MỘT SỐ KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG TRẺ EM

THS. NGUYỄN QUỐC HUY

Như chúng ta đã biết, trẻ em chính là tương lai của một quốc gia, một dân tộc. Trẻ em có quyền học tập, vui chơi, giải trí, lao động trong khuôn khổ cho phép nhằm phát triển cơ thể, tinh thần, và đạo đức xã hội. Theo truyền thống của người Việt Nam, một công việc phù hợp sẽ giúp trẻ phát triển nhân cách, giúp đỡ gia đình, và đóng góp cho cộng đồng nơi trẻ đang sống. Ở khu vực nông thôn, do đặc tính thời vụ của việc sản xuất nông nghiệp và điều kiện làm việc của kinh tế hộ gia đình, trẻ em tham gia làm nhiều việc như chăn trâu, cắt cỏ, cho gà ăn, trông nom em bé, và nấu ăn. Trong những gia đình có nghề thủ công truyền thống, trẻ em tham gia làm việc để lưu truyền và nâng cao truyền thống gia đình và thôn bản.

Tuy nhiên, những người tuyển dụng thích trẻ em hơn người lớn vì trẻ em có ít quyền hơn người lớn. Ngoài ra, do trẻ em là một đối tượng lao động khá dễ dàng trong việc chấp nhận những điều kiện lao động nguy hiểm, nhận lương bổng thấp, lao động quá giờ và không hay phản đối, nên hiện tượng lao động trẻ em khá phổ biến ở một số quốc gia, cả phát triển và đang phát triển. Ví dụ, các ông chủ người Indonesia làm Jermal (một kỹ thuật bắt cá bao gồm cả việc đặt bẫy trong các lưới đánh cá) thích thuê trẻ em vì trẻ em sẳn sàng làm dài giờ và dễ sai khiến [1]. Theo thống kê của ILO, vào năm 1995, có khoảng 250 triệu trẻ em trong độ tuổi 5-14 đang làm việc, trong đó 120 triệu trẻ em làm việc tòan thời gian và bị trả lương thấp. Trong số này, 60% ở Châu Á, 32% ở Phi Châu và 7% ở Châu Mỹ Latin. Rất nhiều trẻ em trong số đó phải làm việc hơn 10 giờ trong 1 ngày và trong những điều kiện làm việc nguy hiểm và không vệ sinh như trong các hầm mỏ, hay xưởng làm thuốc pháo và diêm quẹt. Trẻ em phải tham gia vào những hình thức công việc nguy hiểm nhất thường sẽ bị tổn thương về mặt tinh thần và thể chất trong giai đoạn phát triển non trẻ nhưng quan trọng này, và thường để lại những hậu quả lâu dài. Trẻ phải làm những công việc này càng lâu, càng khó để đi học vì bị trễ học nhiều năm hoặc không còn thời gian để đi học. Trẻ em lao động dẫn đến khả năng trẻ em lớn lên không được giáo dục và thiếu những kỹ năng cần thiết để hòan thành những công việc có lương cao. Ví dụ, khoảng 140 triệu trẻ em trong độ tuổi 6-11 không đi học, 23% trẻ em trong độ tuổi cấp 1 ở các quốc gia đang phát triển không đến trường [2]. Một nghiên cứu của ILO cho thấy khoảng 45% trẻ em ở Ghana, India, Indonesia và Senegal trong độ tuổi 5-11 đang được tuyển dụng và 33% số trẻ em này không đi học vì lý do tài chính [3]. Những trẻ em này sẽ bị chai sạn về tâm hồn và dễ dàng trở thành tội phạm khi trưởng thành. Do những lí do trên, việc xóa bỏ lao động trẻ em là một vấn đề bức xúc của xã hội ở cả những nước đang phát triển và phát triển.

Vấn đề lao động trẻ em đã tồn tại từ lâu trên thế giới. Đây là trích đọan một cuộc phỏng vấn một trẻ em lao động:

Q: ”Em làm việc trong thời gian nào em có nhớ không?”

A: “Em làm việc trong mùa hè. Ở đó rất là thiếu nước”

Q: ”Em làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày?”

A: “Chúng em bắt đầu từ 4 giờ sáng mỗi ngày và làm đến 10-11 giờ đêm cho tới khi nào chúng em vẫn còn đúng vững trên đôi chân”

Q:”Em hầu như không thể làm như thể suốt được?

A:”Chúng em thường xuyên bị ngủ gục”

Đọan phỏng vấn này do Ủy ban nghị viện Anh thực hiện vào năm 1832 tại Anh Quốc, và người được phỏng vấn là Peter Smart, một lao động trẻ em từ lúc 5 tuổi [4]

Số liệu thống kê của Anh quốc cho thấy tỉ lệ trẻ em lao động rất cao vào đầu và giữa thế kỉ 19. Và những nỗ lực được đưa ra nhằm ngăn chặn và xóa bỏ lao động trẻ em được thực hiện từ rất sớm, tuy nhiên vẫn không hòan toàn thành công. Những nỗ lực ban đầu để xóa bỏ lao động trẻ em dựa vào những quan niệm giá trị đạo đức, những giá trị mà sau đó nhanh chóng bị xóa bỏ bởi động lực kinh tế và thực tế khó khăn của cuộc sống. Trẻ em khi đó là đối tượng của những mối quan tâm có tính nhân đạo và nhân bản nhưng lại không có những quyền lợi như người lớn.

Hiện nay, việc xóa bỏ lao động trẻ em được thực hiện theo nhiều cách, nhiều kiểu khác nhau ở các quốc gia trên thế giới. Ở mỗi nước, mỗi vùng sẽ có những giải pháp riêng cho mình và được áp dụng tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của những quốc gia hay vùng đó. Có rất nhiều chương trình đã được áp dụng ở các quốc gia khác nhau nhằm loại bỏ lao động trẻ em, đặc biệt là những lao động đang phải tham gia vào những công việc nguy hiểm. Những ví dụ sau đây sẽ minh họa cho điều này:

Ở Ấn độ có phong trào chống lao động trẻ em mang tên Rugmark. Mục tiêu của phong trào này là tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng đối với vấn đề lao động trẻ em. Mỗi sản phẩm làm ra sẽ được dán nhãn của Rugmark để bảo đảm với người tiêu dùng rằng trong quá trình sản xuất sản phẩm đã không dùng lao động trẻ em. Với sự hỗ trợ của những phong trào như Rugmark, đó chính là một thông điệp rõ ràng đối với những công ty dựa vào lao động trẻ em: không những người tiêu dùng được thông tin về sản phẩm, mà họ còn từ chối mua những sản phẩm có sử dụng lao động trẻ em.

Ở Nam Mỹ, có một phong trào tên Tierra del Vido. Là một chi nhánh của Swiss Charity Sentinelles, đây là một chương trình cung cấp những công việc thay cho những công việc trong các hầm mỏ. Trẻ em vẫn tiếp tục làm việc, nhưng sẽ làm việc ở ngoài trời, trồng cây và rau quả. Những sản phẩm này sau đó sẽ được cung cấp cho trẻ em bị đói. Trẻ em lao động sẽ có đủ thời gian tham gia các lớp học buổi tối. Mặc dù được trả thấp hơn mức lương công việc trong hầm mỏ, chương trình này đã rất thành công và hiện nay có nhiều trẻ em tham gia (McCarthy, t.13).

Tanzania: Gia tăng sự hiểu biết và huy động lực lượng xã hội để ngăn cản trẻ làm việc nhà như nô lệ [5]

Bối cảnh: Khu vực nông thôn của vùng Iringa ở tây nam Tanzania có tỉ lệ cao số người nghèo đói với những gia đình đông con và thiếu giáo dục. Những yếu tố này đã đẩy nhiều trẻ em đi làm, đặc biệt lao động phụ việc nhà của các trẻ em gái. Người ta ước lượng có khoảng 40-50 % số người phụ việc nhà làm việc trong những điều kiện nguy hiểm và bóc lột trong các trung tâm đô thị lớn là những trẻ em gái trong độ tuổi 10-15, được tuyển dụng từ những khu làng trong vùng Iringa, đặc biệt là vùng Kiponzelo, Tanzangozi, Illula, Izazi và Migoli. Những đứa trẻ thoát khỏi công việc nhà thường phải kết thúc trong những công việc còn nguy hiểm hơn như tại các khu khai thác đá.

Mục tiêu của chương trình: với sự hỗ trợ của IPEC, tổ chức Conservation, Hotels, Domestic and Allied Workers Union (CHODAWU), một nhánh của liên đoàn thuơng mại Tanzania, đã đề nghị và đang thực hiện các hoạt động có tính chiến lược nhắm đến cung cấp cho trẻ em và gia đình trong 5 khu vực được ưu tiên những sự chọn lựa khác thay cho đi làm. Tổ chức này cũng hướng đến gia tăng năng lực của cộng đồng trong việc nhận dạng, giám sát và ngăn cản việc tuyển dụng trẻ em.

Tiến trình: gia tăng sự hiểu biết của cộng đồng và huy động lực lượng xã hội được chọn là cách tiếp cận đầu tiên để khêu gợi tấm lòng của các bậc cha mẹ, quan chức chính quyền làng xã, giáo viên, các nhóm phụ nữ và những lãnh đạo tôn giáo về những tác động có hại của lao động việc nhà. Chiến dịch này được thực hiện thông qua các chương trình radio, hội thảo, báo chí,và tờ bướm quảng cáo ở Kiswahili cũng như thông qua các cuộc gặp mặt quần chúng về vấn đề lao động trẻ em. ủy ban về lao động trẻ em được thành lập và cung cấp các khóa huấn luyện và định hướng về nhận dạng vấn đề lao động trẻ em trong cộng đồng, bao gồm nhận dạng và áp dụng của luật pháp, làm thế nào để thực hiện các cuộc điều tra về lao động trẻ em v…Người ta cũng nhận thấy trước rằng một khi cộng đồng đã hiểu và cảm thông với nhu cầu ngăn cản lao động trẻ em, tự bản thân họ sẽ nhận dạng và thực hiện những giải pháp thực tế, với sự hỗ trợ của liên đoàn thương mại.

Chính quyền địa phương và ủy ban lao động trẻ em nhận diện được khoảng 200 hộ gia đình trong các khu làng, và những gia đình ngày hưởng những lợi ích của chương trình bao gồm cung cấp nguồn tài chính xoay vòng để họ có thể thực hiện những họat động tạo thu nhập qui mô nhỏ. Ba mẹ từ những gia đình này được cung cấp những khóa huấn huyện về kĩ năng quản lý, bao gồm họach định kế hoạch kinh doanh, quản lý kinh doanh, quảng cáo, quản lý thu chi và phân tích chi phí.

Cho đến nay, khoảng 100 hộ gia đình nghèo đã bắt đầu hoạt động kinh doanh, bao gồm mở các quầy hàng buôn bán nhỏ, kiosk kinh doanh tổng hợp, dịch vụ chăm sóc vườn và làm vườn, mở các quán trà và ăn nhẹ, kinh doanh quần áo cũ… Điều kiện sống của những gia đình này đã cải thiện đáng kể và trẻ em của những gia đình này đã được đi học thay vì phải đi làm.

Hoạt động của quỹ xoay vòng như sau: liên đòan thương mại mở một tài khoản ngân hàng tại vùng Iringa. Sau khi chính quyền làng xã và ủy ban trẻ em nhận dạng được những gia đình cần được giúp đỡ, tiền sẽ được cung cấp đến một nhóm gồm 5 gia đình. Sau khi kinh doanh thành công trong 3 tháng, nhóm này sẽ bắt đầu trả dần tiền lại vào ngân hàng thông qua chính quyền làng xã và dưới sự giám sát của liên đoàn thuơng mại. Người ta dự tính rằng, sau khi thu hồi vốn, một liên minh tiết kiệm và tín dụng giữa các gia đình nghèo sẽ được thành lập trong mỗi làng. Người ra cũng dự đoán rằng khi cộng đồng đó ngày càng phát triển, cơ cấu thể chế trong làng sẽ đóng vai trò hình thành những quy định riêng trong khu làng đó, hạn chế việc tuyển dụng lao động trẻ em và giám sát việc đi học cấp tiểu học. Người ta cũng hi vọng với sự gia tăng hiểu biết của cộng đồng sẽ dẫn đến việc nhận dạng và đưa được khoảng 800 trẻ em ra khỏi công việc và cung cấp những sự chọn lựa thích hợp khác, bao gồm đi học lại và huấn luyện tay nghề.

Kết quả đạt được và các thách thức:

· Khoảng 512 trẻ em đựoc đưa ra khỏi công việc và được cung cấp huấn luyện tay nghề hay đi học lại. Mục tiêu đưa 800 trẻ em ra khỏi công việc là hoàn toàn khả thi

· Thành lập ủy ban lao động trẻ em trong 5 khu làng nói trên, bao gồm giáo viên, ba mẹ, lãnh đạo cộng đồng và tôn giáo.

· Khoảng 250 lãnh đạo cộng đồng được cung cấp sự hiểu biết về tác động tiêu cực của lao động trẻ em và những yêu cầu có những hành động tức thời nhằm ngăn cản lao động trẻ em trong các gia đình.

· Nhận dạng được khoảng 200 hộ gia đình nghèo để thực hiện các họat động tạo thu nhập thông qua tổ tín dụng xoay vòng. Khoảng 100 hộ đã bắt đầu các hoạt động tạo thu nhập. điều kiện sống đã được cải thiện và trẻ em của những gia đình này đã được đi học thay vì phải đi làm.

· Đưa được 192 trẻ em ra khỏi công việc từ các khu đô thị và thu xếp cho các em trở về nhà và đi học lại.

· Khoảng 217 trẻ em nữ được hỗ trợ đồng phục và trả tiền học phí để giúp các em đến trường.

· Giám sát các hành động của ủy ban trẻ em để xác định phạm vi của các hành động can thiệp, bao gồm cả những qui định được hình thành ở cấp độ làng xã.

· Tỉ lệ tuyển dụng lao động trong 5 khu làng trên trong các đô thị giảm từ 454 xuống còn 262 sau 8 tháng hoạt động. Do những qui định trong làng ngăn cấm việc tuyển dụng lao động trẻ em, các bậc ba mẹ hiện nay phải chịu trách nhiệm về con em của họ, và đảm bảo rằng con em của mình đang đi học.

· Các bậc cha mẹ cũng được thông báo về cách đối xử của những người tuyển dụng đối với con em mình và về những sự bóc lột và lợi dụng mà các em phải gánh chịu.

Các bài học:

· Dự án đã tăng cường khả năng và thành lập hệ thống người tham gia ở cấp thấp nhất

· Dự án có thể được nhân rộng bởi vì nó khiến cộng động ở cấp thấp nhất chịu trách nhiệm hơn và ít chi phí. Dự án cũng xác định được nguyên nhân chính của lao động trẻ em: sự nghèo đói.

· Các tài liệu khuyến cáo và phổ biến kiến thức có hiệu quả nhất khi được in và phân phối theo tiếng địa phương.

· Đòi hỏi nhiều chiến lược hơn cho nâng cao năng lực, bắt đầu bằng sự gia tăng sự hiểu biết mạnh mẽ hơn.

Bangladesh: hợp tác đa phương để xóa bỏ lao động trẻ em trong ngành công nghiệp may xuất khẩu [6]

Bối cảnh: ngành công nghiệp may ở ấn độ có tốc độ tăng trưởng rất cao, từ ít hơn 50 xí nghiệp vào năm 1983 lên đến hơn 2800 vào năm 1999. trong cùng thời gian đó, số lượng công nhân gia tăng từ 10.000 người lên 1,5 triệu, trong đó 80% là công nhân nữ. trong cùng thời gian đó, giá trị xuất khẩu tăng từ 31 triệu USD lên 4.02 tỉ USD, chiếm 66% xuất khẩu quốc gia, 43% giá trị xuất vào thị trường Mỹ.

Sự lo ngại về số lượng trẻ em lao động gia tăng trong ngành công nghiệp này dẫn đến sự ra đời của đạo luật Harkin vào năm 1993. Đạo luật này kêu gọi sự ngăn cản ngay lập tức việc nhập khẩu những hàng hóa được sản xuất bởi lao động trẻ em, kể cả từng phần hay toàn bộ. Đạo luật này đã gây ra một cú sốc cho ngành công nghiệp may. Các chủ xí nghiệp trong một nỗ lực tránh cho họ bị phạt đã sa thải hàng loạt lao động trẻ em.

Mục tiêu: vào tháng 10 năm 1994, ILO và UNCEF nhận một bức thư của 53 trẻ em Bangladesh. Để trả lời, ILO, UNICEF và nhiều tổ chức phi chính phủ đã kêu gọi BGMEA (Bangladesh Garment Manufacturers and Exporters Association) không sa thải lao động trẻ em cho đến khi hệ thống trường học và các biện pháp an sinh xã hội khác được xây dựng. Các cuộc thương thảo giữa các bên có liên quan đã dẩn đến một biên bản ghi nhớ được kí vào tháng 7 năm 1995 giữa giới BGMEA, ILO và UNICEF. Chính phủ của Bangladesh, Đại sứ quán Hoa Kì đã tham gia tích cực vào tiến trình này và tiếp tục ủng hộ các mục tiêu và định hướng của chương trình.

Biên bản ghi nhớ được biết đến với cái tên “Đưa trẻ em trở lại trường học và xóa bỏ lao động trẻ em” bao hàm những yếu tố chính sau:

· Điều tra hiện trạng

· Xây dựng một chương trình giáo dục đặc biệt cho trẻ em lao động

· Giám sát và xác nhận các xí nghiệp may

· Chi trả thu nhập cho trẻ em để tham gia vào các lớp học

· Huấn luyện kĩ năng

· Huấn luyện về tín dụng vi mô và kĩ năng kinh doanh

Tiến trình: cuộc điều tra trong năm 1995 đã cho thấy có 9,546 trẻ em đang làm việc trong các xí nghiệp may. Trẻ em trong khu vực này tương đối nhỏ so với số lượng khổng lồ trẻ em đang làm việc trong các khu vực phi chính thức và nông nghiệp ở Bangladesh, tuy nhiên về xuất khẩu may rất quan trọng đối với nền kinh tế, thành công trong việc giảm hay xóa bỏ lao động trẻ em sẽ có những tác động đáng kể và cung cấp đòn bẩy cho IPEC và những bên tham gia khác thực hiện các dự án xóa bỏ lao động trẻ em ở Bangladesh.

UNICEF và 2 tổ chức phi chính phủ khác đảm nhận phần giáo dục phi chính thức trong khi phần tài chính được thực hiện bởi các bên thành viên khác.

Thông qua dự án của BGMEA/ILO/UNICEF, hệ thống xác nhận được xây dựng và thiết lập và các giám sát viên của ILO được huấn luyện đặc biệt để thục hiện các chuyến viếng thăm không mệt mỏi đến các xí nghiệp thành viên của BGMEA và xác nhận tình trạng đi học của trẻ em.

Để bù đắp cho phần thu nhập bị mất, một khoảng tiền 300 Tk (khoảng 6USD) được cung cấp mỗi tháng cho mỗi trẻ em được đưa ra khỏi việc làm và được gởi tới chương trình giáo dục phi chính thức.

Để giám sát chung và điều phối việc thực hiện của bản ghi nhớ, một ủy ban điều hành địa phương đã được thiếp lập với thành viên từ BGMEA, UNICEF và ILO. Đại diện từ bộ lao động và đại sứ quán mỹ cũng trở thành quan sát viên thường trực. mục tiêu của ủy ban là đảm bảo sự hợp tác chặt chẽ và thực hiện những biện pháp trừng phạt.

Kết quả đạt được:

Kể từ khi dự án bắt đầu vào năm 1995, những thành tựu sau đây đã đạt được:

· Hơn 8200 trẻ em lao động được đào tạo không chính thức

· 2000 trẻ em tiếp tục đi học chính thức

· Từ 1995, tỉ lệ xí nghiệp may có sử dụng lao động trẻ em giảm nưh sau: 43% vào năm 1995, 34% năm 1996, 11% năm 1997, 5% năm 1998 và 3% vào cuối năm 1999.

· 680 trẻ em lao động được đào tạo nghề

· Khoảng thêm 148 trẻ em sẽ được đào tạo nghề

· Một cơ sở dữ liệu được phát triển bởi IPEC cung cấp một hệ thống cho sự chọn lựa ngẫu nhiên các xí nghiệp được kiểm tra mỗi ngày bởi các nhà quản lý dự án.

· Xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa 3 bên tham gia.

Một trong những nhân tố quan trọng cho sự thành công của dự án đó là vai trò của BGMEA trong việc thuyết phục phần lớn các thành viên của nó tham gia vào dự án. Thành phần của đội kiểm sóat và kỹ năng giao tiếp xã hội của 50 giám sát viên cũng rất quan trọng: mỗi đội bao gồm kiểm soát viên của chính phủ, 1 của BGMEA và 2 của IPEC. Mục tiêu của họ là chiếm được sự tin cậy, thay vì hành động như là những cảnh sát, xácn nhận sự tuân thủ với các điều khoản của bản ghi nhớ, trong khi khuyến cáo cách thức và phương tiện để thực hiện, và thông báo cho các nhà sản xuất những lợi ích của dự án. Số lượng khách tham quan các xí nghiệp ở Dkha và Chittagong gia tăng từ 1609 năm 1996, 4542 năm 1997, 6104 năm 1998 và 7373 năm 1999.

Gia tăng sự hiểu biết là một phần quan trọng của dự án. Các chiến dịch công cộng đã quảng bá dự án không chỉ đến cộng đồng người Bangladesh mà cũng thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế vào dự án này.

Trong 2 hội nghị quan trọng vào năm 1997 về lao động trẻ em được tổ chức tại Amsterdam và Oslo, tầm quan trọng của chương trình như là một mô hình có thể nhân rộng đã được nhấn mạnh. Sự kí kết một thỏa thuận giữa Phòng thương mại và công nghiệp Sialkit (SCCI), ILO và UNICEF tại Atlanta vào năm 1997 để loại bỏ lao động trẻ em trong ngành công nghiệp làm banh của Pakistan được xem là một sự nhân rộng của dự án này. Ngưỡng mộ trước sự thành công của dự án, một số lớn công ty thời trang có trụ sở tại châu âu đang điều hành các trung tâm huấn luyện kĩ năng cho các trẻ em lao động trước đây trong ngành may và đưa họ lại vào xí nghiệp sau khi đã tốt nghiệp. Dự án cũng được xem là mô hình cho các dự án khác ở Pakistan, Thailand, Philippines, Indonesia, Costa Rica, Guatemala và Honduras.

Bài học:

· Với sự quyết tâm của các bên tham gia, sự sút giảm đáng kể số lượng trẻ em lao động có thể đạt được trong khu vực công nghiệp chỉ trong vòng 1 năm

· Sự thành công nằm ở hệ thống xác nhận và giám sát rõ ràng, đáng tin cậy và độc lập.

· Để đảm bảo sự tồn tại của hệ thống xác nhận và giám sát, cần có các nỗ lực xây dựng hệ thống kiểm tra chất lượng tư nhân và nâng cao năng lực cho các cơ quan thực thi luật pháp.

· Với sự hạn chế về bù đắp thu nhập, một cách thức khác bù đắp cho thu nhập bị mất rất quan trọng trong việc đưa được trẻ lao động vào các chương trình tái hội nhập.

· Kinh phí cho dự án phải được ngay từ đầu.

· Các bên tham gia cần trao đổi và xủ lý thông tin có liên quan đến trẻ em trong một khung thống nhất.

· Để hạn chế tối đa số lượng không tuân thủ qui định và trong lúc đó duy trì cơ hội tái hội nhập cho trẻ lao động, các xí nghiệp phải bị bắt buộc chi trả chi phí tái hội nhập cho trẻ lao động.

Vấn đề lao động trẻ em là một vấn đề tương đối phức tạp, các nhân tố gây ra lao động trẻ em thường đa dạng và chồng lắp lên nhau, bao gồm khai thác sự nghèo đói, học tập không đầy đủ, và hạn chế của những quan niệm truyền thống. Ngoài ra, sự không đầy đủ của số liệu thống kê về số lượng trẻ em đang làm việc, đặc biệt là đang làm những công việc lao động nguy hiểm làm công việc ngăn ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em rất khó khăn. Việc có những số liệu tốt về lao động trẻ em là điều rất cần thiết nhằm giám sát và xóa bỏ lao động trẻ em một cách hiệu quả nhất.

Do bản chất của lao động trẻ em là rất phức tạp, nên giải pháp cho vấn đề lao động trẻ em cần có tính chất toàn diện, tòan thể. Điều này cũng được các nhà nghiên cứu thống nhất, như được thể hiện trong các nghiên cứu của Anjli Garg (2000) hay Peter Fallon và Zafiris Tzannatos (1998). Theo đó, giải pháp hiệu quả nhất là một giải pháp toàn diện, bao gồm nhiều kỹ thuật khác nhau. Theo Anjli Garg (2000), một giải pháp toàn diện cho việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em phải bao gồm một cách tiếp cận đa khía cạnh gồm những yếu tố sau:

1. Các giải pháp phải đấu tranh với sự chấp nhận của xã hội về vấn đề lao động trẻ em bằng cách gia tăng sự hiểu biết của toàn xã hội về vấn đề này.

2. Các phương tiện và chương trình giáo dục phải được xây dựng nhằm thâu nhận những đứa trẻ được đưa khỏi công việc. ILO, đại diện cho sự thống nhất trên toàn thế giới, cho rằng phương cách hiệu quả nhất là mở rộng và cải thiện điều kiện học hành để có thể thu hút và giữ chân trẻ em lao động. Giáo dục và trẻ lao động tương tác với nhau rất chặt chẽ. Công việc có thể cản trẻ em đến trường. trong khi đó, giáo dục kém chất lượng thường làm cho trẻ em nghỉ học sớm và bắt đầu đi làm. Giáo dục tốt, ngược lại, có thể giữ chân trẻ lao động. Giáo dục càng dài hơn và càng tốt, khả năng trẻ bị bắt đi làm sẽ càng giảm. hiệp ước về quyền trẻ em đề nghị rằng giáo dục tiểu học cần được phổ cập và bắt buộc. Nếu chính phủ mỗi quốc gia quyết tâm làm chuyện này, tỉ lệ bóc lột lao động trẻ em sẽ giảm đáng kể.

3. Chính phủ các quốc gia phải cung cấp các giải pháp an sinh xã hội cho người nghèo.

4. Các công cụ đa phương, ví dụ như định hướng về thỏa ước ILO, cùng với các tổ chức quốc tế và NGOs, phải đấu tranh vấn đề lao động trẻ em

5. Ở các quốc gia có vi phạm về lao động trẻ em phải tăng cường những đạo luật về lao động trẻ em một cách mạnh mẽ. cũng như công ước về quyền trẻ em đã xây dựng những chuẩn mực mới về luật pháp quốc tế mà mỗi quốc gia phải tuân thủ, dẫn đến các qui định trong quốc gia cần có những qui định về những hành vi được chấp nhận trong xã hội đó. Tất cả các quốc gia phải thành lập một hệ thống các qui định về lao động trẻ em. Chiến lược này rất quan trọng đối với sự thành của của Hongkong trong việc xóa bỏ lao động trẻ em.

6. Chính phủ Mỹ và các quốc gia khác phải cố gắng sửa đổi các qui định của WTO là bao gồm IFLS, ví dụ như việc cung cấp lao động trẻ em.

Hay như theo Peter Fallon và Zafiris Tzannatos (1998), các giải pháp cho việc giải quyết vấn đề lao động trẻ em bao gồm:

1. Giảm nghèo đói: nhiều người đồng ý rằng nghèo đói tràn lan chính là nguyên nhân của lao động trẻ em ở các quốc gia phát triển. Trong các hộ gia đình nghèo, trẻ em có thể đóng góp một phần đáng kể vào thu nhập gia đình, và điều này có nghĩa là bởi vì những hộ gia đình đó chi tiêu một phần thu nhập vào thực phẩm, thu nhập từ lao động trẻ em có thể rất quan trọng đối với sự tồn tại của gia đình. Những chương trình cải thiện thu nhập của lao động trẻ em, hay cải cách những khiếm khuyết của thị trường vốn hoặc cung cấp lưới an sinh xã hội rất thích hợp trong trường hợp này. Nhiều người đồng ý rằng việc giảm nghèo là cách tiếp cận có tính dài hạn và rất hiệu quả. Nhưng đây là một quá trình lâu dài, do vậy, khi thành công, sẽ có khuynh hướng gia tăng cách biệt thu nhập của những người nghèo một cách không công bằng, vì thế gây ra những lỗ hổng cho sự xuất hiện trở lại của lao động trẻ em.

2. Giáo dục trẻ em: Các giải pháp hướng đến việc gia tăng sự tham gia vào các lớp học tiểu học cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ, đặc biệt nếu được lồng vào các chiến lược xóa đói, giảm nghèo. Những giải pháp này tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nguồn nhân lực với những lợi ích thiết thực cho cả cá nhân và xã hội. Tuy nhiên, tác động đối với vấn đề lao động trẻ em lại phụ thuộc vào bản chất của các giải pháp này. Có 3 cách tiếp cận: phổ cập giáo dục tiểu học, tạo điều kiện vừa đi làm việc vừa đi học, và giảm học phí. Cách tiếp cận thứ nhất có thể không giảm được trẻ em lao động nhiều nếu áp lực buộc trẻ phải rời bỏ công việc lớn và hiệu lực bắt buộc thấp. Bắt buộc mạnh có thể giảm trẻ em lao động nhưng sẽ tạo ra gánh nặng cho những gia đình nghèo phụ thuộc nhiều vào nguồn thu nhập từ lao động của trẻ. Phổ cập giáo dục là một cách chống đỡ quan trọng đối với vấn đề nô lệ trẻ em và những hình thức bóc lột trẻ em khác, khi bắt trẻ em phải bỏ việc để học hành. Tuy nhiên sẽ có rủi ro là quá tải trẻ em làm việc trong những giờ không đi học. cách tiếp cận thứ hai có lẽ là chọn lựa tốt và thích hợp cho khu vực nông thôn nếu thời gian biểu không cản trở những ngày cao điểm vụ mùa. Nguyên tắc này đã được áp dụng rất thành công tại Ấn Độ và Việt Nam. Cách tiếp cận thứ ba cung cấp động lực cho các gia đình hướng trẻ em vào việc học. cách thức này có thể dùng các phương pháp như học bổng, tài liệu học tập, hay dịch vụ chăm sóc trẻ nhỏ… để cho các đứa bé gái có thể đến trường… Vấn đề của cách thức này là chi phí và sự duy trì.

3. Gia tăng sự hiểu biết của cộng đồng và xã hội: điều này bao gồm một hệ thống các hoạt động như cải thiện sự hiểu biết của trẻ em về những công việc nguy hiểm, gia tăng sự hiểu biết của các bậc cha mẹ về sự mất mát vốn con người có thể có khi con em họ đi làm, và thay đổi hướng tập trung của các nhà làm luật. cải thiện sự hiểu biết về vấn đề lao động trẻ em sẽ dẫn đến sự hợp tác giữa chính quyền địa phương, NGOs, và chính phủ để gia tăng áp lực lên các nhà tuyển dụng. Tuy nhiên, gia tăng áp lực sẽ không giải quyết được vấn đề nếu những nguồn thu nhập khác được tạo ra cho các gia đình bị ảnh hưởng. Tương tự như trên, gia tăng sự hiểu biết tại các quốc gia phát triển có thể dẫn đến những hành động chống lại lao động trẻ em mà không chú ý đến hậu quả của những hành động này.

4. Đưa vấn đề LĐTE vào luật và giám sát lao động trẻ em: hầu hết các quốc gia đều có những qui định về LĐTE, tuy nhiên, hiệu quả thực thi thường rất thấp. người ta cũng nhận thấy rằng trong một số truờng hợp của các quốc gia đang phát triển, sự thực thi mạnh hơn của luật pháp có thể tổn hại những người mà những đạo luật này đang bảo vệ thông qua việc giảm thu nhập của những gia đình nghèo và đẩy trẻ em vào những hình thức lao động nguy hiểm hơn.

5. Gia tăng việc xóa bỏ các hình thức lạm dụng lao động trẻ em thông qua các giải pháp “phi luật pháp”: bên cạnh các giải pháp về luật, các cơ chế chủ yếu để giải quyết vấn đề lao động trẻ em baog ồm các giải pháp có liên quan đến thương mại, vận động phản đối của người tiêu dùng hay cơ chế đóng nhãn hay tem xác nhận. tuy nhiên,có những vấn đề đi kèm theo cách thức này:

· Nếu xuất khẩu trong khu vực chính thức bị ảnh hưởng, hậu quả là sẽ đẩy trẻ em vào các khu vực phi chính thức với những điều kiện làm việc tồi tệ hơn

· Các quốc gia nhỏ hơn có thể chịu tác động khi cộng đồng quốc tế tập trung vào các biện pháp chế tài vào các quốc gia lớn.

· Việc áp dụng các biện pháp chế tài có thể che đậy những mục tiêu khác của các quốc gia phát triển và có thể được áp dụng tùy tiện và gây ảnh hưởng đến LĐTE.

Những giải pháp này không hoàn toàn loại trừ lẫn nhau và được áp dụng theo nhiều cách trong các chiến lược xóa bỏ lao động trẻ em nhằm phát huy hiệu quả tích cực và hạn chế những tiêu cực để đạt đến mục tiêu là xóa bỏ lao động trẻ em.

Với các giải pháp đề nghị nêu trên cùng với những kinh nghiệm thu nhặt được từ những chương trình, dự án đã được thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam nói chung và TPHCM nói riêng sẽ đúc kết được những giải pháp hợp lý nhằm sớm giải quyết triệt để vấn đề lao động trẻ em. Để kết thúc, xin trích dẫn lời phát biểu sau đây của đại diện Bộ Lao động Mỹ trong Hội nghị xóa bỏ lao động trẻ em toàn cầu được tổ chức tại Washington D.C ngày 17/5/2000: “Những nỗ lực hiện nay không nói rằng trẻ em không nên làm việc. Chúng tôi muốn nói rằng không có trẻ em nào bị bắt buộc phải tham gia vào những công việc nặng nhọc… không có trẻ em nào bị đối xử tàn tệ và bóc lột bởi ngành công nghiệp tình dục… và không có trẻ em nào phải tham gia vào những công việc nguy hiểm…”


 

[1] ILO (1999), Targeting the Intolerable,

[2] ILO (1997) State of the world of children, t.48

[3] International Labor Organization Bureau of Statistics, Methodological Child Labour Surveys and Statistics, Appendix A (visited Nov. 2003) <http:/ /www.ilo.org/public/english/120stat/actrep/childlab.htm#kibby>.

[4] Kaushik Basu (1998)

[5] Vicky Kanyoka (1999)

[6] Anisur Rahman Sinha (1999)

SOURCE: NỘI SAN KINH TẾ SỐ THÁNG 12 NĂM 2003 – VIỆN KINH TẾ TPHCM

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: