hành văn bản số 444/NHCT.BH4 thông báo cho Công ty S về khoản vay và đề nghị hỗ trợ quản lý tài sản bảo đảm (TSBĐ). Đến ngày 18/08/2006, UBND thành phố Biên Hòa ký giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho và giao cho Công ty S, tháng 12/2006 Công ty S đã giao giấy tờ nhà, đất (đứng tên chủ quyền là vợ chồng bà L) cho ngân hàng quản lý.

Tuy nhiên, trước đó, ngày 22/09/2005, mặc dù chưa có giấy tờ chủ quyền và chưa nhận nhà, nhưng vợ chồng bà L đã ký “hợp đồng đặt cọc và mua bán nhà”, theo đó, vợ chồng bà L bán nhà số 46, lô A.12 với giá 720 triệu đồng cho vợ chồng bà Th, trong hợp đồng này, hai bên mua bán tự ghi thỏa thuận: “tuy là tài sản bảo đảm, nhưng ngân hàng H không có quyền xử lý nhà để thu hồi nợ vay”, hợp đồng đã được UBND phường An Bình xác nhận “về chữ ký” vào ngày 07/10/2005.

Đầu năm 2007, do khách hàng không trả nợ vay, không thực hiện nghĩa vụ công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm (GDBĐ), phát hiện khách hàng đã tự ý bán tài sản thế chấp nên Ngân hàng H đã khởi kiện.

Tiếp tục đọc

NHỮNG BỨC XÚC PHÁT SINH TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

image THU HƯƠNG – ĐẶNG TIẾN

Tranh chấp LĐ và đình công của NLĐ rất dễ xảy ra, nhất là vào dịp sát Tết Nguyên đán. 9 tháng đầu năm 2008, cả nước đã xảy ra 650 cuộc đình công.

Còn ở Hà Nội, đến 30.11.2008 có 46 cuộc tranh chấp LĐ, ngừng việc tập thể và đình công của gần 20.000 LĐ. Điều đó cho thấy quan hệ LĐ giữa chủ DN và NLĐ ngày càng phức tạp, cần có giải pháp xây dựng quan hệ LĐ hài hoà, ổn định và tiến bộ tại DN theo Chỉ thị 22-CT/TW của Ban Bí thư.

Giá cả tăng cao, mức thu nhập của CNLĐ – nhất là các KCN tập trung- chưa đảm bảo đời sống; sinh hoạt văn hoá tinh thần không được cải thiện; nhận thức pháp luật của NLĐ ở mức thấp; tiếng nói của CĐCS chưa đủ mạnh… Đó là những bức xúc dẫn tới phát sinh tranh chấp LĐ tập thể tại DN.

“Vùng trũng” về thu nhập và văn hoá

Theo thống kê của Ban Quản lý các KCN-CX Hà Nội, thu nhập bình quân của NLĐ khu vực DN FDI ngành dệt may là 1.342.800đ/tháng, cơ khí 1.441.4000đ/tháng, điện và điện tử là 1.435.000đ/tháng. Đa số CN là người ngoại tỉnh, phải thuê nhà trong điều kiện vệ sinh, ăn uống, điện, nước không đảm bảo. Trong KCN và các xã lân cận cũng không có rạp chiếu phim, sân vận động, nhà văn hoá, bưu điện, bệnh viện…nên NLĐ thiếu hẳn sự giao lưu văn hoá cần thiết. Những bất cập đó, theo Chủ tịch CĐ các KCN-CX HN Nguyễn Thị Hoá, đã tạo nên “một vùng trũng” về thu nhập và đời sống văn hoá-xã hội.

Mặc dù TP đã chỉ đạo triển khai dự án thí điểm xây dựng nhà ở cho CN đang làm việc ở KCN Thăng Long thuê với giá 120.000đ/người/tháng, nhưng cũng khó đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của 24.000 LĐ. Vậy mà vẫn nhiều CN không muốn thuê chung cư, vì tổng số tiền thuê nhà khoảng 200.000đ/tháng vẫn cao so với thu nhập của họ. Dù mức thu nhập mà DN trả không thấp hơn mức lương tối thiểu theo quy định, song vẫn quá thấp so với giá cả sinh hoạt hiện nay. Cách trả và phương pháp tính thu nhập của các DN khác nhau đã gây nên tâm lý so bì về thu nhập giữa NLĐ trong KCN. Các lý do đáng nói nữa là sự khác biệt về văn hoá, bất đồng về ngôn ngữ giữa chủ sử dụng LĐ nước ngoài với LĐVN; thái độ không đúng mực, cậy thế của một số nhân viên quản lý người Việt trong DN với NLĐ và mức ăn ca thấp trong khi giá tăng liên tục không đảm bảo dinh dưỡng để tái tạo sức LĐ của CN. Còn NLĐ lại thiếu kiến thức về pháp luật LĐ, nội quy, quy chế DN, văn hoá DN, văn hoá ứng xử…nên đã có những hành vi chưa đúng pháp luật hoặc bị kẻ xấu kích động, lợi dụng. Tiếp tục đọc

HÃY HỌC CÁCH KIỂM SOÁT STRESS TRƯỚC KHI NÓ CHI PHỐI CUỘC SỐNG CỦA BẠN

image TUẤN ANH (Dịch từ CEO refresher)

Theo các nhà y học, stress là từ dùng để chỉ trạng thái tinh thần căng thẳng hoặc áp lực mà ai đó phải chịu đựng. Nó là sản phẩm mang tính xã hội trong thương trường hiện đại. Áp lực do công việc; sức khỏe giảm sút; đời sống cá nhân bị tác động mạnh… là điều khó tránh khỏi đối với bất cứ những ai đã và đang bước vào đời sống kinh doanh.

Và stress có tác động đến các công ty, tổ chức và cá nhân người nhân viên trên mọi góc độ và gây ra những ảnh hưởng nhất định. Bạn có thể xem xét những con số thống kê dưới đây:

– Năm 2002, theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi Robert Haft International Inc., các giám đốc điều hành đã giãi bày với các nhà nghiên cứu rằng họ đang bị stress; họ muốn có thời gian để nghỉ ngơi nhiều hơn vì hiện tại họ đang phải làm việc trung bình 51 giờ trong tuần. Gần một nửa số người được khảo sát (46%) nói rằng thời gian dành cho công việc của họ đã ngày càng tăng hơn so với trước đó năm năm.

– Cũng trong một cuộc khảo sát khác được tiến hành trong năm 2002, 77% các nhà điều hành kinh doanh được khảo sát đã trả lời rằng trung bình cứ một nhân viên của họ phải làm việc trong tình trạng quá tải ít nhất một lần. Chỉ có 1/10 nói rằng tình trạng căng thẳng trong công việc có tác dụng tích cực.

– Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa bệnh Mỹ (Centres for Disease Control and Prevention) tính toán rằng có tới 60% đến 70% bệnh tật và sự ốm yếu có liên quan đến stress.

– Một tính toán khác cũng chỉ ra rằng 75% đến 90% bệnh nhân đến gặp bác sĩ điều trị đang ở trong những trạng thái stress khác nhau.

– Theo một nghiên cứu mới đây đăng trên tạp chí của Hiệp hội thuốc Phụ nữ Mỹ (American Medical Women’s Association), 60% số phụ nữ được khảo sát đã nói rằng sự căng thẳng trong công việc đang là vấn đề nghiêm trọng nhất trong cuộc sống của họ. Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: