NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT – BỘ TƯ PHÁP

Tài sản nhà nước là điều kiện vật chất cơ bản giữ vị trí quan trọng đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nước, an ninh quốc phòng, là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trước yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức, hội, đoàn thể cần được thể chế hoá bằng các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài sản.

Tại kỳ họp thứ ba Quốc hội khoá XII, Quốc hội đã thông qua Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước, ngày 12 tháng 6 năm 2008 Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 04/2008/L- CTN công bố Luật. Đây là lần đầu tiên các quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được quy định thống nhất trong một văn bản Luật, tạo tiền đề pháp lý cao trong việc quản lý, sử dụng có hiệu quả tài sản nhà nước.

II. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

Thứ nhất: Yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững đòi hỏi phải phát huy cao độ và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trong đó tài sản nhà nước là nguồn lực to lớn và đầy tiềm năng. Để phát huy có hiệu quả nguồn lực quan trọng này cần phải có Luật điều chỉnh việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Thứ hai: Cùng với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và sự chuyển dịch cơ chế quản lý sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tài sản nhà nước không ngừng được đầu tư phát triển cả về số lượng và chất lượng, đối tượng sử dụng ngày càng đa dạng, nhiều nội dung mới xuất hiện đặt ra yêu cầu phải đổi mới công tác quản lý như: việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập để phát triển các hoạt động sự nghiệp, thực hiện xã hội hoá, giảm sức ép chi từ ngân sách nhà nước; việc đi thuê và cho thuê tài sản; việc sử dụng tài sản nhà nước để liên doanh, liên kết, … Theo đó, cơ chế tài chính đối với một số lĩnh vực, một số đối tượng đã có những thay đổi quan trọng (như chính sách tài chính khuyến khích xã hội hoá, khuyến khích huy động nguồn lực). Trong khi đó cơ chế quản lý tài sản nhà nước hiện hành tuy đã có những nội dung được đổi mới, nhưng nhìn chung còn manh mún, nặng về xử lý tình thế chưa theo kịp với tình hình thực tiễn. Để phù hợp với các tiến trình này, cơ chế quản lý tài sản nhà nước cần phải được hoàn thiện bổ sung cho phù hợp và phải được thể chế hoá thành luật.

Thứ ba: Xuất phát từ thực tiễn quản lý tài sản nhà nước còn nhiều yếu kém, tồn tại; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định “cần bổ sung hoàn thiện các cơ chế, chính sách, quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế- tài chính, quản lý tài sản công, không để sơ hở cho kẻ xấu lợi dụng; phải tăng cường quản lý, kiểm tra ngăn chặn lãng phí, tham nhũng tiền và tài sản công”; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “phải sớm ban hành Luật quản lý tài sản nhà nước nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác”. Từ đó việc xây dựng và ban hành tổ chức thực hiện Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là nội dung hết sức quan trọng trong việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần triển khai đồng bộ với Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật phòng, chống tham nhũng.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG LUẬT

1. Kế thừa và phát triển các chính sách hiện hành về quản lý tài sản nhà nước, luật hoá một số quy định đã phát huy hiệu quả, phù hợp để nâng cao tính pháp lý, đảm bảo cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn trong thực tế quản lý, sử dụng tài sản.

2. Đổi mới phương thức quản lý tài sản nhà nước phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội theo nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đảm bảo quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài sản nhà nước.

3. Phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và của cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; phân định rõ tài sản của nhà nước và tài sản của tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp- tổ chức xã hội nghề nghiệp.

4. Tiếp thu những kinh nghiệm quản lý tài sản nhà nước của các nước vận dụng vào điều kiện thực tế của Việt nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

III: NỘI DUNG CHỦ YẾU

Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gồm 6 Chương, 39 Điều:

Chương I. Những quy định chung

Chương II. Trách nhiệm quản lý nhà nước về tài sản nhà nước

Chương III. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân

Chương IV. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính và đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ tài chính

Chương V. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp

Chương VI. Điều khoản thi hành

1. Phạm vi điều chỉnh

Điều 1 của Luật quy định: “1. Luật này quy định chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp (sau đây gọi chung là cơ quan, tổ chức, đơn vị), bao gồm trụ sở làm việc và tài sản khác gắn liền với đất; quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc và các tài sản khác do pháp luật quy định. 2. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước khác được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Như vậy, Luật này chỉ điều chỉnh đối với những tài sản nhà nước phục vụ hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị như: trụ sở làm việc, tài sản khác gắn liền với đất, quyền sử dụng đất đối với đất dùng để xây dựng trụ sở làm việc, cơ sở hoạt động sự nghiệp; máy móc, phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc…

Đối với tài sản nhà nước là tiền, hàng hoá, vật tư, tài sản dự trữ quốc gia tại cơ quan, đơn vị, tổ chức; tài sản là đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia, tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước…, việc quản lý, sử dụng thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan (như Luật đất đai, Pháp lệnh dự trữ quốc gia, Luật doanh nghiệp nhà nước…), không thuộc phạm vi điều chỉnh tại Luật này.

2. Nguyên tắc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Điều 2 Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đưa ra hệ thống 6 nguyên tắc cần quán triệt trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất là “Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng”. Đây là nguyên tắc phổ biến trong Luật quản lý tài sản nhà nước hoặc luật tương đương của các quốc gia. Theo đó, mọi tài sản nhà nước đều phải xác định được chủ thế quản lý, sử dụng, tránh tình trạng “cha chung không ai khóc”. Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản có quyền sử dụng, khai thác tài sản nhà nước theo đúng mục đích được giao, đảm bảo tiết kiệm, có hiệu quả, đồng thời phải chịu trách nhiệm nếu có sai phạm trong quản lý, sử dụng tài sản.

Nguyên tắc thứ hai là: Quản lý nhà nước về tài sản nhà nước được thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước”. Tài sản nhà nước bao gồm nhiều loại khác nhau và do nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng. Để đảm bảo cho mọi tài sản nhà nước được quản lý, sử dụng theo đúng mục đích, đảm bảo công bằng, tiết kiệm nhằm đạt được mục tiêu của Nhà nước thì công tác quản lý nhà nước về tài sản nhà nước phải được thực hiện thống nhất (thể hiện ở hệ thống cơ chế, chính sách, chế độ quản lý, sử dụng thống nhất và giao cho một cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước) song cũng cần có sự phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước và trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan nhà nước.

Nguyên tắc thứ ba là: “Tài sản nhà nước phải được đầu tư, trang bị và sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ, bảo đảm công bằng, hiệu quả, tiết kiệm”. Đây là nguyên tắc đồng thời là yêu cầu trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Theo đó, trước hết tài sản nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích (trụ sở thì không được sử dụng để ở; xe ô tô công thì không được sử dụng vào mục đích riêng …), đúng tiêu chuẩn, chế độ, định mức. Đây là căn cứ quan trọng để bố trí dự toán đầu tư, mua sắm, cũng như để quản lý, sử dụng và kiểm soát chi tiêu, đồng thời cũng là chuẩn mực để xác định mức độ vi phạm và xử lý vi phạm theo đúng người, đúng việc. Đồng thời việc sử dụng tài sản nhà nước phải tiết kiệm, có hiệu quả, đem lại lợi ích cao nhất cho Nhà nước, cho nhân dân xét về trước mắt cũng như lâu dài.

Nguyên tắc thứ tư là: “Tài sản nhà nước phải được hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật. Việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Việc hạch toán đầy đủ về hiện vật và giá trị tài sản nhà nước đảm bảo cho cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan trực tiếp sử dụng tài sản nắm được số lượng, giá trị và tình trạng tài sản, từ đó đề ra các biện pháp xử lý phù hợp và phục vụ tốt công tác hoạch định chính sách, chế độ. Còn việc xác định giá trị tài sản trong quan hệ mua, bán, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết, thanh lý tài sản hoặc trong các giao dịch khác được thực hiện theo cơ chế thị trường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đây là nội dung đổi mới, tiếp cận kịp thời với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiệu quả, công khai, minh bạch; mọi quan hệ trong giao dịch mua sắm, bán, thanh lý, thuê, cho thuê, liên doanh, liên kết tài sản được thực hiện theo cơ chế thị trường thông qua việc đầu thầu, đấu giá công khai theo quy định của pháp luật. Trừ một số trường hợp như điều chuyển tài sản giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị; bán, thanh lý tài sản nhà nước có giá trị nhỏ…

Nguyên tắc thứ năm là: “Tài sản nhà nước được bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ theo chế độ quy định”. Nguyên tắc này đảm bảo việc sử dụng tài sản nhà nước hiệu quả, tiết kiệm, tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, tránh sử dụng theo kiểu “vắt kiệt” tài sản, đồng thời cho phép bố trí hợp lý, khoa học giữa chi thường xuyên và chi đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước nói chung cũng như trong kế hoạch tài chính của từng cơ quan, đơn vị nói riêng.

Nguyên tắc cuối cùng là: “Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được thực hiện công khai, minh bạch; mọi hành vi vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh theo quy định của pháp luật”. Theo đó, toàn bộ quá trình đầu tư, mua sắm, sử dụng, hiệu quả sử dụng tài sản nhà nước phải công khai (trừ một số nội dung không được công khai theo quy định của pháp luật bảo vệ bí mật quốc gia). Đây là nội dung rất quan trọng để tăng cường sự giám sát của cán bộ, công chức và toàn thể nhân dân đối với việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

3. Quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Như trên đã trình bày, nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước là “Mọi tài sản nhà nước đều được Nhà nước giao cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng”. Để thực hiện được nguyên tắc này, tại Điều 4 của Luật đã quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước như sau:

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có 4 quyền: (i) sử dụng tài sản nhà nước phục vụ hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao; (ii) quyết định biện pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài sản nhà nước được giao; (iii) được Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và (iv) khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có 3 nghĩa vụ: (i) sử dụng tài sản nhà nước đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm; (ii) thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa, bảo vệ tài sản nhà nước theo chế độ quy định và (iii) lập và quản lý hồ sơ tài sản nhà nước; hạch toán, ghi chép tài sản; báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được giao theo quy định của Luật này và pháp luật về kế toán, thống kê.

4. Quyền, nghĩa vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm rất lớn trước Nhà nước, trước pháp luật trong việc quản lý, sử dụng, bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình. Do vậy, Luật đề cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, tổ chức , đơn vị trên các phương diện sau (i) chỉ đạo tổ chức thực hiện quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; (ii) xử lý theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Đồng thời, Luật cũng quy định người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có các nghĩa vụ (i) ban hành và tổ chức thực hiện quy chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý theo thẩm quyền; (ii) chấp hành các quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm sử dụng tài sản nhà nước đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và hiệu quả, tiết kiệm; (iii) chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thuộc phạm vi quản lý.

5. Các hành vi bị nghiêm cấm

Căn cứ vào các quy định hiện hành tại Bộ luật hình sự; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật phòng, chống tham nhũng; Pháp lệnh cán bộ, công chức… và thực tế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước thời gian vừa qua, Điều 6 của Luật quy định 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm như sau: (i)Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nhà nước dưới mọi hình thức; (ii) Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; (iii) sử dụng tài sản nhà nước không đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ; sử dụng tài sản nhà nước lãng phí hoặc không sử dụng tài sản được giao gây lãng phí; sử dụng tài sản nhà nước để kinh doanh trái pháp luật; (iv) huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nhà nước; chiếm giữ, sử dụng trái phép tài sản nhà nước; (v) thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. 6. Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước trong quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm trên đây sẽ bị xử lý theo các hình thức khác nhau như: thu hồi tài sản; xử lý kỷ luật, xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

6. Đầu tư xây dựng trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước

Khoản 1 Điều 13 của Luật quy định: “1. Nhà nước đầu tư xây dựng trụ sở làm việc để phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước bằng các phương thức sau đây:

a) Giao cho tổ chức có chức năng thực hiện đầu tư xây dựng trụ sở làm việc;

b) Giao ngân sách cho cơ quan trực tiếp sử dụng trụ sở làm việc thực hiện đầu tư xây dựng”.

Như vậy, bên cạnh phương thức Nhà nước giao ngân sách cho cơ quan trực tiếp sử dụng trụ sở làm việc thực hiện đầu tư xây dựng như hiện nay, Luật còn quy định phương thức Nhà nước giao cho tổ chức có chức năng thực hiện đầu tư xây dựng trụ sở làm việc. Quy định này, một mặt thể hiện sự bảo đảm của Nhà nước về trang bị đầy đủ tài sản phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước; mặt khác bảo đảm tính chuyên môn hoá, sự hiệu quả trong đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, tránh tình trạng các cơ quan nhà nước không có chuyên môn về xây dựng nhưng phải thực hiện vai trò là chủ đầu tư, thực hiện lập dự án đầu tư, xem xét phê duyệt thiết kế, tổ chức đấu thầu, giám sát xây dựng, nghiệm thu công trình, thanh quyết toán đầu tư xây dựng trụ sở làm việc…

Việc đầu tư xây dựng trụ sở làm việc phải phù hợp với quy hoạch đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của cơ quan đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và tiêu chuẩn, định mức sử dụng trụ sở làm việc và được thực hiện theo các quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng.

7. Mua sắm tài sản nhà nước

Điều 14 của Luật quy định việc mua sắm tài sản nhà nước phải phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và được thực hiện công khai, theo trình tự, thủ tục do pháp luật về đấu thầu và pháp luật có liên quan quy định. Về thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước được quy định như sau: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định mua sắm tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương.

8. Thuê trụ sở làm việc, tài sản khác phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước

Cơ quan, đơn vị thuộc khu vực nhà nước bao gồm nhiều loại hình khác nhau, trong đó có những cơ quan nhất thiết phải đầu tư xây dựng trụ sở làm việc, không đặt vấn đề thuê trụ sở làm việc như Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, lực lượng vũ trang nhân dân… Tuy nhiên, trong thực tế có những cơ quan, đơn vị hoặc chỉ tồn tại trong thời gian ngắn hoặc số lượng cán bộ, công chức ít như các Ban quản lý dự án, văn phòng đại diện … thì việc thuê trụ sở làm việc là hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm hơn là giao ngân sách để đầu tư, xây dựng trụ sở làm việc. Do đó, Điều 15 của Luật quy định cơ quan nhà nước được thuê trụ sở làm việc, tài sản khác để phục vụ hoạt động trong các trường hợp: khi chưa có trụ sở làm việc hoặc chưa được giao ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm; việc thuê trụ sở làm việc, tài sản khác có hiệu quả hơn việc đầu tư xây dựng, mua sắm. Số lượng, chủng loại trụ sở làm việc, tài sản khác được thuê phải phù hợp với tiêu chuẩn, định mức, chế độ; giá thuê được xác định theo cơ chế thị trường.

Quy định này, nhằm bảo đảm đáp ứng điều kiện làm việc cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị; nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách và tài sản của nhà nước. Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ một số quốc gia phát triển trên thế giới, như Cộng hoà Liên bang Đức, Australia, Canada…, cơ sở vật chất phục vụ công tác của các cơ quan nhà nước, như trụ sở làm việc hầu như các đơn vị đi thuê, kể cả thuê của Nhà nước. Đây chính là một trong những giải pháp thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước và tuân thủ đúng tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản. Theo đó trong nhiều trường hợp cụ thể khi lập dự toán ngân sách, Nhà nước chỉ bố trí kinh phí đủ để đơn vị thuê diện tích nhà theo đúng tiêu chuẩn, định mức, phù hợp với số lượng công chức và thậm chí phù hợp với cả vị trí của trụ sở làm việc thuê sử dụng thay vì phải bố trí vốn lớn đầu tư xây dựng, vốn mua sắm trụ sở.

9. Sử dụng tài sản nhà nước

Tài sản nhà nước được đầu tư, trang bị cho cơ quan nhà nước quản lý, sử dụng là để phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ. Trường hợp tài sản không được sử dụng hoặc sử dụng không hết thì phải được thu hồi, điều chuyển cho cơ quan khác để bảo đảm tài sản được sử dụng, phát huy tối đa công dụng của nó. Nếu để cơ quan nhà nước cho thuê tài sản nhà nước sẽ đồng nghĩa với việc cho cơ quan nhà nước kinh doanh thì sẽ không đúng với nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật và cũng không đúng với mục đích của việc đầu tư, trang bị tài sản. Thực tế cho thấy đã có không ít trường hợp tổ chức, cá nhân lợi dụng việc cho thuê tài sản nhà nước tại các cơ quan nhà nước để tham ô, trục lợi, gây thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước và sao nhãng việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Do vậy, Điều 16 của Luật quy định tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước phải được sử dụng đúng mục đích, công năng, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và bảo đảm hiệu quả, tiết kiệm. Cơ quan nhà nước không được sử dụng tài sản nhà nước vào mục đích cá nhân, cho thuê hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh khác.

Tuy nhiên, trong thực tiễn có một số trường hợp tài sản của cơ quan nhà nước dùng không hết công suất, như hội trường, phương tiện vận tải… trong khi đó một số cơ quan, đơn vị, tổ chức của nhà nước lại có nhu cầu sử dụng, vì thế để khai thác hiệu quả nguồn tài sản này, giảm chi cho ngân sách nhà nước, khoản 3 Điều 38 của Luật quy định đối với hội trường, phương tiện vận tải của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội chưa sử dụng hết công suất được cho cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng theo đúng mục đích và thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí (không bao gồm chi phí khấu hao và lợi nhuận).

10. Thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán tài sản nhà nước (Điều 20, Điều 21, Điều 22 và Điều 23)

a. Về các trường hợp thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán tài sản nhà nước như sau:

– Tài sản nhà nước bị thu hồi trong trường hợp: không sử dụng; sử dụng sai mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật;

– Tài sản nhà nước được điều chuyển trong trường hợp: từ nơi thừa sang nơi thiếu; để mang lại hiệu quả sử dụng cao hơn; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật;

– Tài sản nhà nước được thanh lý trong trường hợp: tài sản hết hạn sử dụng; tài sản bị hư hỏng không sử dụng được hoặc việc sửa chữa không có hiệu quả; trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất phải phá dỡ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

– Tài sản nhà nước được bán trong trường hợp: không có nhu cầu sử dụng hoặc việc sử dụng không có hiệu quả, trừ trường hợp tài sản không được bán theo quy định của pháp luật; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

b. Về thẩm quyền quyết định thu hồi, điều chuyển, bán tài sản nhà nước được thực hiện theo phân cấp của Chính phủ.

11. Tiêu huỷ tài sản nhà nước

Tiêu huỷ tài sản nhà nước là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định xóa bỏ sự tồn tại của tài sản nhà nước. Tài sản nhà nước bị tiêu huỷ theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật. Nhà nước đảm bảo kinh phí cho việc tiêu huỷ tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước.

Thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài sản nhà nước được quy định tại Điều 24 của Luật như sau:

– Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, người đứng đầu cơ quan khác ở trung ương quyết định hoặc phân cấp thẩm quyềnquyết định tiêu huỷ tài sản của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý;

– Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài sản của cơ quan nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

– Những người khác theo quy định của pháp luật.

12. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài và quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân

Tài sản nhà nước trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài có tính đặc thù; việc mua sắm, trang bị, sử dụng, bán, thanh lý có những đặc điểm khác biệt so với tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước. Vì vậy, Luật quy định:

Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài được thực hiện theo quy định tại Luật này, phù hợp với quy chế ngoại giao và pháp luật của nước sở tại. Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan nhà nước của Việt Nam tại nước ngoài” (Điều 27).

– “Căn cứ các nguyên tắc quy định tại Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân” (Điều 28).

13. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội

Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, thì ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động cho Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội như đối với cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, Điều 35 của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định: Nhà nước giao tài sản bằng hiện vật, quyền sử dụng đất, giao ngân sách để tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tiêu chuẩn, định mức, chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Tài sản được Nhà nước giao cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội quản lý, sử dụng hoặc được Nhà nước giao ngân sách để đầu tư xây dựng, mua sắm thuộc sở hữu của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, đối với tài sản được hình thành từ nguồn đóng góp của các thành viên, tài sản được tặng cho chung và từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật; tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước đã chuyển giao quyền sở hữu cho tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội là tài sản thuộc sở hữu của tổ chức đó. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình theo quy định của pháp luật và phù hợp với mục đích hoạt động được quy định trong Điều lệ của từng tổ chức.

14. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp

Hiện nay, việc quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước giao cho tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp chưa có sự tách bạch, nhất là đối với những tài sản Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để đầu tư xây dựng, mua sắm. Vì vậy, tại Điều 36 của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định:

Tài sản là trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất mà Nhà nước giao cho tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước. Tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật và thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản bằng kinh phí của tổ chức.

– Tài sản còn lại mà Nhà nước giao cho tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của tổ chức; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, pháp luật có liên quan và Điều lệ của tổ chức.

15. Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp

Điều 37 của Luật quy định: Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp tự bảo đảm kinh phí đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản, Nhà nước không giao tài sản hoặc hỗ trợ ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Như vậy, từ ngày 01/01/2009, Nhà nước sẽ không giao tài sản hoặc hỗ trợ ngân sách đầu tư xây dựng, mua sắm tài sản cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp. Đối với những tài sản trước ngày Luật có hiệu lực Nhà nước đã giao cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp thì việc quản lý, sử dụng thực hiện như sau:

– Đối với tài sản là trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất vẫn thuộc sở hữu của Nhà nước; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan nhà nước. Tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp được giao quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có trách nhiệm bảo vệ tài sản nhà nước được giao theo quy định của pháp luật và thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa tài sản bằng kinh phí của tổ chức.

– Đối với tài sản còn lại mà Nhà nước đã giao cho tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp quản lý, sử dụng thuộc sở hữu của tổ chức; việc quản lý, sử dụng tài sản này được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự, pháp luật có liên quan và Điều lệ của tổ chức.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Để đảm bảo thực thi hành Luật có hiệu quả cần triển khai một số công việc sau:

1. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật:

Dự kiến Chính phủ sẽ ban hành các văn bản để quy định chi tiết và thi hành Luật sau:

– Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

– Nghị định quy định việc quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân.

– Nghị định của chính phủ về việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại cơ quan Nhà nước Việt Nam tại nước ngoài.

– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định về công khai việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

– Nghị định quy định việc sắp xếp lại, việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (bao gồm cả việc chuyển nhà khách của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -xã hội sang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp.

Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính xây dựng và ban hành một số Thông tư để hướng dẫn thi hành các Nghị định, Quyết đinh trên để đảm bảo có đủ cơ sở thực hiện công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của Luật ngay sau khi Luật có hiệu lực vào ngày 01 tháng 01 năm 2009.

2. Các công việc cụ thể Chính phủ cần thực hiện: Để bảo đảm quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ theo quy định của Luật này, Điều 38 của Luật giao Chính phủ thực hiện các công việc sau đây:

(1) Tổ chức sắp xếp lại việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo mục đích được giao, bảo đảm để tài sản nhà nước không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, vượt tiêu chuẩn, định mức, chế độ quy định phải được thu hồi trước ngày 31 tháng 12 năm 2010. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề đối với Chính phủ, các bộ, ngành ở trung ương và chính quyền địa phương các cấp. Theo đó, ngoài việc tiếp tục đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 19/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương còn phải triển khai việc sắp xếp lại để sử dụng theo đúng mục đích được giao đối với các tài sản khác như phương tiện vận tải, trang thiết bị làm việc.v.v…

(2) Quy định cụ thể việc chuyển nhà khách của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội sang hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp. Về vấn đề này, ngày 02/11/1998, Chính phủ có Công văn số 1298/CP-KTTH yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan trung ương của các đoàn thể, Chủ tịch UBND cấp tỉnh chuyển ngay các nhà khách, nhà nghỉ sang hoạt động kinh doanh theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Trường hợp nhà khách, nhà nghỉ không thể chuyển sang kinh doanh được, các bộ, ngành, cơ quan có trách nhiệm chuyển giao cho các địa phương để sắp xếp, chuyển sang hoạt động kinh doanh. Các nhà khách thuộc Ban Tài chính – Quản trị TW (nay là Văn phòng Trung ương Đảng), Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam được tiếp tục hoạt động để phục vụ yêu cầu lưu trú của cán bộ, đại biểu về làm việc, dự hội nghị của Đảng, Quốc hội, Chính phủ (kể cả các bộ, ngành trung ương), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay nhiều nhà khách, nhà nghỉ của các bộ, ngành, cơ quan trung ương và địa phương chưa chuyển hoàn toàn sang cơ chế kinh doanh. Sau khi Luật này có hiệu lực, các nhà khách, nhà nghỉ trên đây sẽ phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, trừ một số trường hợp đặc biệt như nhà khách thuộc Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ… sẽ hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp tự chủ tài chính.

(3) Quy định cụ thể việc dùng hội trường, phương tiện vận tải của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội chưa sử dụng hết công suất cho cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng theo đúng mục đích và thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí. Theo đó, trường hợp hội trường, phương tiện vận tải được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội quản lý, sử dụng mà không sử dụng hết công suất thì được cho cơ quan, tổ chức khác của Nhà nước sử dụng theo đúng mục đích được giao. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội quản lý, sử dụng hội trường, phương tiện vận tải chỉ được thu một khoản kinh phí để bù đắp chi phí điện, nước, xăng dầu, nhân công phục vụ (không bao gồm chi phí khấu hao và lợi nhuận).

3. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến đến cán bộ, nhân dân

Công tác, tuyên truyền phổ biến:

– Tổ chức hội thảo, toạ đàm trong quá trình ban hành văn bản hướng dẫn;

– Biên soạn tài liệu tuyên truyền, phổ biến Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước trong ngành và cho các bộ, ngành, địa phương, đối tượng quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; Viết bài, đăng tin trên các Báo, đài phát thanh và truyền hình.

– Tổ chức, chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan có liên quan để tuyên truyền Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước.

Công tác tập huấn:

Tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc cơ quan quản lý tài sản nhà nước, đối tượng sử dụng tài sản nhà nước về công tác nghiệp vụ có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước để thực hiện tốt quy định của Luật./.

SOURCE: DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trích dẫn từ: http://vibonline.com.vn/vi-VN/PreLaws/Details.aspx?PreLawID=70

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: