VẤN ĐỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG LÀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NHÌN TỪ MỘT VỤ ÁN

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Nguyễn Thị A (ngụ tại thành phố (TP) Vũng Tàu) là chủ sở hữu 3 tàu đánh cá (số hiệu: BV-9244-TS, BV-9342-TS, BV-5741-TS) và đã thế chấp cho Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT) Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu (cho 3 hợp đồng tín dụng (HĐTD) với tổng nợ gốc 2.250 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng và 60 tháng) theo các hợp đồng thế chấp số 0612.0278 ngày 24/11/2006, số 0612.0299 ngày 28/12/2006 và số 0744.0003 ngày 10/01/2007 (các hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm tại TP. Hồ Chí Minh).

Trong tháng 4/2007, Nguyễn Thị A cùng 4 đồng phạm khác dùng 3 tàu trên đi biển để cắt cáp viễn thông. Khi bị khởi tố hình sự, cơ quan điều tra đã kê biên và giao 3 tàu cá cho gia đình A quản lý. Tại bản án sơ thẩm số 83/2008/HS-ST ngày 04/04/2008, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên: Nguyễn Thị A và các đồng phạm khác phạm vào tội “phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, với các mức án từ 3 đến 12 năm tù; xét thấy: trước khi các bị cáo sử dụng 3 tàu đánh cá làm phương tiện phạm tội thì 3 tàu này đã được thế chấp hợp pháp cho ngân hàng nên bản án đã giao cho NHCT Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu cùng Thi hành án và gia đình bà A thanh lý trước hạn 3 HĐTD, xử lý bán 3 tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại, nếu có, tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngày 18/04/2008, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có kháng nghị số 210/VKS đề nghị Toà phúc thẩm căn cứ Điều 41 Bộ luật Hình sự (BLHS) tuyên xử tịch thu 3 chiếc tàu để sung quỹ nhà nước (các bị cáo cũng có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt).

Giao dịch bảo đảm hợp pháp cũng trở nên vô nghĩa!

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 19/9/2008, đại diện VKSND tối cao giữ nguyên kháng nghị và Hội đồng xét xử đã tuyên: bác các kháng cáo và chấp nhận kháng nghị về việc xử lý tịch thu 3 tàu cá là vật chứng, với nhận định: mặc dù 3 tàu cá được thế chấp hợp lệ nhưng việc thế chấp không làm mất đi quyền sở hữu (của A với 3 tàu cá) nên vẫn đủ điều kiện tịch thu. Phán quyết này đã đẩy các khoản nợ vay có tài sản bảo đảm hợp pháp của bà A tại ngân hàng trở thành các khoản nợ không có bảo đảm, giao dịch bảo đảm trên thực tế cũng trở nên vô nghĩa. Và không ai khác, chính ngân hàng – người đã làm tất cả những việc mà luật quy định phải làm, là người phải gánh chịu một tình huống rủi ro vốn không thể lường định.

Continue reading

Advertisements

VÀI NÉT VỀ HỆ THỐNG TÍN CHỈ ĐẠI HỌC CHÂU ÂU

image GS. HÀ DƯƠNG TƯỜNG – Đại học Công nghệ Compiègne, Cộng hòa Pháp

Vấn đề “liên thông” giữa các trường đại học, cao đẳng là một vấn đề được bàn thảo nhiều ở Việt Nam (VN) trong vài năm gần đây. Tuy chỉ là một vấn đề “kỹ thuật” (trong nghĩa là những giải pháp được chọn lựa trong vấn đề này tương đối độc lập với các chọn lựa về cơ sở triết lý, tinh thần chủ đạo của giáo dục đại học), song nó có tầm quan trọng không nhỏ trong xã hội hiện nay, khi nhu cầu học thường xuyên của công dân, yêu cầu chuyển đổi công việc làm trong một đời người càng ngày càng lớn.

VN lại đương đẩy mạnh cuộc hội nhập vào nền kinh tế thế giới, nhất là với các nước láng giềng trong khu vực, dù là trong hay ngoài ASEAN, và việc tiếp nhận người lao động từ các nước khác cũng như việc người Việt đi lao động ở ngoại quốc (không chỉ giới hạn trong lao động giản đơn !) ngày sẽ càng nhiều. Những chuẩn mực so sánh được với đại học các nước khác do đó càng cần được tuân thủ, song song với yêu cầu nâng cao chất lượng của các trường, các cơ sở đào tạo trong nước.

Trong điều kiện đó, hiển nhiên cuộc cải tổ đang diễn biến tại châu Âu có thể gợi cho ngành đại học VN những ý tưởng, mở ra những cách tiếp cận mới… Tiếp theo bài “Giáo dục đại học theo hệ thống tín chỉ. Một kinh nghiệm” đã được đăng trên trang mạng của xêmina “Chấn hưng giáo dục”, bài viết này cố gắng trình bày một số nét chính của cuộc cải tổ đó, đứng về góc nhìn “liên thông” trong giáo dục đại học, như một đóng góp nhỏ vào cuộc thảo luận “kỹ thuật” nhưng cần thiết này.

Bài này sẽ gồm hai phần chính :

1/ Từ Tuyên bố Sorbonne ti Tuyên b Bologne, mt bước ngoặt của đại học châu Âu, trình bày quá trình và nội dung cuộc cải tổ.

2/ Hệ thống tín chỉ ECTS : một chuẩn mc liên thông dựa trên khối gi học tập, trình bày một vài nét chính về hệ thống tín chỉ này.

Trong cả hai phần, bài cũng sẽ cung cấp một vài thông tin về cuộc cải tổ trong đại học Pháp, như một ví dụ, vừa vì tác giả biết về nền đại học này nhiều hơn về các nền đại học của những nước châu Âu khác, vừa vì Pháp là một nước cho tới nay đại học chủ yếu là theo hệ thống niên chế, kinh nghiệm của sự chuyển đổi hệ thống có thể hữu ích nhiều cho VN chăng. Sau cùng là một vài lời kết luận.

Continue reading

VỀ THỰC CHẤT CỦA BƯỚC CHUYỂN SANG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

NGUYỄN HỮU VƯỢNG

Thực tiễn vận động của nền kinh tế thế giới những năm gần đây cho thấy, mô hình phát triển kinh tế theo xu hướng thị trường có sự điều tiết vĩ mô từ trung tâm, trong bối cảnh của thời đại ngày nay, là mô hình hợp lý hơn cả. Ở nước ta, việc thực hiện mô hình này, trong thực tế, chẳng những là nội dung của công cuộc đổi mới, mà hơn thế, còn là công cụ, là phương thức để đi tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Nền kinh tế nước ta hiện đang ở giai đoạn quá độ, chuyển tiếp từ nền kinh tế tập trung, hành chính – bao cấp sang nền kinh tế thị trường. Do vậy, thực chất của giai đoạn quá độ trong nền kinh tế nước ta, đương nhiên là một vấn đề đặc biệt có ý nghĩa, rất cần phải được nghiên cứu, xem xét: Nhận thức được thực chất của bước chuyển này, chi phối được nó, chúng ta sẽ tính được những sai lầm chủ quan, nóng vội duy ý chí hoặc khuynh hướng cực đoan, máy móc, sao chép, “nhập ngoại” các mô hình kinh tế thị trường ngoại lai một cách máy móc.

Đúng như ý kiến của một số nhà nghiên cứu lý luận, thực chất của bước chuyển đó trước hết là ở sự đổi mới các quan hệ sở hữu. Nếu như trước đây, nền kinh tế nước ta chỉ có một kiều sở hữu tương đối thuần nhất với hai hình thức tập thể và Nhà nước, thì hiện nay, cùng với hình thức sở hữu chủ đạo là sở hữu Nhà nước, nền kinh tế nước ta còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác. Những hình thức sở hữu đó, trong thực tiễn vận hành của nền kinh tế, không hẳn đã đồng bộ với nhau. Song về tổng thể, chúng là những bộ phận khách quan của nền kinh tế, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi đa dạng và năng động của kinh tế thị trường.

Điều có ý nghĩa đối với việc xác định đặc điểm của nền kinh tế quá độ ở nước ta hiện nay có lẽ vẫn là sự thừa nhận xu hướng chủ yếu trong sự vận động của nó: tiếp tục đổi mới và hoạt động có hiệu quả kinh tế Nhà nước để kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, làm đòn bẩy thúc đẩy và điều chỉnh các hoạt động của toàn bộ nền kinh tế đề trên cơ sở đó, giải quyết các vấn đề xã hội ngay ở tầng vĩ mô sao cho tăng trưởng kinh tế không trở nên mâu thuẫn gay gắt với trật tự bình thường của đời sống xã hội.

Continue reading

QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO VỀ CON NGƯỜI VÀ QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA XÃ HỘI

TS. NGUYỄN THANH – Đại học Mở TPHCM

TS. ĐỖ MINH HỢP  –  Viện Triết học, Viện KHXH Việt Nam

Khó có thể không nhận thấy một sự thực hiển nhiên là đa số các quốc gia trên thế giới hiện nay đang tiến hành công cuộc hiện đại hóa, chính vì vậy mà chúng ta có thể khẳng định rằng, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan. Nhưng, vấn đề không hẳn là ở tính chất khách quan của quá trình hiện đại hóa mà còn ở khả năng đạt tới trình độ, tính hiện đại. Đây là vấn đề về chủ thể của hiện đại hóa, vì hiện đại hóa không những là một quá trình khách quan mà còn là một chính sách, tức nó có chủ thể của mình. Đến lượt mình, chủ thể này lại thể hiện là đại diện của một nền văn hóa xác định, do vậy khả năng thành công, tiến độ, tốc độ của hiện đại hóa cần được và trước hết phải được khảo cứu trên bình diện chủ thể của nó.

Trước khi đi sâu vào vấn đề khả năng hiện đại hóa đối với các xã hội phương Đông cùng với nền văn hóa Khổng giáo chiếm ưu thế, chúng tôi nghĩ rằng, cần phải khái quát những đặc điểm của xã hội hiện đại để có được cái nhìn rõ hơn về quá trình này trên phương diện chủ thể của nó.

Theo chúng tôi, một xã hội hiện đại là xã hội có những dấu hiệu sau đây: 1) mức độ đô thị hóa, 2) mức độ biết chữ và sự hiện diện một hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, 3) số lượng báo chí lưu hành, 4) dân chủ hóa chính trị, 5) bảo đảm tự do kinh doanh, 6) thừa nhận xã hội là một cơ thể thế tục, 7) nâng cao tính ổn định xã hội, 8 ) phân hóa ngành nghề, 9) hệ thống tổ chức xã hội của quần chúng, 10) ý thức của công dân về tổ quốc của mình, 11) hệ thống pháp luật phát triển, 12) tự do tinh thần. Hiện đại hóa đòi hỏi phải cải biến toàn bộ cơ cấu của xã hội, toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội và điều quan trọng nhất là cải biến bản thân con người. Hiện đại hóa không những là cải thiện mức sống vật chất mà còn là cải biến quan niệm, tâm tính của con người. Sống trong căn hộ hiện đại, có xe ô tô riêng, có đồ ăn phương Tây, ăn mặc kiểu phương Tây, tất cả những thứ đó vẫn chưa đủ để nói tới hiện đại hóa. Đối với một người thì hiện đại hóa có nghĩa là có tri thức và quan niệm hiện đại, hành động phù hợp với các chuẩn mực hiện đại, còn đối với cơ thể xã hội thì cần phải nói tới nhà nước pháp quyền, xu hướng dẫn tới công bằng, hợp lý và đồng thuận. Sẽ sai lầm nếu cho rằng, hiện đại hóa là hoàn toàn đoạn tuyệt với toàn bộ kinh nghiệm văn hóa và xã hội trước đó; hiện đại hóa không phải là một cuộc vận động chống lại truyền thống hay phi truyền thống, mà kế thừa, phát huy truyền thống. Hiện đại hóa có một phương diện quan trọng là hiện đại hóa chính trị. Nó bao gồm việc thay đổi cơ cấu và chức năng của hệ thống chính trị, hợp lý hóa hệ thống này; bao gồm việc dân chủ hóa quá trình thực hiện quyền lực của đa số (dân quyền), nâng cao hiệu quả hoạt động của chính phủ.

Continue reading

HIỂU ĐƯỢC SỰ KHÁC BIỆT GIỮA QUYẾT ĐỊNH “MUỐN” VÀ “NÊN”

image MINH HÀ (Dịch từ HSB)

Bánh pizza hay món sa-lát? Những người tiêu dùng có những ý kiến khác nhau khi mua những thứ mà họ muốn (bánh pizza) với những món ăn họ nên mua (món sa-lát). Trong bản nghiên cứu thói quen mua hàng tạp hóa và thuê đĩa DVD trực tuyến của người tiêu dùng, Katy Milkman và Todd Rogers thuộc trường Kinh doanh Harvard, cùng với giáo sư Max Bazerman, cung cấp những hiểu biết sâu sắc về sự xung đột giữa muốn và nên cũng như trách nhiệm của các nhà quản lý trong những lĩnh vực như dự đoán nhu cầu, thói quen mua sắm của người tiêu dùng, và cách xếp đặt hàng hóa cho phù hợp.

Những khái niệm chính bao gồm:

  • Mọi người thường nghĩ rằng họ sở hữu nhiều cái tôi với những quyền lợi cạnh tranh khác nhau – cái “tôi muốn” đấu tranh với cái “tôi nên”. Cái tôi muốn đòi hỏi phải có sự hài lòng ngay lập tức trong khi cái tôi nên lại hướng tới quyền lợi lâu dài hơn.

  • Khi đặt mua hàng cho một khoảng thời gian dài (trong vòng 5 ngày) thì người mua hàng trực tuyến sẽ cân nhắc chất lượng hàng hóa hơn là khi đặt mua hàng cho ngày hôm sau.

  • Các cửa hàng tạp hóa nên đặt hàng hóa (“nên” bán) ở gần nơi ra vào để có thể dễ tìm thấy. Những người bán lẻ hay bán buôn trực tuyến nên lường trước được thời gian chuyển giao đơn hàng đúng theo yêu cầu hơn nữa vì khách hàng không muốn mất thời gian.

Continue reading

%d bloggers like this: