Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

SO SÁNH CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở MỸ VÀ VIỆT NAM

VŨ QUANG VIỆT {1} – Vụ trưởng Vụ Tài khoản quốc gia, Cục Thống kê Liên hợp quốc

Bài viết này tóm tắt những nét khác biệt cơ bản giữa giáo dục đại học cấp cử nhân (Bachelor of Arts hay gọi tắt là BA) ở Mỹ và ở Việt Nam hiện nay. Những nét cơ bản nàydựa vào so sánh chương trình học kinh tế ở Việt Nam và chương trình học khoa học cơ bản, xã hội hoặc nhân văn (liberal arts trong đó có kinh tế, toán, vật lý, hoá học, văn chương, tâm lý học, v.v.). Chương trình học ở Việt Nam và ở Mỹ được đưa vào phần phụ lục.

1. Chương trình học ở Việt Nam quá dài

Thời gian học 4 năm ở lớp tại Việt Nam là 2183 giờ so với 1380 giờ ở Mỹ. Như vậy chương trình ở Việt Nam dài hơn gần 60%. Điều này có thể là do thiếu sách vở nên thầy phải vào lớp đọc cho trò chép hoặc là quán tính từ quá khứ để lại. Với thời gian ngồi lớp như vậy, học sinh sẽ còn ít thì giờ để tự học, nghiên cứu.

2. Chương trình ở Việt Nam không phải là dậy nghề cũng không phải là đào tạo một người có kiến thức sâu và tính sáng tạo

Chương trình học kinh tế đòi hỏi 1451 giờ học kinh tế so với ở Mỹ chỉ đòi hỏi tối thiểu là 480 giờ (tức là 1/3 chương trình đại học), như vậy đòi hỏi học các môn kinh tế gấp 3lần số giờ ở đại học Mỹ. Nhìn chương trình giảng dậy ở Đại học kinh tế thành phố Hồ
Chí Minh ta thấy, học sinh trong 4 năm phải học gần như tất cả mọi thứ trên đời về kinh tế mà nhà trường có thể nghĩ ra được, từ các môn cơ bản như kinh tế vi mô và vĩ mô, đến các môn như kinh tế lao động, quản trị xí nghiệp, kế toán, địa lý kinh tế, luật kinh tế, dân số họ, chính sách thương mại, kinh tế tài nguyên và môi trường, phân tích dự án kinh tế, thị trường chứng khoán, v.v. Đây là những môn ít khi dậy ở cấp đại học 4 năm và có dậy thì chỉ là những môn để học sinh có thể chọn lựa, và đây cũng là những môn mà trường đại học có thầy đã và đang nghiên cứu chuyên sâu. Đòi hỏi mỗi thứ một tí, học sinh không có khả năng hoặc thì giờ đi sâu vào bất cứ vấn đề gì và chắc chắn là thầy cũng chỉ đọc sách nói lại mà không hiểu thầy có hiểu không nữa. Theo các tài liệu giáo khoa của trường thì nội dung rất là rất nặng lý thuyết mà nhiều phần học sinh ở Mỹ chỉ học trong chương trình sau cử nhân. Như vậy trường chỉ nhằm nhồi sọ kiến thức lý thuyết kinh tế nhưng sự phân chia chi li các lớp học thì lại có vẻ thực dụng như dậy nghề.

3. Chương trình ở Việt Nam không trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản và toàn diện khoa học tự nhiên, nhân văn, văn chương và nghệ thuật; không có một lớp nào về phương pháp nghiên cứu và viết luận văn

Chương trình ở Mỹ (ở các đại học danh tiếng) đòi hỏi học sinh phải học một chương trình cơ bản dù là học ngành gì từ khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng, xã hội hoặc nhân văn. Đây chính là chương trình thể hiện mục đích đào tạo những cá nhân có tri thức cơ bản, có phương phát suy nghĩ và phân tích các vấn đề, có khả năng viết luận văn nghiên cứu (coi thêm phụ lục I). Chương trình cơ bản bắt buộc này cũng chiếm 1/3 thời gian học 4 năm như thời gian tối thiểu dành cho ngành học chính. Chúng gồm có những môn như sau:

Chương trình kiến thức cơ bản bắt buộc ở đại học Mỹ

 

Tín chỉ theo chương trình 3
kỳ {2} học một năm

Thời gian học (giờ)

Hội thảo về phương pháp suy luận, phân tích, nghiên cứu và viết luận văn.

2

60

Ngoại ngữ hoặc qua kỳ thi sát hạch*

6

180

Viết tiếng Anh hoặc qua kỳ thi sát hạch*

2

60

Kiến thức cơ bản

• Khoa học tự nhiên
• Qui tắc và phương pháp logic

• Khoa học xã hội và hành vi

• Sử học

• Giá trị (triết học, tôn giáo hoặc
đạo đức học)

• Văn học và nghệ thuât

 

1
1

1

1

1

                                            1

180

Tổng chương trình cơ bản

16

480

Tổng chương trình 4 năm

45-46

1380

Nguồn: dựa vào chương trình của Northwestern University
*Nếu qua được ký thi sát hạch, học sinh có thể học ở những lớp cao hơn hoặc học về văn học nước ngoài dạy bằng tiếng nước ngoài, hoặc văn chương tiếng Anh để thay thế.

4. Ở đại học Việt Nam tất cả các môn có tính bắt buộc, học sinh không có quyền tự chọn, ngược lại ở Mỹ học sinh có quyền tự chọn đến 1/3 thời gian học dù học bất cứ ngành chính nào (như toán, vật lý, hoá học, kinh tế, tâm lý, văn chương, vv.)

Việc tự chọn là rất quan trọng để học sinh mở mang kiến thức về nhiều ngành học khác nhau. Việc hiểu biết liên ngành này cho phép học sinh hợp tác nghiên cứu liên ngành, phân tích và nhìn vấn đề không bị cục diện, bó hẹp vào chuyên môn của mình. Học sinh đại học với quyền tự chọn có thể chọn hai ngành chuyên môn, hoặc một ngành chính và một ngành phụ3. Sau khi ra trường, họ có thể làm việc ở nhiều chuyên môn khác nhau chứ không bị bó vào ngành chuyên môn duy nhất mà mình học ở trường, kể cả thay đổi hoàn toàn để theo một ngành khác. Triết lý giáo dục ở Mỹ cho phép và trang bị cho sinh viên thực hiện việc đổi ngành mà không bị hụt hẫng.

Chương trình 4 năm đại học ở Mỹ

Kiến thức cơ bản bắt buộc (trong đó có những lớp bắt
buộc và những lớp tự chọn trong những ngành bắt buộc)
 

1/3 chương trình

680 giờ

Ngành chính

1/3 chương trình 

680 giờ

Phần bắt buộc học

1/6 chương trình

 

Phần tự chọn trong ngành chính

1/6 chương trình

 

Phần tự chọn trong các ngành khác, học sinh có thể lấy thêm một ngành chính khác, hoặc 1 ngành phụ và những lớp tự chọn thêm trong ngành chính

1/3 chương trình

660 giờ

Tổng

 

1380 giờ

5. Trong ngành học chính (như toán, vật lý, hoá học, kinh tế, tâm lý, văn chương, vv.), ngoài các lớp cơ bản phải học, học sinh cũng có quyền tự chọn các lớp trong ngành chính, ngược lại học sinh ở Việt Nam phải học tất cả mọi thứ mà nhà trường đã quyết định sẵn.

Trong ngành chính (major), chẳng hạn như kinh tế, phần bắt buộc học cũng chỉ khoảng 1/2. Học sinh sẽ tự chọn những môn trong ngành kinh tế mà họ thích. Thí dụ về kinh tế, học sinh bị đòi hỏi học những môn sau:

Chương trình bắt buộc trong ngành chính, như môn kinh tế ở Mỹ

Kinh tế vi mô nhập môn 

1

30

Kinh tế vĩ mô nhập môn

1

30

Toán calculus nhập môn

1

30

Thống kê cho ngành xã hội nhân văn

1

30

Kinh trắc học nhập môn

1

30

Kinh tế vi mô trung cấp

1

30

Kinh tế vĩ mô trung cấp

1

30

Tổng giờ học ngành chính bắt buộc

 

210

Giờ học ngành chính tự lựa chọn

 

270

Tổng giờ học trong ngành chính

 

480

6. Chương trình về chủ nghĩa Marx – Lenin, chính trị chủ nghĩa xã hội, lịch sử Đảng  chiếm 203 giờ, bằng 9% chương trình, quá nặng và cũng là lý do làm tăng số giờ giảng dậy lên tới 2184

So với tổng giờ học thì việc dạy chính trị Marx – Lenin bằng 9%, không phải là quá nhiều, nếu như đấy là triết học, chính trị học, luân lý, xã hội học và mỹ học duy nhất cần biết. Nhưng nếu học sinh cần được trang bị thêm về chính trị và triết học khác thì số giờ có thể cắt bớt. Nếu giả thử nhà nước không muốn cắt thì việc canh tân chương trình vẫn có thể thực hiện được.

Bốn năm đại học kinh tế ở Việt Nam (giờ)

Tổng 4 năm

2183

Kinh tế

1451

Chính trị

203

Ngoại ngữ

293

Toán, tin học

169

Môn khác

68

   

Tỷ lệ giờ học kinh tế

66%

Tỷ lệ giờ học chính trị

9%

Tỷ lệ giờ học ngoại ngữ

13%

Tỷ lệ giờ học môn khác

11%

7. Về chương trình canh tân

Do chương trình giảng dậy ở Việt Nam quá dài, vấn đề cắt bớt là cần thiết nhằm tạo thì giờ cho học sinh và thày giáo nghiên cứu và tự học. Chương trình cắt bớt này có thể giảm hoặc vẫn giữ nguyên giờ học về chủ nghĩa Marx – Lenin. Nếu áp dụng đúng số giờ ở Mỹ thì tổng giờ học sẽ là 1380, trong đó chỉ có 208 là môn học tự chọn (coi bảng sau). Nếu đưa tổng số giờ cho các môn tự chọn lên bằng ở Mỹ thì tổng số giờ học sẽ lên tới 1640 giờ, cũng chỉ hơn Mỹ 20%, như vậy là giảm được 25% so với hiện nay.

Thời gian theo mô hình Mỹ nhưng giữ nguyên thời gian dậy chính trị như hiện nay

 

Giờ học 4 năm

Chương trình cơ bản

480

Ngành chính (có thể là toán, vật lý, kinh tế,…)

480

Chủ nghĩa Marx – Lenin

200

Tự chọn

208

Tổng

1380

8. Khả năng canh tân chương trình ở Việt Nam

Khả năng canh tân chương trình ở Việt Nam hiện nay bị giới hạn bởi mô hình tổ chức đại học ở Việt Nam.

Trước tiên để hiểu những hạn chế gặp phải cần hiểu về những yếu kém của đại học Việt Nam, và do đó trước tiên cần biết qua về mô hình đại học Mỹ mà các nước trên thế giới hiện nay đang noi theo, kể cả đại học ở Pháp.
Đại học Mỹ có thể chia làm hai loại: university và college (hoặc có khi gọi là faculty). (Coi thêm phần Phụ lục). Thí dụ đại học Northwestern có nhiều trường (college) như:

• Trường khoa học tự nhiên và nhân văn (school of arts and science, đây là chữ thường dùng cho trường liberal arts như đã nói ở đoạn đầu, tức là gồm các ngành khoa học cơ bản như toán, vật lý, hoá học, và khoa học nhân văn như sử, kinh tế, chính trị, tâm lý, v.v.

• Trường thương mại (school of business)

• Trường sư phạm (school of education)

• Trường kỹ sư (school of engineering)

• Trường luật

• Trường y khoa

• Trường âm nhạc

• v.v.

Khi gọi là university thì đại học gồm các trường như trên cộng thêm với trường sau cử
nhân về khoa học tự nhiên và nhân văn (thường được gọi là graduate school of arts and science. Hầu hết các đại học gọi là university cấp thêm ít nhất là bằng cao học (MA) và thường là cấp cả bằng tiến sĩ (PhD). Các trường chỉ cho bằng cử nhân thì thường gọi là college.{4}

Trường college of arts and science chính là Trường khoa học tự nhiên và nhân văn, ở cấp cử nhân (BA). Các trường khác hiện nay được tổng hợp vào một đại học, nhưng trước kia được coi là trường chuyên nghiệp, nếu không nói là trường dậy nghề. Tuy nhiên, học sinh các trường chuyên nghiệp như vậy hiện nay cũng phải học chương trình kiến thức cơ bản, mặc dù có khi được châm chước giảm thiểu hơn một chút. Nhiều trường chuyên nghiệp chỉ có ở dạng sau cử nhân, tức là học sinh phải học xong Trường khoa học tự nhiên và nhân văn rồi mới được nhận vào: đây là trường luật, y khoa, và nhiều nơi là trường thương mại với chương trình MBA.

Với tổ chức như trên Trường khoa học tự nhiên và nhân văn là linh hồn của giáo dục đại học, vì ở đây có thể dễ dàng thực hiện chương trình kiến thức cơ bản, học sinh các ngành khác nhau có thể học chung và có thể lấy những lớp ở những trường hoặc phân khoa (ngành chính) khác trong cùng trường cho chương trình tự chọn không thuộc ngành chính.
Đại học Việt Nam hiện nay vẫn được tổ chức như là những ốc đảo, ốc đảo về tổ chức và ốc đảo về địa lý (theo nghĩa trường nhân văn ở một nơi, trường luật ở một nơi, trường khoa học tự nhiên (như toán, vật lý, hoá học, sinh học) ở một nơi khác). Khi đại học Việt Nam được tổ chức lại thành các đại học quốc gia như Đại học thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội thì việc tổ chức lại chỉ ở cái tên, với một lớp quản lý cao hơn ở phía trên, chương trình của đại học đã không tổng hợp lại, học sinh ở trường này không thể lấy lớp ở trường khác và địa dư khác biệt cũng làm cho việc lấy lớp khó khăn. Ốc đảo về tổ chức cũng không cho phép thày giáo kết hợp, trao đổi và nghiên cứu chung. Việc tổ chức ốc đảo này tiếp tục vì triết lý giáo dục tổng hợp không được thể hiện trong chương trình giảng dậy ở mỗi trường. Mới đây trường kinh tế rút ra khỏi trường đại học quốc gia thành một trường độc lập. Do đó việc học toán chẳng hạn ở những thày dậy kinh tế thì rõ ràng là học từ một người biết sơ về toán. Ngược lại muốn dạy về kinh tế môi trường mà không biết gì về hoá học hoặc nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc không có cơ hội giao lưu với những người ở những ngành này thì mục đích cũng chẳng khác gì nhằm tạo ra những người khiếm thị.

Dù với những trở ngại này, vẫn có thể canh tân chương trình nếu như lấy triết lý giáo dục đại học là đào tạo ra những người có kiến thức cơ bản.

9. Về một trường đại học chất lượng cao ở Việt Nam

Việc thảo luận về một trường đại học chất lượng cao đã được tiến hành ở nhiều nơi ở
Việt Nam. Chất lượng cao đòi hỏi một số điều kiện: (1) giáo viên được trả mức lương thoả đáng để họ không phải dậy thêm và do đó không được phép dậy thêm, (2) điều kiện về trường sở và phương tiện học từ thư viện, máy tính, phòng thí nghiệm phải đầy đủ, (3) số học sinh trên một giáo viên phải thấp, không quá 20, và tất nhiên là (4) sinh viên có trình độ tiếp thu. Nếu chỉ dựa vào điều (1) tới (3), dự toán về một đại học chất lượng cao với 2000 sinh viên sẽ là 5 triệu USD về đầu tư và chi phí hàng năm gần 2 triệu USD. Dự toán này dựa trên một số giả định sau:

• Lương bao gồm cả tiền hưu trí và bảo hiểm một giáo sư trung bình là $1.000/một tháng. Có người được trả thấp hơn và có người được trả cao hơn. Đây là dự toán thấp nhất để có thể thuê được một người dậy ra trường ở nước ngoài với bằng tiến sĩ.

• Số học sinh cao nhất là 20 trên một giáo sư.

Như vậy tính trung bình, tiền học phí hàng năm lên tới khoảng 1.000 $US để trang trải
chi phí thường xuyên. Nếu giảm số sinh viên xuống là 10 trên một giáo viên, học phí lên tới khoảng 2.000 $US một năm. Nhưng vấn đề quan trọng và khó khăn hơn cả trong cả hai trường hợp là khả năng tuyển dụng được 100 đến 200 giáo viên có trình độ tiến sĩ.

Dự toán về một đại học chất lượng cao

Dự kiến

   

Số học sinh

2.000

 

Giáo viên (1/20)

100

 

Lương tháng

1.000

 

Lương năm (USD)

1.200.000

 

Giá trị tài sản/chi phí hàng năm

2,59

 

 

Tài sản

Hệ số

USD

Đất và công trình xây dựng

0,67619

3.380.953

Máy móc và sách vở

0,28571

1.428.571

Tiền vốn lưu động để chi phí

0,03810

190.476

Tổng tài sản

1,00000

5.000.000

Chi phí hàng năm

   

Lương/hưu trí/bảo hiểm

0,62145

1.200.000

Dụng cụ văn phòng, sửa chữa

0,11467

221.429

Năng lượng

0,14427

278.571

Đi lại cho giáo sư

0,02836

54.762

Chi phí khác (hoạt động sinh viên)

0,09125

176.190

Tổng chi phí thường xuyên

1,00000

1.930.952

Phụ lục I: Đại học ở Mỹ

Hệ thống đại học Mỹ

Hiện nay hệ thống đại học Mỹ gồm có hơn 3000 trường, và có thể gồm các lọai khác
nhau như sau:

College (thường là college of liberal arts) và có thể dịch là trường đại học: theo chương trình 4 năm, dậy nhiều ngành về khoa học tự nhiên như tóan, vật lý, hóa học, sinh học, và khoa học nhân văn như tâm lý, chính trị, nhân chủng, xã hội, âm nhạc, mỹ thuật. Mỗi ngành được tổ chức thành một khoa (department). Học sinh khi ra trường nhận bằng cử nhân (Bachelor of Arts).

University, có thể dịch là viện đại học: gồm nhiều college (trường) như:

• Trường khoa học tự nhiên và nhân văn (school of arts and science, đây là chữ
thường dùng cho trường liberal arts như đã nói ở đoạn đầu, tức là gồm các ngành
khoa học cơ bản như toán, vật lý, hoá học, và khoa học nhân văn như sử, kinh tế,
chính trị, tâm lý, v.v.

• Trường thương mại (school of business)

• Trường sư phạm (school of education)

• Trường kỹ sư (school of engineering)

• Trường luật (law school)

• Trường y khoa (school of medicine)

• Trường âm nhạc (school of music)

• Trường nghệ thuật (school of arts)

• v.v.
Khi gọi là university thì đại học gồm các trường như trên cộng thêm với trường sau cử
nhân về khoa học tự nhiên và nhân văn (thường được gọi là graduate school of arts and science. Hầu hết các đại học gọi là university ít nhất có thêm chương trình học lấy bằng cao học (MA hay MS) và thường là cả bằng tiến sĩ (PhD hay DS). Các trường chỉ cấp bằng cử nhân thì thường gọi là college như đã nói ở trên.

Two year colleges: là những trường chỉ dậy 2 năm. Học sinh học xong được cấp Associate’s Degree, có thể ra đi làm hoặc chuyển ra trường college hoặc university để học tiếp.

Community colleges: cũng giống như trường hai năm, nhưng có sự khác biệt với trường hai năm là đây chúng là trường công trực thuộc quận hoặc thành phố quản lý.

Ở Mỹ, vào college of liberal arts (chương trình 4 năm) danh tiếng cũng khó như vào university danh tiếng. Các liberal arts colleges thường có duới 2000 sinh viên. Các bạn có thể coi về các college danh tiếng như Williams college, Amherst college, Swarthmore để thấy rằng vào đây cũng khó như vào Harvard, Yale, Columbia {5}.

Các đại học (university) có uy tín của Mỹ đều không có nhiều sinh viên, như:

• Đại học MIT có 4000 học sinh đại học (undergraduate students) và 6,000 học sinh sau cử nhân (graduate students) với 974 giáo sư, tức là 10 sinh viên 1 thày giáo.

• Harvard có 6000 sinh viên undergraduates và 12,000 graduates với 2000 thày giáo không kể thày giáo y khoa, túc là 9 sinh viên 1 thày giáo.

Các trường colleges lại càng ít sinh viên, như:

• Williams college ở bang Masschussets, với 2000 undergraduates, 271 thày giáo, tức là 7 sinh viên 1 thày giáo. Đây là trường chỉ chuyên dạy học sinh lấy bằng cử nhân (BA), nổi tiếng nhất Mỹ hiện nay, xin nhập học cũng khó như vào đại học Harvard. Trường này mỗi năm chỉ nhận 500 học sinh {6}.

Các đại học có đủ phương tiện và có thày giáo có khả năng lấy giải Nobel có thể lên tới 100.

Vấn đề kinh doanh đại học ở Mỹ

Giáo dục ở Mỹ về cơ bản là giáo dục công lập, dù tư nhân có thể mở trường kinh doanh. Số liệu sau cho thấy điều đó:

 

Lớp 1 đến lớp 8

Trung học (lớp 9 đến
lớp 12)

Đại học

Tổng số học sinh

38,4 triêu

14,8 triệu

15,3 triệu

Công

33,7 triệu (88%)

13,5 triệu (91%)

11,7 triệu (77%)

4, 7 triệu (12%)

1,3 triệu (9%)

3,6 triệu (23%)

Nguồn: US Census Bureau, Statitstical Abstract of the United States 2003.

Nhưng có thể khẳng định là hầu hết các đại học Mỹ, dù là công hay tư, đều không có mục đích kinh doanh, không có cổ phần viên hưởng lợi nhuận. Gọi là đại học công vì chúng nằm dưới sự quản lý về tài chính và nhận tiền tài trợ từ ngân sách tiểu bang hoặc thành phố. Gọi là đại học tư vì chúng không chịu sự quản lý của chính quyền về mặt tài chính.
Đại học tư hay đại học công đều có một hội đồng quản trị (thường gọi là board of trustees) có nhiệm vụ gây quĩ, theo dõi tài chính, đề ra phương hướng giáo dục và bổ nhiệm  hiệu trưởng. Ở đại học tư thì người trong hội đồng quản trị là do hội đồng quản trị đương nhiệm bổ nhiệm. Ở đại học công thì do thống đốc tiểu bang hoặc thị trưởng bổ nhiệm. Mỗi thành viên đều có nhiệm kỳ, thường là 5 năm, và tự giải nhiệm nếu không được bổ nhiệm lại. Trừ chủ tịch hội đồng là có lương khi làm việc toàn thời gian, các thành viên khác không có lương nhưng được trả chi phí tham dự các cuộc họp. Hội đồng quản trị thường bao gồm những thành phần sau: (i) những người có đóng góp lớn về tiền bạc cho trường và có uy tín để gây qũi cho trường; họ thường nhận được phần thưởng là tên trường, tên khoa, tên một tòa nhà hoặc một phòng học mang tên họ; (ii) các nhà doanh nhiệp có thể vừa cho tiền, vừa sẵn sàng nhận sinh viên khi ra trường; (iii) các nhà giáo dục và văn hóa có uy tín; (iv) các nhà chính trị về hưu có uy tín. Nói chung, họ là những người vừa có uy tín, vừa năng động hoặc thừa tiền sẵn sàng đóng góp vào việc xây dựng uy tín cho trường.

Về mặt luật pháp, các trường tư phần đông đều tổ chức thành những công ty vô vị lợi
(non-profit corporations)7 chịu sự kiểm tra của sở thuế và luật pháp và khi hội đủ điều
kiện về quá trình hoạt động được luật pháp chứng nhận là công ty vô vị lợi. Công ty vô vị lợi không phải trả thuế doanh thu trên học phí thu được và không trả thuế trên lợi nhuận công ty (tức là nếu thu nhập lớn hơn chi phí thường xuyên). Lợi nhuận công ty đương nhiên được giữ lại để đầu tư phát triển vì trường không có cổ phân viên. Cái lợi thứ hai cho công ty vô vị lợi nhưng có tầm quan trọng hơn cả là luật pháp Mỹ cho phép những người đóng góp vào công ty vô vị lợi được trừ phần đóng góp khỏi thu nhập chịu thuế.

Thí dụ một người làm $100,000 một năm chịu thuế 30% thì nếu đóng góp $50,000 họ chỉ phải đóng thuế trên $50,000 ở mức thuế thấp hơn, chẳng hạn 20%. Đây là phương cách hay chính sách “nhân dân và nhà nước cùng làm” ở Mỹ để phát huy hoạt động vô vị lợi.

Mới đây ở Mỹ, vai trò kinh doanh của trường có mở rộng hơn do sự phát triển của ngành sinh học mà một số trường muốn lấy quyền phát minh (patent) về các kết quả nghiên cứu trong trường và do trường tự đài thọ hoặc hợp tác với tư nhân8 để tạo thu từ việc cấp quyền sử dụng cho doanh nghiệp. Hoạt động này và những hoạt động tương tự bị coi là hoạt động kinh doanh, không thuộc về hoạt động giáo dục, theo luật Mỹ phải được tổ chức thành những công ty kinh doanh độc lập với trường và phải chịu thu nhập kinh doanh. Tuy nhiên nếu lợi nhuận đem đóng góp cho trường thì phần đóng góp này có thể trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế của công ty kinh doanh.

Tài chính đại học công từ học phí là 19%, từ chính quyền trung ương 11%, 36% từ chính quyền trung ương, phần còn lại 10% dựa vào đóng góp của người hảo tâm hoạc từ tài trợ nghiên cứu.9 Đại học tư dựa nhiều hơn vào học phí (42%) và đóng góp của giới hảo tâm (20%) và kinh doanh phụ (21%)10. Như vậy đại học tư không nhất thiết dựa vào học phí là chính. Nhiều trường tư danh tiếng chỉ dựa 40-50% vào học phí, phần còn lại là do thu nhập tạo ra từ việc đầu tư tài sản mà các nhà hảo tâm đóng góp cho trường và những đóng góp thường xuyên của các nhà hảo tâm, cựu sinh viên, và tiền tài trợ cho các công trình nghiên cứu của chính phủ hoặc hoạt động kinh doanh.

Dĩ nhiên ở Mỹ vẫn có những người lập ra đại học ở Mỹ để kinh doanh, có chủ sở hữu và lợi nhuận thuộc về sở hữu chủ nhưng những đại học này chỉ là những trường dậy nghề. Họ phải chịu đóng thuế doanh thu và thuế lợi tức và hầu hết không được công nhận là có tư cách đại học. Lại còn những đại học bán bằng tiến sĩ cho bất cứ ai. Những đại học này không nằm trong danh sách 4200 đại học (trong đó 2365 là đại học 4 năm hoặc caohơn)11 được công nhận là có tư cách đại học.

Tư cách đại học

Việc được công nhận tư cách đại học, hay nói đúng ra, được chứng nhận (assessed and accredited) là điều quan trọng cho sự sống còn của đại học. Tư cách đại học là do các Hội các Đại học ở Mỹ (Association of American Colleges and Universities), một tổ chức có hội viên là tất cả các đại học, gồm tất cả các đại học danh tiếng nhất, công nhận. Ngoài việc chứng nhận toàn chương trình học của cả trường, từng phân khoa cũng cần được chứng nhận. Việc chứng nhận dựa vào đánh giá của Hội về số học sinh trên một giáo sư, bằng cấp và công trình của giáo sư, chương trình học, phương tiện học tập và nghiên cứu như thư viện, phòng thí nghiệm, v.v. Hơn chục năm trước, phân khoa ngôn ngữ của trường danh tiếng bậc nhất như Đại học Columbia đã bị cảnh cáo rút chứng nhận nếu không nâng cao chương trình. Có thể coi là trường rởm nếu trường đó không được chứng nhận.

Quản lý nhà nước đối với đại học

Đại học Mỹ hoàn toàn tự quản và không chịu sự quản lý của chính phủ hoặc trung ương hay địa phương về chương trình giáo dục, nội dung giáo dục, bổ nhiệm giáo sư và tuyển sinh viên. Đối với trường công thì cấp tài trợ sẽ quản lý thông qua việc bổ nhiệm hội đồng quản trị. Bộ giáo dục và nhà nước trung ương hoàn toàn không có quyền quản lý với đại học.

Nhận sinh viên

Có một vài hệ thống viện đại học công (như ở Texas và University of California) nhận tất cả sinh viên tốt nghiệp từ hệ thống trường trung học tiểu bang nếu sinh viên này là thành phần 10% (Texas) và 12.5% (California) học sinh đứng đầu lớp. Nhận được vào trường nào trong hệ thống đại học có nhiều viện đại học như California, với mức độ danh tiếng khác nhau, còn tùy thuộc vào các yếu tố khác như điểm thi sát hạch (SAT), quá trình hoạt động ở trung học hay trong xã hội chứng tỏ tiềm năng lãnh đạo, v.v.
Nói chung, đại học Mỹ dựa vào các yếu tố sau để chọn học sinh: (i) điểm trung bình hai ba năm cuối trung học, (ii) các môn (khó) chọn học ở trung học; (iii) điểm thi sát hạch SAT về tiếng Anh, toán và hai chuyên môn; (iii) khả năng chuyên môn nổi trội như thể thao, âm nhạc, nghệ thuật; (iv) tiềm năng lãnh đạo như trong quá trình hoạt động ở trung học hay trong xã hội. Dĩ nhiên các trường danh tiếng ở miền Đông như Harvard, Yale, Princeton còn để ý đến yếu tố mà trước đây họ ghi thẳng ra, nhưng hiện nay được hiểu ngầm: đó là con cái nhà ai (nhà lãnh đạo chính trị, tài phiệt) không những ở Mỹ mà còn ở các nước khác.12 Chỉ học giỏi không thôi không là yếu tố đủ để được nhận vào đại học danh tiếng.

Mục tiêu của giáo dục đại học Mỹ

Bên Việt Nam thường mong muốn mục đích của đại học là đào tạo nhân tài. Thế nào là nhân tài? Nhân tài có thể hiểu đơn giản là người sáng kiến, có khả năng, năng động đóng góp thêm một bước quan trọng vào phát triển dù trong khoa học tự nhiên, nhân văn, thực nghiệm hay thuần lý, trong quản lý doanh nghiệp hay nhà nước, dù ở địa bàn địa phương, quốc gia hay quốc tế. Nếu mong muốn là đào tạo ra nhân tài theo nghĩa những người nổi trội và hiếm trong xã hội thì điều này có thể là quá mức, trường học khó lòng đào tạo ra nhân tài, nhưng đại học có thể trang bị cho học sinh kiến thức cơ bản, trang bị tinh thần phân tích độc lập, dám nghĩ, và biết nghĩ (nghĩ có phương pháp) để một học sinh có thể phát huy khả năng trở thành nhân tài.

Đại học Mỹ tỏ ra nhún nhường hơn nhiều trong mục đích của giáo dục bốn năm đại học, tức là không đặt vấn đề đào tạo nhân tài, nhưng mục đích họ phản ánh những điều nói ở trên. Một trường danh tiếng viết: “Mục đích của môi trường giáo dục và sinh hoạt sinh viên là đào tạo những cá nhân thành đạt và những công dân có trách nhiệm. Người tốt nghiệp cảm thấy tự tin trong việc tìm hiểu rộng rãi nhiều vấn đề và kinh nghiệm ở môi trường đại học hay ngoài đời, dù là học bất cứ ngành chuyên môn nào.” Chữ thành đạt (accomplished) có thể hiểu là có hiểu biết toàn về tri thức cơ bản do đó tự tin, được sửa soạn kỹ càng để tự tin vào đời và vào thị trường lao động (kiếm sống cũng như phát triển tri thức). Nhưng mục đích đào tạo thành những “công dân có trách nhiệm” (responsible citizens) thì quá rõ.

Trường đại học khoa học tự nhiên và nhân văn (liberal arts colleges)

Trường đại học này hoặc là độc lập hoặc nằm trong một viện đại học (university) chính là linh hồn của đại học Mỹ, là nơi mà mục tiêu đào tạo con người cá nhân của hệ thống đại học Mỹ được thực hiện.

Chương trình 4 năm của trường đại học khoa học tự nhiên và nhân văn (liberal arts
colleges) danh tiếng hoặc có tiếng không phải là dậy nghề mà là nhằm mục đích tạo ra những cá nhân thành đạt và công dân có trách nhiệm. Chính vì lý do này mà ở Mỹ trước khi vào học các trường chuyên nghiệp có tính nghề nghiệp như luật, y khoa, nha khoa, MBA, học sinh cũng phải qua bốn năm đại học để có được kiến thức cơ bản về tri thức và phương pháp phân tích. Vài ngành có thể đòi hỏi tới 5 năm học. Cũng có trường đi vào ngành nghề ngay như bằng về kế toán, …nhưng các trường đại học này cũng cố gắng trang bị cho học sinh có hiểu biết cơ bản tối thiểu.

Bằng cấp từ colleges of liberal arts có thể là bằng về nhiều chuyên ngành như: toán, sinh học, vật lý, hoá học, sử, văn học, tâm lý, chính trị, ngôn ngữ học, triết học, âm nhạc, v.v.

Nói chung, chương trình đại học 4 năm được tổ chức cơ bản như sau:

Bảng A. Chương trình học 4 năm đại học ở Mỹ

Kiến thức cơ bản bắt buộc (trong đó có những lớp bắt buộc và những
lớp tự chọn trong những ngành bắt buộc)

1/3 chương trình

Ngành chính

1/3 chương trình

Phần bắt buộc học

1/6 chương trình

Phần tự chọn trong ngành chính

1/6 chương trình

Phần tự chọn trong các ngành khác, học sinh có thể lấy thêm một
ngành chính khác, hoặc 1 ngành phụ và những lớp tự chọn thêm
trong ngành chính

1/3 chương trình

Trên cơ sở sơ đồ 45-46 tín chỉ cho 4 năm học theo mẫu hình đại học Northwestern University được trình bày ở bảng B. Mỗi tín chỉ tương đương với một lớp (chẳng hạn như nhập môn kinh tế vi mô –Introduction to Microeconomics), học 3 giờ một tuần,  trong 10 tuần, tức là tổng cộng 30 giờ theo chương trình 3 khóa một năm (quarter system) {13}.

Bảng B. Tổ chức và thời gian học để hoàn thành bằng BA (cử nhân)

  3 học kỳ một năm 2 học kỳ một năm
     

Học kỳ 1 

22/9 – 4/12 (10 tuần)

7/9 – 14/12 (14 tuần)

Học kỳ 2

3/1 – 12/3 (10 tuần)

17/1- 1/5 (14 tuần)

Học kỳ 3

29/3- ‘4/6 (10 tuần)

 
     

Số học kỳ/năm 

3

2

Số tín chỉ/Học kỳ

3.8

16

Số tín chỉ/năm

11.4

32

Số tín chỉ trong 4 năm

45.6

128

     

Số giờ 1 tín chỉ trong 1 tuần

3

0.75

Số tuần trong 1 Học kỳ 

10

14

Số giờ học cho một tín chỉ

30

10.5

Số giờ học trong năm

342

336

Số giờ học trong 4 năm

1368

1344

Tất cả mọi học sinh đều phải học các kiến thức cơ bản về những vấn đề sau:

• Seminar cho sinh viên năm đầu: lớp nhỏ khoảng 15-16 sinh viên, nhằm phát triển khả năng cơ bản của một trí thức: cách đọc phê phán, cách nghĩ logic, cách truyền thông hiệu quả thông qua phân tích một vài vấn đề cụ thể nào đó. Mỗi sinh viên phải viết một bài luận văn 15-20 trang, phân tích một vấn đề và trình bày trong lớp để lớp thảo luận: 2 tín chỉ.

Lớp viết luận văn có tính nghiên cứu: huấn luyện sinh viên đặt vấn đề, tìm tài liệu,
bố cục bài, phát triển logic, viết ghi chú, v.v. 2 tín chỉ.

• Ngoại ngữ: Đòi hỏi học thêm ngoại ngữ nếu không thi đạt trình độ nhất định,
hoặc 6 tín chỉ.

• Nhóm các vấn đề phải học: Học sinh phải học mỗi khu vực ít nhất một lớp (1 tín
chỉ), ngành chính học ít nhất 6 tín chỉ:

Khoa học tự nhiên: vật lý, hoá học, sinh học, thiên văn học, v.v

Khoa học phương pháp: toán, thống kê, tin học, luận lý

Khoa học xã hội: xã hội học, tâm lý học, kinh tế, văn hoá, chính trị,..

Sử học: nhiều trường đòi hỏi sinh viên học văn minh tây phương bao gồm cổ sử
Hy La, lịch sử nước Mỹ,

Giá trị học: đạo lý học, tôn giáo và giá trị xã hội khác

Văn chương và nghệ thuật: văn học, âm nhạc, mỹ thuật

Ngành chọn chính: Ít nhất 1/3 số tín chỉ phải chọn trong ngành chính (major)

• Luận văn ra trường về ngành chính. Luận văn này viết thông qua một tín chỉ học độc lập (Independent study). Các trường hàng đầu của Mỹ bắt buộc viết luận văn ra trường này, các trường khác thì không.

Có thể nói chương trình đại học 4 năm cử nhân ở Mỹ đặt nặng kiến thức cơ bản và trong ngành chính cũng đặt nặng kiến thức cơ bản của ngành chính, còn thì học sinh được tự chọn những môn học có tính ứng dụng thích hợp mà trường và khoa cho phép.
Vấn đề bằng cấp và đòi hỏi Bachelor of Arts (BA): Mục đích của chương trình 4 năm nhằm cấp bằng cử nhân là tạo cho học sinh có khả năng phân tích, đánh giá vấn đề, có đầu óc phán đoán khoa học, được mở mắt ra nhiều vấn đề tri thức nhằm có tri thức cơ bản. Mục đích của chương trình không phải là nhằm trang bị cho học sinh thành những nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, mặc dù cũng được thực tập qua các phương pháp nghiên cứu. Ngoài bằng BA cũng có bằng BS (Bachelor of Science) cấp cho học sinh xong chương trình học về kỹ sư hoặc khoa học máy tính (computer science). Trước đây các chương trình kỹ sư có tính dậy nghề nhưng hiện nay cũng đòi hỏi học các kiến thức cơ bản.

Master of Arts (MA): Đây là bằng cho chương trình học hai năm sau cử nhân (BA).

Chương trình này nhằm cung cấp cho sinh viên có kiến thức chuyên nghiệp, chuyên sâu hoặc có tính nghề nghiệp nhằm phục vụ thị trường lao động. Các môn học thường cũng giống như ở chương trình đại học bốn năm nhưng chuyên sâu hơn. Các trường thường cho phép học sinh chọn hai cách: (i) thi tốt nhiệp ra trường; (ii) viết luận án ra trường.
Luận án không đòi hỏi phải trình bày điều gì mới nhưng đòi hỏi nắm vững phương pháp nghiên cứu và vấn đề nghiên cứu. Tương đương với BS ở mức cao hơn là MS. Doctor of Philosophy (PhD): Mục đích của chương trình này là đào tạo ra những nhà khoa học có khả năng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp. Chương trình đòi hỏi học
thêm trong lớp 1 năm rưỡi hoặc hai năm nữa sau MA. Học sinh có thể được nhận thẳng vào chương trình PhD mà không cần có bằng MA, nhưng cũng cần 31/2 hay 4 năm lấy lớp. Sau hai năm học các lớp thuộc chương trình MA, học sinh vào chương trình này đã có thể chọn giáo sư chính hướng dẫn làm luận án, có thể có ý hướng về đề tài muốn làm, và do đó giáo sư hướng dẫn có thể vạch ra những môn mà học sinh cần học thêm để có thể làm luận án (chẳng hạn như một môn toán đặc biệt nào đó) và phải lấy các lớp seminar về một vấn đề chuyên biệt trong đó học sinh trình bày vấn đề của mình hoặc nghe các giáo sư hoặc các sinh viên khác trình bày. Số tín chỉ và số giờ học hoàn thành có tính bắt buộc. Để trở thành candidates (ứng viên), học sinh phải qua bốn kỳ thi sát hạch, chẳng hạn như trong ngành kinh tế, học sinh phải qua sát hạch về kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô, và hai chuyên môn khác như toán kinh tế, kinh trắc học, tài chính nhà nước, thương mại quốc tế, v.v. Đây là sát hạch về kiến thức cơ bản và kiến thức mới nhất trong ngành chuyên môn, đòi hỏi quan trọng trước khi ứng viên có thể bắt tay vào viết.

Có thể nói người hoàn thành được PhD (hay Doctor of Science trong ngành kỹ sư) là
người có tri thức toàn diện, sâu và mới nhất trong chuyên môn mà họ muốn làm nghiên cứu, trên nguyên tắc là phải đọc tất cả các công trình đáng đọc được hoàn thành trên toàn thế giới. Nếu là về lý thuyết thì ứng viên phải đưa đến điểm gì mới, dù quan trọng hay không quan trọng, dù là qui luật hay phương pháp mới; nếu là ứng dụng thì ứng viên cũng phải ứng dụng vào điều gì, hoặc lãnh vực mới hoặc sử dụng phương pháp mới để lật ngược hoặc bổ túc những phạm vi đã được nghiên cứu. Kết quả của nghiên cứu có thể chẳng có gì là quan trọng, nhưng nó phải chứng tỏ là ứng viên có khả năng nghiên cứu khoa học độc lập và biết sử dụng các phương pháp khoa học, xử lý phân tích vấn đề một cách khoa học. [Xem xét dưới khía cạnh phải có tri thức về những thành quả mới nhất trong chuyên môn thì Việt Nam hiện nay chưa thể ở giai đoạn có thể cấp bằng PhD về kinh tế].
Để hiểu rõ về mục đích nghiên cứu của người có PhD, ta cũng nên biết qua về bằng MD (Doctor of Medicine) tức là bằng bác sĩ. Đây là bằng nghề nghiệp. Dù họ phải học xong BA, sau đó học thêm 4 năm trường thuốc và 2 năm thực tập nhưng mục đích là để làm nghề bác sĩ chữa bệnh. Họ không được huấn luyện thành nhà nghiên cứu. Nếu muốn trở thành nhà nghiên cứu về y khoa, người có MD phải học lấy MA và sau đó là PhD.
Tương tự như vậy bằng luật, thường được gọi là JD (Juris Doctor), tc là bng lut hc 3 năm sau khi hc xong BA. Đây cng ch là bng ngh nghip, hc sinh sau khi ly bng này có th ra thi ly bng hành ngh lut s. Mun đi vào nghiên cu hc sinh s ly bng tng đng vi MA là bng MSL (Master of Law) sau 4 năm đại học, và sau đó là bằng DSJ (Doctor of the Science of Law) tương đương với PhD. Các trng lut cng m chng trình MSL cho ngi có bng lut nc ngoài, chng trình thng ch có mt năm, có tính cách giúp ngi nc ngoài hiu bit v lut M, thng có tính cách hu ngh, không th coi tng đng vi chng trình MSL bình thng cho sinh viên M.

Phụ lục II. Chương trình đại học 4 năm ngành kinh tế ở Việt Nam

Ở Việt Nam, tiết gồm 45 phút học. Chương trình sau đây là chương trình kinh tế 4 năm đại học ở Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh14. Tất cả các lớp đều có tính bắt buộc.

 

2 năm đầu

Tiết

Tiết

Giờ

1

Lịch sử các học thuyết kinh tế

45

   
 

Quản trị học

45

   
 

Kinh tế vi mô

60

   
 

Kinh tế vĩ mô

60

   
 

Xác suất thống kê

60

   
 

Kế toán

60

   
 

Địa lý kinh tế

45

   
 

Quy hoạch tuyến tính

60

   
 

Marketing căn bản

45

   
 

Kinh tế công cộng

30

   
 

Kinh tế phát triển

30

   
 

Dân số học

30

   
 

Luật kinh tế

60

   

 

Tổng lớp kinh tế 

 

630

473

2

Triết học Marx -Lenine

75

   
 

Kinh tế chính trị (i)

45

   
 

Kinh tế chính trị (ii)

30

   

 

Tổng lớp chính trị

 

150

113

 

Đại số tuyến tính

45

   
 

Giải tích

60

   
 

Tin học căn bản

60

   

 

Tổng lớp toán, tin học

 

165

124

         

3

Ngoại ngữ (i)

120

   
 

Ngoại ngữ (ii)

150

   

 

Tổng ngọai ngữ 

 

270

203

         

4

Lịch sử triết học

30

   
 

Logic học

30

   
 

Tâm lý học

30

   
 

Tổng các môn khác

 

90

68

         
 

Tổng hai năm đầu

 

1305

979

 

 

     

 

2 năm cuối

Tiết

Tiết

Giờ

1

Lịch sử kinh tế quốc dân Việt Nam

45

   
 

Kinh tế quốc tế (i)

45

   
 

Lý thuyết thống kê

60

   
 

Lý thuyết tài chính tiền tệ

75

   
 

Kinh tế vi mô (ii)

60

   
 

Phân tích lợi ích và chi phí

45

   
 

Kinh tế các nước châu Á TBD

45

   
 

Kinh tế lao động

45

   
 

Kinh tế quốc tế (ii)

45

   
 

Dự báo

60

   
 

Kinh tế vĩ mô (ii)

60

   
 

Kinh tế phát triển

45

   
 

Kinh tế nông nghiệp

45

   
 

Kinh tế tài nguyên và môi trường

45

   
 

Phân tích kinh tế dự án

45

   
 

Kinh tế Việt Nam

30

   
 

Kinh tế công cộng

45

   
 

Tài chính quốc tế

45

   
 

Kế hoạch hoá và chính sách kinh tế

45

   
 

Chính sách thương mại và công nghiệp

45

   
 

Hạch toán quốc gia

45

   
 

Tiền tệ và ngân hàng

45

   
 

Mô hình hoá

45

   
 

Thị trường chứng khoán

45

   
 

Làm luận văn
Báo cáo hoặc thi

150

   

 

Tổng kinh tế 

 

1305

979

2

Lịch sử Đảng

60

   
 

Chủ nghĩa xã hội khoa học

60

   

 

Tổng chính trị 

 

120

90

3

Ngoại ngữ (i)

60

   
 

Ngoại ngữ (ii)

60

   
 

Tổng ngoại ngữ 

 

120

90

4

Tin học quản lý 

60

60

45

 

Tổng hai năm sau 

 

1605

1204

 

Tổng 4 năm

 

2910

2183

 

Kinh tế

 

1935

1451

 

Chính trị

 

270

203

 

Ngoại ngữ

 

390

293

 

Toán, tin học

 

225

169

 

Môn khác

 

90

68

 

 

 

 

 

 

Tỷ lệ giờ học kinh tế

 

 

66%

 

Tỷ lệ giờ học chính trị

 

 

9%

 

Tỷ lệ giờ học ngoại ngữ

 

 

13%

 

Tỷ lệ giờ học môn khác

 

 

11%

 

CHÚ THÍCH:

1 Tốt nghiệp PhD về kinh tế năm 1980 tại New York University, hiện nay là vụ trưởng Vụ Tài khoản Quốc gia, Cục Thống kê Liên Hợp Quốc. Tác giả cám ơn các bạn Trần Vân Mai, Hoàng Thái Việt, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Hoàng, Bùi Trọng Liễu và Nguyễn Hoài Bảo đã có góp ý với bài viết này. Sai lầm trong bài tất nhiên là từ phía người viết.

2 Hệ thống tín chỉ ở Mỹ tại các trường không giống nhau. Đây là thí dụ ở một trường. Coi thêm giải thích ở Phụ lục I.
3 Việc học sinh ở một khoa hoặc một trường tự chọn lớp ở một khoa khác hoặc một trường khác phải nằm trong khuôn khổ soạn sẵn mà khoa hoặc trường cho là tương đương, nếu không học sinh phải xin phép đặc biệt của khoa mà học sinh học nhằm công nhận sự tương đương. Điều này cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng của lớp học.

4 Ở Mỹ, vào college danh tiếng cũng khó như vào university danh tiếng. Các liberal arts college thường có duới 2000 sinh viên. Các bạn có thể coi về các college danh tiếng như Williams college, Amherst college, Swarthmore để thấy rằng vào đây cũng khó như vào Harvard, Yale, Columbia, .. Có thể coi trên http://www.usnews.com/usnews/edu/college/rankings/rankindex_brief.phpddee

5 Có thể coi trên http://www.usnews.com/usnews/edu/college/rankings/rankindex_brief.phpddee
6 Ở Mỹ, vào college danh tiếng cũng khó như vào university danh tiếng. Các liberal arts college thường có duới 2000 sinh viên. Các bạn có thể coi về các college danh tiếng như Williams college, Amherst college, Swarthmore để thấy rằng vào đây cũng khó như vào Harvard, Yale, Columbia, … Có thể coi trên http://www.usnews.com/usnews/edu/college/rankings/rankindex_brief.phpddee

7 Vũ Quang Việt và Ngô Thanh Nhàn, “Thử tìm hiểu khía cạnh kinh tế của hoạt động nghệ thuật và giáo dục và vai trò của các hoạt động vô vị lợi trong một nền kinh tế thị trường”, đã in ở Diễn Đàn (Paris), in lại trong Kinh Tế Việt Nam Trên Đường Phát Triển, 1997, Vũ Quang Việt, NXB TP Hồ Chí Minh.
8 Đối với, tất cả những nghiên cứu do nhà nước đài thọ, bằng sáng chế thuộc về nhà nước do đó thường mở rộng cho mọi người sử dụng mà không mất tiền.
9 Số liệu 2000, theo Statistical Abstract of the United States 2003, US Census Bureau.
10 Digest of Educational Statistic, 2002., National Center of Education.

11 Coi trên, sđd.

12 Tại sao họ làm thế? Đơn giản là họ muốn tạo ra những là lãnh đạo, cơ sở của nguồn tài chính và sự ủng hộ dài lâu cho trường do đó họ học sinh của họ cũng cần có những mối quan hệ rộng rãi có tính tòan cầu.

13 Các đại học khác như University of California at Berkeley, cũng theo chương trình 3 khóa một năm, nhưng lại chia tổng số tín chỉ cần có lên tới 180, như vậy một tín chỉ ở đại học Northwestern tương đương với 4 tín chỉ ở UC Berkeley. Các đại học theo hệ hai học kỳ một năm thì lại có hệ thống tín chỉ khác. Như New York University đòi hỏi 128 tín chỉ mới có thể ra trường (coi cột hai ở bảng B). Nói chung, hệ thống tín chỉ ở Mỹ không giống nhau và cần phải chuyển đổi dựa trên tổng giờ học hoặc các lớp có nội dung tương đương.

14 Chương trình này do anh Nguyễn Hoài Bảo đã tốt nghiệp từ Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp.

SOURCE: HỘI THẢO “TIẾP TỤC ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ XÃ HỘI ĐỂ PHÁT TRIỂN” – ĐÀ NẴNG THÁNG 7/2005

Trích dẫn từ: http://viet-studies.info

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: