Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CON ĐƯỜNG LAO KHỔ: TỪ LUẬT TÁC QUYỀN TRONG CÔNG ƯỚC BERNE ĐẾN QUAN HỆ PHÁP LÝ GIỮA VIỆT NAM VÀ HOA KỲ

NGUYỄN HỮU LIÊM

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế vào cộng đồng thế giới, khi Việt Nam chính thức gia nhập Công Ước Berne năm trước (2004) thì những vấn đề luật pháp liên quan đến tác quyền đối với và của các tác giả và nhà xuất bản Việt Nam được khơi dậy. Ở trong cũng như ngoài nước, nhiều bài báo đã đặt vấn đề và nêu lên nhiều câu hỏi liên quan đến một định chế pháp lý quan trọng vốn có thể ảnh hưởng đến cả một chiều hướng sinh hoạt văn hóa sách vở trong thời gian tới.

Một trong những quan tâm lớn là mối liên hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trên lãnh vực tác quyền và quyền hạn của sản phẩm trí tuệ. Lãnh vực này, dù là quan trọng, cũng chỉ là một phần nhỏ trong những tương quan pháp lý giữa Mỹ và Việt. Bài viết này trước hết sẽ tóm lược những phương diện pháp lý quan yếu về luật tác quyền trong công ước Berne nhằm từ đó nêu lên những vấn đề tổng quát hơn về bản chất đối tác pháp chế giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.

A. Từ Công Ước Berne (The Berne Convention/Union for the Protection of Literary and Artistic Works):

Được chấp nhận vào năm 1886 tại thành Phố Berne, Thuỵ Sĩ, kết quả bởi sự vận động của văn hào Victor Hugo nhằm công nhận tác quyền giữa các quốc gia tham dự. Văn bản của Công Ước đã được cập nhật và hoàn chỉnh vào năm 1971 tại Pháp, gọi là “Văn Kiện Paris”. Trên nguyên tắc tổng quan, thì thành viên của công ước Berne công nhận tác quyền của tất cả tác giả thuộc các quốc gia trong Công Ước. Tác quyền này được mặc nhiên công nhận trên phương diện pháp luật của quốc gia liên hệ.

Tác giả và nhà xuất bản giữ bản quyền không cần phải đăng ký hay là phải thông báo trên bất cứ hình thức nào. Thời gian tối thiểu được bảo vệ cho tác quyền là trọn đời của tác giả cộng thêm 50 năm. Kể từ năm 1967, Công ước Berne được quản lý bởi WIPO (World Intellectual Property Organization). Ngoài Công ước Berne, còn có Công ước Tác quyền Toàn cầu, the Universal Copyright Convention (UCC).

Continue reading

Advertisements

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ĐIỀU CHỈNH LÃI SUẤT CƠ BẢN

NGUYỄN CAO KHÔI – VIETCOMBANK

Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó có lãi suất, để thực hiện điều hành chính sách tiền tệ quốc gia thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của mình. Tuỳ theo chính sách, chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ trong từng thời kỳ và những diễn biến trên thị trường tài chính – tiền tệ trong nước, quốc tế mà NHNN quy định cơ chế điều hành lãi suất cho phù hợp.

Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật do NHNN ban hành quy định về cơ chế điều hành lãi suất phải bảo đảm nguyên tắc: đúng thẩm quyền và phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên. Sau nhiều năm thực hiện điều hành cơ chế lãi suất thỏa thuận, ngày 16/5/2008, Thống đốc NHNN đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN quy định về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam (Quyết định số 16) trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 (có hiệu lực ngày 01/01/2006). Theo đó, kể từ ngày 19/5/2008, NHNN xoá bỏ cơ chế lãi suất trần huy động bằng đồng Việt Nam và sử dụng công cụ lãi suất cơ bản để điều tiết lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng theo tín hiệu của thị trường. Việc NHNN thay đổi cơ chế điều hành lãi suất này đã làm cho nhiều ngân hàng và doanh nghiệp lúng túng xác định lãi suất cho vay trong các hợp đồng tín dụng đã được ký kết.

1. Lãi suất cho vay bằng VND trong hợp đồng tín dụng đã được ký kết

Trong những tháng đầu năm 2008, lạm phát diễn biến phức tạp và có xu hướng tăng, NHNN đã thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm ưu tiên thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính vì vậy, các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam đã gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh. Cho đến giữa tháng 10/2008, khi nền kinh tế thế giới đã bước đầu được hồi phục bởi các biện pháp giải cứu, hỗ trợ của Ngân hàng Trung ương/Chính phủ các nước và tình hình lạm phát trong nước đã có những tín hiệu được kiềm chế (chỉ số giá tiêu dùng giảm, nhập siêu giảm…), NHNN ban hành một loạt các quyết định về giảm lãi suất cơ bản (từ 14%/năm xuống 13%/năm, 12%/năm), giảm lãi suất tái cấp vốn (từ 15%/năm xuống 14%/năm, 13%/năm), giảm lãi suất tái chiết khấu (từ 13%/năm xuống 12%/năm, 11%/năm), tăng lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc (từ 5%/năm lên tới 10%/năm) và cho phép các tổ chức tín dụng (nếu có nhu cầu) được thanh toán tín phiếu bắt buộc trước hạn… để tạo điều kiện cho các ngân hàng chủ động hơn về nguồn vốn, thanh khoản và giảm lãi suất cho vay. Ngay sau khi NHNN ban hành các quyết định nêu trên, nhiều ngân hàng thương mại (Agribank, SeAbank, ABBank, Techcombank, VPBank, ACB…) đã hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ các doanh nghiệp vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội. Mức giảm lãi suất cho vay cụ thể tùy thuộc vào chính sách cho vay, nguồn vốn huy động hiện có và khả năng, điều kiện thực tế của mỗi ngân hàng. Mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam được đa số các ngân hàng áp dụng hiện nay là khoảng từ 15%/năm – 16%/năm.

Continue reading

MỘT VÀI NGỘ NHẬN VỚI CÁC TẬP ĐOÀN

image NGUYỄN QUANG A

Báo chí đưa tin về nhiều “điều lạ” trong hội nghị sơ kết thí điểm mô hình tập đoàn kinh tế diễn ra tại Bộ Công thương ngày 20.11.2008. Chuyện các tập đoàn “kêu oan”, “phân trần” về những “cáo buộc” của các nhà khoa học, của một số đại biểu Quốc hội và của dư luận rằng “các tập đoàn hoạt động không hiệu quả, đầu tư tràn lan ra ngoài ngành và là một trong những nguyên nhân chính gây bất ổn vĩ mô và lạm phát” là một điều dễ hiểu.

Có vẻ cứ như các tập đoàn hùng mạnh này, các tổ chức không những nắm trong tay phần lớn nguồn lực quốc gia mà còn có sức mạnh và được sự ủng hộ lớn, ở thế yếu nên họ phải phân trần, phải kêu oan. Không phải vậy, họ ở thế rất mạnh.
Tuy nhiên cũng cần phải tạo diễn đàn “bình đẳng” cho các tập đoàn này bày tỏ chứng kiến, lập luận của họ công khai trước công chúng, tranh luận thẳng thắn với những người có ý kiến khác họ. Tất nhiên những người có ý kiến khác họ cũng phải được hưởng sự “bình đẳng” đó.

“Điều lạ” thứ hai là có ông lãnh đạo tập đoàn còn khiển trách Bộ Công thương “không lên tiếng bênh vực họ” và cho đó là một khuyết điểm của Bộ. Thực ra việc này cũng “bình thường”, thậm chí có thể dùng để minh hoạ cho tính “cởi mở”, “dân chủ” nữa. Thấy chưa, doanh nghiệp dám phê phán bộ cơ mà.
Cái lạ ở đây là nó rất khác cách ứng xử của doanh nghiệp nhà nước với bộ chủ quản của mình. Nay thành tập đoàn, dưới sự chủ quản của cơ quan cấp cao hơn và thoát khỏi vòng cương toả của “bộ chủ quản”, các ông này mạnh mồm hơn hẳn đối với các bộ và báo giới. Họ đều do Chính phủ bổ nhiệm, được người ta coi là tương đương “thứ trưởng” nhưng quyền lực hơn nhiều.
Đấy có thể là một trong những sự lý giải cho cái sự lạ này, nó cũng có thể lý giải vì sao nhiều ông tổng công ty thích “lên tập đoàn” đến như vậy. Điều tưởng lạ trở nên dễ hiểu hơn.

Continue reading

MỘT SỐ KINH NGHIỆM CỦA SINGAPORE TRONG VIỆC QUẢN LÝ THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

THS. PHẠM BÌNH AN

Singapore là một đảo quốc, một thành phố với 682 km2 và dân số 3,4 triệu người. Với quy mô quốc gia nhỏ bé và có nhiều điểm đặc thù, Singapore khá thành công trong việc quản lý và điều tiết thị trường bất động sản.

1. Khái quát về chế độ sở hữu đất đai:

Singapore có chế độ sở hữu đất đai đa dạng, trong đó chấp nhận sở hữu tư nhân về đất đai. Đất do Nhà nước sở hữu chiếm tỷ trọng lớn nhất (gần 90%), số còn lại do tư nhân chiếm hữu, nhưng việc sở hữu này phải tuân thủ theo các chế độ quy hoạch sử dụng đất do Nhà nước quy định. Người nước ngoài được quyền sở hữu căn hộ hoặc căn nhà (biệt thự) kèm theo với đất ở. Chế độ sử dụng đất phổ biến là hợp đồng thuê của Nhà nước trong thời hạn cụ thể:

Mục đích sử dụng đất

Thời hạn sử dụng (năm)

1. Đất sử dụng để xây nhà ở 99
2. Đất sử dụng cho mục đích thương mại

99

3. Đất sử dụng cho mục đích công nghiệp

60

4. Đất sử dụng cho mục đích giáo dục

30

5. Đất sử dụng cho mục đích tôn giáo

30

6. Đất sử dụng cho mục đích phúc lợi xã hội

30

7. Đất nông nghiệp

10-20

2. Quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch

Quy hoạch được nhận thức là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc phát triển ổn định thị trường bất động sản. Phương thức quy hoạch của Singapore rất bài bản và có những điểm khác với cách thức mà TP.HCM đang làm. Theo họ có 3 loại quy hoạch chính, tiến hành theo từng bước:

Continue reading

BÀN VỀ HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI NỀN KINH TẾ

THS.NGUYỄN QUỐC TÒNG

Hợp tác xã (HTX) là vấn đề không xa lạ gì đối với Việt Nam (và dĩ nhiên là với các nước TBCN cũng vậy) song vấn đề cần bàn kỹ ở đây là thế nào là HTX nông nghiệp trong nền kinh tế chuyển đổi?

– HTX là phương thức tất yếu trong lao động sản xuất và các hoạt động kinh tế, gắn liền với sự phát triển kinh tế và bị ràng buộc và qui định bởi sự tiến triển trong quá trình xã hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thích ứng với tiến trình phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng NSLĐ và đạt hiệu quả kinh tế cao.

– HTX là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động kinh tế. Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm lao động, tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế mới trong điều kiện mới.

– Đặc trưng của HTX nông nghiệp – nông thôn trong điều kiện mới đó là liên kết hợp tác của các chủ thể kinh tế tự chủ (kinh tế hộ, kinh tế trang trại) đây là hạt nhân và là nền tảng cơ bản của HTX kiểu mới được thiết lập.

– Việc thiết lập HTX kiểu mới không làm mất đi tính tự chủ vốn có của các bên tham gia, trái lại nó tăng thêm sức mạnh tổng lực và phát triển được những ưu thế của phương thức HTX.

– Vậy HTX đâu phải là cái đích cuối cùng mà vấn đề ở đây là tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế các chủ thể kinh tế tự chủ. HTX là việc liên kết nhau lại giữa các chủ thể kinh tế tự chủ tạo ra sức mạnh mới, thông qua đó phát triển được kinh tế của mình. Như vậy khi thành lập HTX mới không phải vì kinh tế HTX mà là sự phát triển kinh tế cụ thể của các kinh tế của HTX. Do đó, kinh tế HTX là tổ chức kinh tế tự nguyện của các chủ thể kinh tế tự chủ. HTX kiểu mới phải thể hiện được bản chất tự do lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế của họ trong điều kiện kinh tế thị trường vì kinh tế thị trường thì các chủ thể kinh tế tự chủ họ có nhiều cách để đạt tới mục đích kinh tế của mình. Như vậy, trong điều kiện mới, các chủ thể kinh tế tự chủ họ có thể tham gia HTX hoặc không, khi HTX không đáp ứng yêu cầu của họ.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: