BÁO CÁO KHẢO SÁT CẢI CÁCH THUẾ Ở ANH

Phần 1: Tổng quan về hệ thống thuế của Anh

1. Giới thiệu chung về Cơ quan Thuế Vương quốc Anh

Hệ thống thuế của Anh gồm hai tổ chức chịu trách nhiệm quản lý thu thuế: Cơ quan Thu nội địa (Cơ quan Thuế) Anh, chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế trực thu và Cơ quan Hải quan chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế gián thu và thuế tiêu thụ đặc biệt. Cả hai cơ quan đều trực thuộc Bộ Ngân khố (Bộ Tài chính) của Anh.  Hiện nay, Anh đang chuẩn bị để sáp nhập hai tổ chức thu thuế này thành một. Việc hợp nhất hai tổ chức này xuất phát từ 02 yêu cầu:

            – Theo xu hướng phát triển của thế giới và khuyến nghị của các tổ chức quốc tế;

            – Theo yêu cầu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thiểu sự trùng lắp việc giám sát và quản lý của 02 cơ quan thu.

Hoạt động của cơ quan Thuế được thanh, kiểm tra thường xuyên. Văn phòng Thanh tra Quốc gia, trực thuộc Chính phủ, chịu trách nhiệm kiểm tra hoạt động của cơ quan thuế nhằm đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật, qua đó bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp. Bên cạnh Văn phòng Thanh tra Quốc gia còn có Uỷ an Kế toán công của Hạ nghị viện, Thanh tra của Nghị viện, Uỷ ban của Nghị viện về Quản lý hành chính công là các cơ quan có trách nhiệm kiểm tra hoạt động của Cơ quan Thuế. Thường niên có các cuộc họp giữa đại diện của Nghị viện và Tổng cục trưởng Tổng cục thuế để chất vấn hoạt động của Cơ quan Thuế.

Nhiệm vụ và chức năng của cơ quan thuế nội địa gồm:

– Quản lý các loại thuế trực thu;

– Quản lý các khoản phúc lợi xã hội;

– Quản lý các chương trình bảo hiểm quốc gia;

– Quản lý tiền lương hưu;

– Quản lý và theo dõi các khoản tín dụng sinh viên.

Cơ cấu tổ chức bộ máy của cơ quan thuế nội địa :

Ban Lãnh đạo Cơ quan thuế Anh gồm 3 thành viên: Tổng cục trưởng và hai Tổng cục phó. Tổng cục trưởng chịu trách nhiệm về việc đưa ra quyết định trong toàn bộ hệ thống của mình. Tổ chức của Cơ quan thuế Anh bao gồm các bộ phận:

– Quản lý đối tượng nộp thuế: gồm các văn phòng địa phương, văn phòng trung ương (bảo hiểm quốc gia, các khoản phải thu, trung tâm liên lạc), văn phòng quản lý ĐTNT lớn.

– Quản trị nội bộ: gồm bộ phận tài chính, quản lý về nguồn nhân lực, bộ phận đào tạo, chiến lược và kế hoạch, tin học

– Tuyên truyền

– Chính sách thu: gồm bộ phận thuế tài sản; thuế thu nhập cá nhân; thuế thu nhập công ty; thuế quốc tế; phân tích, nghiên cứu; sửa đổi luật;

– Tư vấn pháp lý,

– Văn phòng định giá,

– Xử lý khiếu nại.

(Sơ đồ tổ chức bộ máy đính kèm)

Phân bổ cán bộ:

Trong tổng số: 76.600 người làm công tác thuế của Vương quốc Anh thì có 50% cán bộ được bố trí trực tiếp quản lý đối tượng nộp thuế ở cấp Cục và cấp Chi cục, 35% cán bộ làm việc tại cơ quan thuế trung ương, 1% quản lý các đối tượng nộp thuế lớn, 6% cán bộ làm chính sách , 1% chuyên viết tài liệu ở cấp trung ương, 6% làm việc trong lĩnh vực quản trị nội bộ, 1% còn lại làm trong các lĩnh vực khác.

2. Các sắc thuế trong hệ thống thu nội địa :

2.1. Thuế thu nhập cá nhân:

– Ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân là 4.615 bảng (nhìn chung, mức lương tối thiểu đều cao hơn ngưỡng này). Bộ trưởng Bộ Tài chính có quyền thay đổi ngưỡng chịu thuế này. Trong năm tính thuế 2002-2003 có 29,4 triệu đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân. Đối tượng áp dụng là tất cả đối tượng cư trú của Anh, các khoản thu nhập có nguồn gốc phát sinh tại Anh. Năm tính thuế là từ 6/4 năm trước đến 5/4 năm sau. Mức thuế suất: 10%, 22% và 40%. Các cách thức quản lý thuế thu nhập cá nhân: khấu trừ tại nguồn, cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, một số chương trình đặc biệt đối với ngành công nghiệp xây dựng. Theo kinh nghiệm quản lý của Anh, không nên chuyển toàn bộ đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân sang áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp. Chỉ nên áp dụng cơ chế đối với khoảng 1/3 ĐTNT, còn lại nên áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn vì áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp tốn kém hơn nhiều so với cơ chế khấu trừ tại nguồn, ví dụ phải tăng nhiều chi phí cho công tác thanh tra, đào tạo thanh tra, cho công tác ứng dụng tin học…

2.2 Thuế thu nhập công ty:

Đối tượng nộp thuế là các công ty cư trú tại Anh và các chi nhánh công ty nước ngoài không phải là đối tượng cư trú của Anh. Cơ chế quản lý thuế là theo tự khai. Mức thuế suất:

            từ 0- 10.000 bảng        :           0%

từ 50.000- 300.000 bảng:                19%

từ trên 1.500.000 bảng :                   30%

2.3.  Thuế đánh vào lãi tài sản chuyển nhượng: áp dụng khi chuyển nhượng tài sản

2.4. Thuế đánh vào các khoản thu từ dầu khí:

Đối tượng chịu thuế là các khoản thu nhập từ dầu khí của các mỏ dầu đã được cấp phép (từ trước 3/1993, không đánh trên các mỏ dầu đã được cấp phép). Mức thuế suất là 50%.

2.5.  Thuế thừa kế:

Đối tượng chịu thuế là giá trị tài sản thừa kế của người chết và chuyển dịch quyền thừa kế. Đối tượng nộp thuế là người được thừa kế. Do văn phòng quản lý tài sản thu. Thuế suất áp dụng:

– Giá trị tài sản thừa kế đến 250.000 bảng thì không thu;

– Giá trị tài sản thừa kế trên 250.000 bảng thì áp dụng thuế suất 40%;

– Nếu chuyển dịch tài sản trong vòng 7 năm sau khi chế thì chịu mức thuế từ 8% đến 40%.

2.6 Lệ phí chứng thư

Đánh vào việc xác nhận các tài liệu chuyển dịch về đất, tài sản;

Thuế suất:

– Giá trị chuyển dịch đến 60.000 bảng là 0%;

– Giá trị chuyển dịch từ trên 60.000 bảng đến 250.000 bảng  là 1%;

– Giá trị chuyển dịch từ trên 250.000 bảng đến 500.000 bảng  là 3%;

– Giá trị chuyển dịch từ trên 500.000 bảng là 4%;

2.7 Đóng góp bảo hiểm xã hội: Tính trên cả tiền công và tiền thuế thu nhập cá nhân, bao gồm các mức;

– Loại 1: đối tượng làm công ăn lương: 11%

               đối tượng chủ lao động; 12,8%

– Loại 2: tự doanh         2 bảng /tuần

– Loại 3: 6,95 bảng/tuần

– Loại 4: tự doanh: 8%

            3. Số thu của cơ quan thuế

Tổng thu của cơ quan thuế nội địa (kỳ năm 2002-2003):

                                                                                                Đơn vị tính: tỷ bảng

Tên sắc thuế Số tiền Tỷ lệ (%)
Thuế thu nhập cá nhân 117,5 71,4%
Thuế thu nhập công ty 33,2 20,2
Thuế lợi tức tài sản chuyển nhượng 1,8 1,1
Thuế thừa kế 2,5 1,5
Thuế tem 8,2 5
Thuế dầu khí 1,4 0,9

Tổng thu của Chính phủ:

  Đơn vị tính: tỷ bảng

+ Thu thuế nội địa 164,5
+ Thu thuế hải quan và tiêu thụ đặc biệt 109,7
+ Các khoản đóng góp bảo hiểm xã hội 65
+ Các khoản thu tín dụng 3,9
+ các khoản thuế và thu khác 42,5
Tổng thu 385,6

Các khoản chi phí trong điều hành thu của cơ quan thu nội địa (2002-2003):

– Tổng chi phí: 2.828 triệu bảng;

– Tỷ lệ các khoản chi:

+ Chi hành chính hoạt động: 60%

+ Chi cho dịch vụ hỗ trợ: 18%

+ Chi dự án: 16%

+ Chi cho xây dựng chính sách: 6%.

            Phần 2: Giới thiệu về việc áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế của Anh

1. Những thay đổi cơ bản khi chuyển sang thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp

Năm 1996, Cơ quan thu nội địa Anh đã đưa vào áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế (TKTN). TKTN tác động tới hơn 8 triệu đối tượng nộp thuế cá nhân, chủ yếu là các đối tượng làm thuê và tự kinh doanh với các công việc rất phức tạp, 700 000 tổ chức hợp danh và 300 000 quĩ tín thác.

Để cho việc chuyển đổi cơ chế quản lý dược thành công, Anh đã dành 02 năm cho công tác chuẩn bị và tập dượt. Khi chuyển sang cơ chế tự kê khai thì việc khai, tính và nộp thuế đơn giản hơn, giải quyết được các mặt tồn tại của cơ chế quản lý cũ. TKTN là một thay đổi cơ bản trong việc quản lý thuế. Một số nội dung thay đổi so với cơ chế cũ là:

            1-  Về trách nhiệm tính thuế:

Thay đổi lớn nhất của cơ chế  là chuyển trách nhiệm xác định số thuế phải nộp từ cơ quan thuế (đối tượng nộp thuế nộp tờ khai, cơ quan thuế kiểm tra tính thuế và ra “thông báo” số thuế phải nộp) sang thành trách nhiệm của đối tượng nộp thuế (đối tượng nộp thuế phải chịu trách nhiệm tự khai, tự tính, tự nộp), tức là tờ khai do đối tượng nộp thuế khai là cơ sở pháp lý cho việc nộp thuế.

            TKTN đã thay đổi cơ bản phương thức tính thuế truyền thống- đó là thay việc tính thuế trên cơ sở thu nhập năm trước bằng việc tính thuế của từng năm trên khả năng nguồn thu nhập của năm đó. Cơ quan thuế sẽ không còn phải gửi các kết quả ước tính thuế cho đối tượng nộp thuế nữa. Với TKTN cơ quan thuế không thực hiện các công việc tính thuế có hiệu suất thấp mà thay bằng việc hướng dẫn khách hàng thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.

            2- Về mẫu tờ khai:

Trước khi chuyển sang cơ chế TKTN thì đối tượng nộp thuế phải thực hiện kê khai riêng rẽ đối với nhiều khoản thu nhập khác nhau, chuyển sang cơ chế tự kê khai thì chỉ tổng hợp trên 01 tờ khai (kèm tờ khai phụ nếu có), do đó, việc theo dõi và xử lý các số liệu về thu nhập và thuế dễ dàng và hiệu quả hơn. Cùng với việc thay đổi cách tính thuế khi chuyển sang cơ chế TKTN, mẫu tờ khai mới được ban hành gồm mẫu tờ khai chính có 4 trang, và các mẫu tờ khai phụ dành cho việc kê khai một số khoản thu nhập khác nhau, như thu nhập từ lợi tức chuyển nhượng các tài sản v.v. Mục tiêu của việc thiết lập mẫu tờ khai là dễ kê khai và Luật cũng có nội dung quy định Bộ trưởng Bộ Tài chính có quyền sửa đổi mẫu tờ khai khi cần thiết.

            3- Về thời hạn nộp tờ khai: Trước khi chuyển sang cơ chế tự kê khai, Luật không quy định rõ ràng về thời hạn nộp tờ khai.

            Theo cơ chế mới, thời hạn nộp tờ khai được quy định rõ ràng. Sau thời hạn nộp tờ khai, nếu ĐTNT không nộp tờ khai, cơ quan thuế sẽ tính phạt tự động (mức phạt: 100 bảng). Đối tượng nộp thuế có quyền lựa chọn: tự kê khai, tính thuế, hoặc chỉ kê khai các thông tin liên quan (doanh thu, chi phí…) và cơ quan thuế tính số thuế phải nộp. Nếu đối tượng nộp thuế tự tính, tự kê khai thì thời hạn nộp tờ khai là 31/1; Nếu đối tượng nộp thuế muốn cơ quan thuế tính thì thời hạn xác định cuối cùng của cơ quan thuế là 30/9, trong trường hợp này luật thuế ghi rõ: nếu cơ quan thuế tính thuế thay thì cũng chỉ là tạm chấp nhận các thông tin (doanh thu, chi phí…) do đối tượng nộp thuế cung cấp.

4- Về nguyên tắc xử lý tờ khai:

Cơ quan thuế chuyển từ nguyên tắc “kiểm tra trước, xử lý sau” sang “xử lý trước, kiểm tra sau”, tức là cơ quan thuế tạm chấp nhận các tờ khai của đối tượng nộp thuế để nhập và xử lý ngay các tờ khai, còn cơ quan thuế sẽ tiến hành kiểm tra sau. (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế tính thuế cho ĐTNT cũng chỉ là tính thuế trên cơ sở các thông tin về doanh thu, chi phí… do đối tượng nộp thuế cung cấp và sẽ kiểm tra tính xác thực của các thông tin này sau).

Trường hợp trong quá trình xử lý tờ khai, cơ quan thuế phát hiện đối tượng nộp thuế có lỗi trong kê khai (chủ yếu là lỗi về số học) thì cơ quan thuế được quyền sửa lỗi và thông báo cho đối tượng nộp thuế biết về việc sửa lỗi kèm theo số phải nộp mới do cơ quan thuế tính lại.

            Trường hợp đối tượng nộp thuế tự phát hiện lỗi thì đối tượng nộp thuế được kê khai điều chỉnh trong 12 tháng và nộp tiếp tiền thuế còn thiếu, bao gồm cả tiền lãi tính theo lãi suất ngân hàng thương mại kể từ ngày hết thời hạn nộp tờ khai. Thậm chí nếu số tiền xin điều chỉnh quá lớn hoặc đối tượng nộp thuế quá cẩu thả trong việc khai thuế thì cơ quan thuế có quyền phạt.

            5- Về ấn định thuế:

Trước khi chuyển sang cơ chế TKTN thì đối tượng nộp thuế được quyền khiếu nại về số thuế ấn định. Chuyển sang cơ chế TKTN thì đối tượng nộp thuế  không được quyền khiếu nại việc ấn định thuế của cơ quan thuế cho trường hợp không nộp tờ khai. Nếu muốn chứng minh việc ấn định không đúng thì ĐTNT phải nộp tờ khai thuế. Đồng thời, luật cũng không cho phép trì hoãn việc nộp thuế khi cơ quan thuế đã ấn định thuế.

6- Về lưu giữ sổ sách, chứng từ:

Trong cơ chế TKTN, đối tượng nộp thuế phải có trách nhiệm lưu giữ chứng từ để chứng minh số thuế đã kê khai: lưu giữ trong thời hạn 05 năm đối với trường hợp kinh doanh và lưu giữ 01 năm đối với làm công ăn lương, mức phạt là 3.000 bảng nếu không lưu giữ sổ sách, chứng từ.

7- Về nộp thuế:

Luật quy định có 02 thời hạn nộp là ngày 31/1 và ngày 31/7, nếu sau hai thời điểm này mà chưa nộp thuế thì đối tượng nộp thuế bị tính lãi (phương pháp tính lãi luỹ kế). Ngoài ra luật còn quy định bổ sung là sau 28 ngày chậm nộp (ngày 28/2) mà đối tượng nộp thuế vẫn chưa nộp thì ngoài việc bị tính lãi, còn bị phạt với mức 5% trên số thuế và số tiền lãi phải nộp và nếu đến 28/8 (sau 28 ngày thời hạn nộp lần 2) mà vẫn chưa nộp thì tính phạt tiếp 5% trên tiền thuế phải nộp cộng tiền lãi và tiền phạt 5% lần trước;

8- Về công tác thanh tra:

Trước khi áp dụng cơ chế TKTN, Luật không yêu cầu có sự phối hợp giữa các cơ quan khác nhau. Cán bộ thuế xem tờ khai thuế, nếu không chấp nhận kết quả kê khai thì có thư gửi ĐTNT nêu lý do không chấp nhận và nêu số thuế xác định lại của cơ quan thuế, đồng thời gửi tới Hội đồng kế toán. Nếu Hội đồng này đồng ý thì cơ quan thuế mới được quyền yêu cầu ĐTNT xuất trình sổ sách chứng từ liên quan đến việc kê khai số thuế để chứng minh số thuế đã kê khai. Đối tượng nộp thuế được quyền từ chối xuất trình sổ sách chứng từ liên quan đến việc kê khai số thuế và có thể không chấp nhận số thuế cơ quan thuế tính. Trong trường hợp này cơ quan thuế chuyển vụ việc sang Uỷ ban giải quyết khiếu nại để yêu cầu đối tượng. Vì vậy thực tế cơ quan thuế không có quyền hạn gì trong việc bắt buộc đối tượng phải giải trình.

Khi chuyển sang cơ chế TKTN, Luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn cơ quan thuế được quyền kiểm tra bất kỳ một đối tượng nộp thuế nào mà không cần phải nêu lý do. C¬ quan thuÕ ph¶i tiÕn hµnh b¾t ®Çu viÖc thanh tra trong vßng 12 th¸ng kÓ tõ ngµy hÕt h¹n nép tê khai. Sau 12 th¸ng, c¬ quan thuÕ chØ ® îc thanh tra khi cã th«ng tin tõ c¸c nguån kh¸c vÒ viÖc cÇn ph¶i tiÕn hµnh thanh tra.

Khi nhận được thông báo thanh tra doanh nghiệp không có quyền từ chối thanh tra và phải cung cấp sổ sách tài liệu và trả lời các câu hỏi có liên quan. Cơ quan thuế không được xuống doanh nghiệp yêu cầu doanh nghiệp cung cấp sổ sách tài liệu kế toán mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm gửi  sổ sách tài liệu lên cơ quan thuế và đến cơ quan thuế giải trình khi có thông báo của cơ quan thuế đến làm việc liên quan tới nội dung thanh tra. Khi doanh nghiệp thấy việc thanh tra kéo dài hoặc gây phiền hà cho doanh nghiệp thì có quyền đề nghị Uỷ ban giải quyết khiếu nại xem xét dừng cuộc thanh tra. Khi xem xét nếu thấy đề nghị của doanh nghiệp là hợp lý Uỷ ban giải quyết khiếu nại quyết định trong vòng 30 ngày sau cơ quan thuế phải kết thúc thanh tra.

2. Đánh giá việc thực hiện chuyển đổi sang cơ chế tự kê khai tự nộp thuế:

Tháng 7/2001, Văn phòng Thanh tra Quốc gia đã tiến hành đánh giá kết quả của việc chuyển đổi sang cơ chế tự khai tự nộp và kết luận cơ chế quản lý mới đã nâng cao hiệu quả quản lý đối với thuế thu nhập và lợi tức từ chuyển nhượng tài sản. Cơ chế mới làm cho việc tính thuế đơn giản hơn và cho phép cơ quan thuế tập trung cao hơn vào việc quản lý tính chấp hành của ĐTNT.

Việc áp dụng cơ chế tự khai, tự nộp của cơ quan thuế đã tăng số thu khoảng 350 triệu Bảng trong năm 1999-2000. Cơ quan thuế nâng cao hiệu quả của việc chấp hành nghĩa vụ thuế thông qua việc áp dụng các phương pháp phân tích rủi ro tinh vi hơn, tăng cường việc thu thập thông tin ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế, áp dụng các biện pháp phạt và ấn định thuế để bảo đảm việc nộp tờ khai đúng hạn; và áp dụng các phương pháp khác nhau để chọn lựa các tờ khai để thanh tra kiểm tra. Theo đánh giá  của Văn phòng Thanh tra Quốc gia, tính hiệu quả của phương thức quản lý mới được thể hiện trên ba lĩnh vực sau:

– Xác định đối tượng nộp thuế:

Mọi đối tượng nộp thuế đều có nghĩa vụ kê khai thu nhập và lợi tức cho Cơ quan Thuế và nộp thuế tương ứng với thu nhập thu được. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi đối tượng đều chấp hành nghiêm chính qui định này. Cơ quan Thuế hiện sử dụng rất nhiều biện pháp và hệ thống quản lý để xác định đối tượng nộp thuế nào phải thực hiện TKTN và đôn đốc họ nộp tờ khai đúng hạn. Nhờ vào các thông tin điều tra bí mật, cơ quan thuế đã truy thu thêm 21.8 triệu Bảng trong năm 1999-00. Qua điều tra về nền kinh tế ngầm, Cơ quan Thuế đã xác định các đối tượng không kê khai thuế và các cá nhân không kê khai các công việc không thường xuyên và các thu nhập bằng tiền mặt (làm việc ngoài giờ hoặc kiêm nhiệm) và các loại hình trốn thuế khác. Cơ quan Thuế đã mở rộng phạm vi và mức độ của việc kiểm tra chéo thông tin do đối tượng nộp thuế kê khai với thông tin của bên thứ ba, ví dụ như thông tin về lãi suất do ngân hàng và các công ty xây dựng trả, đồng thời cơ quan Thuế đang thương thảo với các chính quyền địa phương về việc cung cấp thông tin liên tục cho các cơ quan thuế địa phương về lợi nhuận do các chủ có nhà cho thuê. Cơ quan Thuế cũng đang xây dựng cơ sở dữ liệu để lưu giữ các thông tin thu được từ các hoạt động điều tra bí mật ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương đối với các mục đích cụ thể.

Quản lý các tờ khai không nộp đúng hạn:

Trong bốn năm qua, khoảng 90% số tờ khai thuế được nộp đúng hạn, điều này thể hiện sự thành công của chính sách đang thực hiện. Cơ quan Thuế ước tính khoản tiền thuế rủi ro thất thu nằm trong khoảng từ 150 triệu đến 300 triệu Bảng mỗi năm. Cơ quan Thuế đang tiến hành nghiên cứu thái độ của từng loại đối tượng nộp thuế từ đó để hiểu được nguyên nhân vì sao các đối tượng này không nộp tờ khai đúng hạn. Cơ quan Thuế cũng đã xây dựng hệ thống thông tin để giám sát việc áp dụng các biện pháp phạt, và ấn định thuế, và hiệu quả của các biện pháp này trong việc bảo đảm tờ khai được nộp đúng hạn. Nếu không có các thông tin này cơ quan Thuế không thể đánh giá được liệu các biện pháp có tác dụng hay không và liệu các cơ quan thuế địa phương có sử dụng các biện pháp này một cách đúng đắn hay không;

– Thanh tra thuế:

Cơ quan thuế có thêm quyền hạn thanh tra đối với các ĐTNT tự kê khai. Cơ quan thuế sử dụng quyền hạn này để ngăn chặn và điều tra các vụ vi phạm. Cơ quan Thuế tiếp tục tăng cường việc chuẩn bị cho các cuộc thanh tra bằng cách:

– Sử dụng các đội chuyên gia tiến hành các đánh giá rủi ro và lựa chọn các trường hợp điều tra

– Sử dụng thông tin của các bên thứ ba trong quá trình đánh giá rủi ro

– Phân tích dữ liệu đối với số thuế thu được từ các trường hợp thanh tra đã kết thúc để xác định các đặc điểm chung, từ đó xây dựng được trọng tâm trong lựa chọn các trường hợp thanh tra .

Phần 3: Giới thiệu công tác quản lý thuế theo chức năng trong cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế

I. Công tác tuyên truyền hỗ trợ ĐTNT

Phân bổ nguồn nhân lực:

            Công tác tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong các nỗ lực để đảm bảo sự thành công của TKTN. Đây  được coi là nhiệm vụ cơ bản của cơ quan thuế, nên số cán bộ làm công tác này là rất lớn khoảng có 24.500, chiếm 28% số cán bộ toàn ngành thuế và bằng 55% số cán bộ của các Cục thuế và Chi cục thuế.Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ thực hiện công tác hỗ trợ đang thay đổi theo xu hướng ngày càng giảm số cán bộ xuống do việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật như điện thoại, internet..vv nên công tác dịch vụ được thuận lợi hơn.

Cơ sở vật chất để thực hiện công tác  hỗ trợ:

Các phòng tiếp xúc hỗ trợ ĐTNT của cơ quan thuế Anh thường được bố trí gần ngay phía cửa ra vào và rất thuận tiện cho người nộp thuế. Đây đồng thời là nơi tiếp nhận các loại văn bản giấy tờ gửi đến cơ quan thuế. Các phòng được bố trí trong một không gian rộng có nơi đón tiếp khách hàng, có ghế ngồi chờ, có giá để các tài liệu hướng dẫn và các tờ khai về nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề và bằng nhiều ngôn ngữ. Các phòng này còn trang bị một số máy tính nối mạng để người nộp thuế có thể truy cập tìm hiểu chính sách thuế. Tính đến cuối tháng 8/2004 toàn ngành thuế nước Anh với 76.600 công chức nhưng được trang bị đến 90.000 máy tính cá nhân và 3.500 máy in, 750 máy chủ để công tác hỗ trợ ĐTNT.

Công tác lập kế hoạch:

            Kế hoạch công việc được căn cứ vào nguồn kinh phí do Chính phủ cấp và khối lượng công việc hỗ trợ người nộp thuế cần hoàn thành trong năm của cơ quan thuế. Nhìn chung, công tác lập kế hoạch cần phải rất chặt chẽ vì ngân sách cấp ngày càng hạn chế nhưng khối lượng công việc lại ngày càng nhiều lên. Việc xây dựng kế hoạch hỗ trợ được thực hiện tại các cấp của cơ quan thuế như sau:

            – Căn cứ vào chính sách của Chính phủ, Ban lãnh đạo cơ quan thuế phải xây dựng các mục đích, mục tiêu công việc phù hợp với các thỏa thuận với công chúng. Các kế hoạch đã lập phải nêu rõ được các phòng, ban phải làm được những việc gì trong một năm.

– Trên cơ sở kinh phí được Bộ Tài chính duyệt, Ban lãnh đạo bắt đầu phân bổ ngân sách.

– Ban lãnh đạo yêu cầu các Vụ, các bộ phận trong Cơ quan thuế phải xây dựng kế hoạch công tác phục vụ mục tiêu đề ra.

– Đối với các vùng, các chi cục việc phân bổ kinh phí và lập kế hoạch phải đảm bảo được mục tiêu, đảm bảo về số lượng công việc và về chất lượng công việc. Mỗi vùng, mỗi chi cục phải xây dựng kế hoạch đảm bảo phù hợp với khả năng của mình và đảm bảo theo yêu cầu của cấp trung ương đề ra.

Các hoạt động hỗ trợ:

            Để tuyên truyền, hỗ trợ ĐTNT, cơ quan thuế Anh đã tiến hành nhiều hình thức dịch vụ phong phú với phương châm phục vụ khách hàng tốt nhất:

– Duy trì hệ thống điện thoại hỗ trợ việc TKTN. Hệ thống này trả lời khoảng 1 triệu cuộc gọi/năm. Mạng điện thoại trả lời hoạt động từ 8 sáng đến 10 giờ tối hàng ngày (trừ lễ giáng sinh, ngày bán hàng hạ giá và năm mới). Trong trường hợp, các khách hàng cần bổ sung tờ khai, các tờ giải thích hoặc các thông tin liên quan đều có thể gọi điện đến trung tâm TKTN.

– Tiến hành các chiến dịch tuyên truyền toàn quốc đối với các đối tượng nhận được tờ khai nhằm nâng cao ý thức trong việc nộp tờ khai đúng hạn (30/9 trong trường hợp có quan Thuế phải hỗ trợ tính toán và 31/1 trong trường hợp tự tính thuế). Việc tuyên truyền về TKTN được thực hiện vào tháng 7, 9 và tháng 1 hàng năm và nhằm mục đích động viên đối tượng nộp thuế nộp tờ khai sớm cũng như quảng bá cho các dịch vụ internet và dịch vụ hỗ trợ của cơ quan thuế. Các chiến dịch tuyên truyền được thực hiện thông qua các phương tiện phát thanh, truyền hình và internet.

– Trên mạng internet  hoặc tại các địa điểm hỗ trợ của cơ quan thuế có sẵn tài liệu hướng dẫn cách thức điền tờ khai.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế Chính phủ Anh mong muốn cơ quan thuế có thể mở cửa tiếp khách hàng tại các trung  tâm hỗ trợ cả 7 ngày trong tuần và 24 giờ trong ngày. Thực tế hiện nay, giờ làm việc của các phòng hỗ trợ trực tiếp được bắt đầu vào lúc 8 giờ 30 phút đến 9 giờ tối của các ngày từ thứ hai đến thứ 6 trong tuần có một số nơi còn phục vụ cả sáng ngày thứ bẩy để mọi người có thể đến trao đổi, đề nghị hướng dẫn. Do đó, cán bộ làm công tác hỗ trợ phải phân công làm việc theo ca để đảm bảo đáp ứng được yêu cầu của ĐTNT (khách hàng). Trong những khoảng thời gian theo quy định phải nộp tờ khai như: tháng 1, tháng 7, tháng 9 hàng năm thường là khoảng thời gian có nhiều cuộc gọi điện thoại hoặc có nhiều người đề nghị được tư vấn trực tiếp nên cơ quan thuế phải bố trí người để đáp ứng các yêu cầu của người nộp thuế.

Nhằm đáp ứng yêu cầu khách hàng chỉ cần hỏi một nơi là có thể giải đáp được mọi thắc mắc về chính sách thuế, cơ quan thu nội địa Anh phải thay đổi cách thức tổ chức công tác phục vụ để đạt được yêu cầu trên như là mở ra việc hướng dẫn trên mạng, thành lập các trung tâm trả lời điện thoại, trung tâm hướng dẫn có thể phối hợp với các cơ quan khác để giúp đỡ người nộp thuế về mọi mặt trong đời sống chứ không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn về kê khai nộp thuế và các chính sách thuế.

Theo thống kê của cơ quan thu nội địa vương quốc Anh thì nhu cầu tư vấn được sắp xếp theo thứ tự: 1. văn bản; 2. điện thoại; 3. tư vấn trực tiếp; 4. điện tử. Tuy nhiên, theo xu hướng hiện nay thì hình thức tư vấn điện tử ngày càng tăng nhanh rõ rệt và ngày càng có nhiều người hỏi bằng điện thoại hơn.

Trên thực tế với mục đích giúp đỡ người nộp thuế, Cơ quan thuế luôn cố gắng làm đúng nhưng không thể tránh được những trường hợp bị sai sót. Nếu ĐTNT kê khai và nộp thuế không đúng qui định và ĐTNT chứng minh được lỗi này là do cán bộ thuế hướng dẫn sai thì ĐTNT không bị phạt, nhưng phải nộp đủ số thuế còn thiếu. Để tránh hiện tượng sai sót trong hướng dẫn kê khai trong bộ phận dịch vụ hỗ trợ ĐTNT có một đội xử lý khiếu nại của người nộp thuế. Khi nhận được khiếu nại và nếu xác định được việc hướng dẫn của cơ quan thuế là có sai sót thì cơ quan thuế sẽ tiến hành các bước xử lý cụ thể như:

– Xin lỗi, nếu như đó là lỗi về cách ứng xử

– Xin lỗi và hướng dẫn lại cho chính xác, nếu như có sai sót trong hướng dẫn.

– Xin lỗi và hướng dẫn lại đồng thời tính trả lại tiền lãi cho ĐTNT nếu việc tư vấn làm ảnh hưởng đến thu nhập của người nộp thuế.

Để kiểm tra được chất lượng các cuộc tư vấn các tổ kiểm tra xử lý tiến hành kiểm tra lại các văn bản đã trả lời đối chiếu với chính sách chế độ xem có phù hợp và hợp lý không, đối với hình thức tư vấn trực tiếp hoặc tư vấn qua điện thoại thì tổ kiểm tra xử lý có thể phỏng vấn trực tiếp những người đã được tư vấn qua điện thoại hoặc đến trực tiếp để biết được chất lượng các câu trả lời của cán bộ thuế.

Đánh giá kết quả  thực hiện:

Để đảm bảo việc thực hiện kế hoạch được tốt Cơ quan thu nội địa Vương quốc Anh đã tổ chức một hệ thống theo dõi hàng năm, hàng tháng về kế hoạch công việc đã được thực hiện đến đâu. Cơ quan thuế tổ chức công tác thanh tra nội bộ để kiểm tra công tác được triển khai như thế nào. Cơ quan thuế cũng đã xây dựng hệ thống tiêu chí để đánh giá kết quả thực hiện. Ví dụ: theo yêu cầu của cơ quan thu nội địa thì năm 2003 có 80% số văn thư được gửi tới phải được giải quyết trong 15 ngày hoặc 85% số người đến đề nghị tư vấn chỉ phải chờ trong vòng 30 phút, 90% các cuộc điện thoại được trả lời sau 20 giây và 99% số tờ khai nhận được trước ngày 30 tháng 9 được nhập vào máy đến ngày 31 tháng 12.

Theo thống kê của cơ quan thuế Anh thì tính đến cuối năm 2003 về trả lời văn bản đã thực hiện đạt được 85% số văn bản trả lời trong 15 ngày trong khi yêu cầu đề ra là phải đạt được 80%; có 90% số cuộc gọi đến được trả lời sau 20 giây; có 87% số người đến trực tiếp tư vấn chỉ phải chờ trong 30 phút trong khi yêu cầu chỉ là 85%; có 99 % số tờ khai đã được nhập trước ngày 31 tháng 12. Như vậy, về cơ bản là công tác hỗ trợ người nộp thuế của cơ quan thuế Anh đã đáp ứng được yêu cầu công việc của công tác quản lý thu thuế, hỗ trợ tốt cho người nộp thuế và đảm bảo được số thu cho Ngân sách.

II. Công tác thanh tra thuế

1. Về tổ chức bộ máy thanh tra

– Tổng số cán bộ toàn ngành thuế nước Anh là 76.000 người, trong đó số cán bộ làm công tác thanh tra chiếm khoảng 31% tổng số cán bộ toàn ngành.

– Việc bố trí hệ thống thanh tra thuế:

a/ Tại văn phòng Cơ quan thuế cấp trung ương có các bộ phận:

+ Bộ phận tuân thủ đặc biệt: Nhóm này có chức năng điều tra những đối tượng có hành vi trốn thuế, tránh thuế lớn để đưa ra toà khởi tố.

+ Bộ phận nội bộ ngành: Nhóm này có chức năng thanh tra trong nội bộ ngành việc triển khai, thực hiện các quy định của luật và quy trình quy chế của ngành đề ra.

+ Bộ phận chính sách thu: Có chức năng xây dựng các quy trình thanh tra, sổ tay nghiệp vụ thanh tra, xây dựng phần mềm ứng dụng các chỉ tiêu, chuẩn mực trên mạng máy tính hỗ trợ cho công tác thanh tra; Xây dựng mẫu biên bản kết luận và các biểu mẫu, phụ lục phục vụ công tác thanh tra; có văn bản hướng dẫn và chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm thống nhất trong cả nước.

b/ Tại các Cục thuế vùng có:

+ Phòng thanh tra đối tượng lớn và rất lớn (được bố trí ở một số cục thuế vùng tập trung các đối tượng kinh doanh lớn)

+ Phòng thanh tra đối tượng vừa và nhỏ

c/ Tại các Chi cục: có bộ phận thanh tra trong đó chia ra thành bộ phận thanh tra đối tượng lớn; Bộ phận thanh tra đối tượng vừa và nhỏ.

Trong từng bộ phận thanh tra được chia thành 3 nhóm: nhóm xây dựng đề án, nhóm thu thập hồ sơ và phân tích thông tin, nhóm thanh tra trực tiếp.

2- Về công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm

a/ Bộ phận chính sách thu thuế của trung ương hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ của Tổng cục hướng dẫn việc xây dựng kế hoạch thanh tra cần tập trung vào đối tượng, ngành, nghề nào? điều chỉnh tỷ lệ đối tượng thanh tra giữa các ngành nghề.

b/ Cục thuế trên cơ sở chỉ đạo của tổng cục; căn cứ vào đặc điểm tình hình thực tế trên khu vực địa bàn mình quản lý để hướng dẫn chi tiết về kế hoạch thanh tra trên địa bàn.

c/ Các chi cục các phòng thanh tra của cục căn cứ vào chỉ đạo của cục dể xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm của mình trình bộ phận cán bộ cao cấp( lãnh đạo đơn vị) duyệt để thực hiện

d/ Phương pháp  lập kế hoạch

– Theo kinh nghiệm của cơ quan thuế Anh thông thường kế hoạch thanh tra thuế được xây dựng theo cơ cấu:

+ 40% là khối lượng công việc thanh tra từ cơ quan thuế trung ương chỉ đạo xuống bên dưới thực hiện

+ 10% đối tượng thanh tra lựa chọn ngẫu nhiên

+ 50% đối tượng thanh tra là kế hoạch xây dựng của phòng thanh tra (cục) và chi cục

– Căn cứ vào văn bản chỉ đạo của trung ương, các bộ phận chịu trách nhiệm lập kế hoạch cấp Cục và cấp chi cục (gồm phòng thanh tra đối tượng lớn, phòng thanh tra đối tượng vừa và nhỏ của cục thuế, bộ phận chọn đối tượng của phòng thanh tra chi cục) sẽ lập kế hoạch và lập danh sách các đối tượng thanh tra trong năm. Các căn cứ để lựa chọn đối tượng thanh tra

+ Căn cứ vào nguồn nhân lực hiện có của bộ phận thanh tra đối tượng

+ Căn cứ vào ngành nghề, quy mô của đối tượng thanh tra (phụ thuộc mức độ rủi ro, tính phức tạp, khối lượng công việc dẫn đến tác động thời gian một cuộc thanh tra dài hay ngắn)

+ Căn cứ vào số liệu trên tờ khai thuế năm, hệ thống báo cáo tài chính, các thông tin trên hệ thống máy tính, kho dữ liệu lịch sử về đối tượng (theo quy định của cơ quan thuế Anh kho dữ liệu lưu trữ về tình hình hoạt động kinh doanh của đối tượng trong 6 năm liên tục). Trên cơ sở các tài liệu này các bộ phận lập kế hoạch của Cục và Chi cục phân tích và dựa vào kinh nghiệm của cán bộ để xác định mức độ rủi ro theo từng ngành nghề, từng đối tượng kinh doanh (ngành, nghề, đối tượng nào qua phân tích có hệ số rủi ro lớn thì hiệu quả thanh tra lớn). Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch thanh tra và lập danh sách đối tượng thanh tra (danh sách đối tượng thanh tra lập theo thứ tự mức độ rủi ro từ cao xuống thấp).

– Sau khi xây dựng được kế hoạch thanh tra và lập danh sách đối tượng thanh tra bộ phận xây dựng kế hoạch phải trình bộ phận cán bộ cao cấp (lãnh đạo đơn vị duyệt).

3. Về trình tự thực hiện  thanh tra thuế tại nước Anh (trên cơ sở khảo sát thực tế tại chi cục thuế London)

– Chi cục thuế London quản lý hoạt động kinh doanh của các đối tượng là Công ty lớn, công ty nước ngoài, công ty vừa và nhỏ, hàng năm tiếp nhận trên 4.000 tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp.

– Tổng số cán bộ làm công tác thanh tra 250 người/630 người = 31% tổng số cán bộ của Chi cục.

– Về hoạt động thanh tra của Chi cục thuế:

a/ Bộ phận chọn đối tượng thanh tra:

Nhiệm vụ của bộ phận này căn cứ vào kế hoạch thanh tra của Cục chỉ đạo;  thông qua việc phân tích mức độ rủi ro theo ngành, nghề, từng đối tượng để xây dựng kế hoạch thanh tra kiểm tra của Chi cục. Công việc cụ thể:

Bước1:

– Căn cứ vào nhiệm vụ và kế hoạch thanh tra của các Cục thuế giao (thông thường kế hoạch thanh tra đựơc xây dựng theo cơ cấu: 40% công việc xuất phát từ Trung ương chỉ đạo xuống thanh tra các đối tượng thuộc khu vực ngành nghề kinh doanh có mức độ rủi ro lớn; 10% chi cục chọn ngẫu nhiên trong tổng số tờ khai của đối tượng do chi cục quản lý; 50% là kế hoạch thanh tra do chi cục xây dựng (kế hoạch thanh tra của chi cục chủ yếu là thanh tra theo từng chuyên đề)).

– Căn cứ vào quy mô thanh tra (thanh tra toàn diện hay thanh tra chuyên đề); Căn cứ vào nguồn nhân lực của bộ phận thanh tra để xác định số lượng đối tượng phải thanh tra trong năm đối với từng ngành, nghề.

Bước2:

Trên cơ sở số lượng đối tượng thanh tra dự kiến cho từng ngành, nghề nêu trên; cán bộ bộ phận xây dựng đề án căn cứ vào số liệu của các tờ khai thuế đã được nhập vào máy tính và được truyền vào mạng nội bộ để kiểm tra phân tích thông qua hệ thống các tiêu thức đánh giá chuẩn (phần mềm hỗ trợ chương trình thanh tra được cài sẵn trong máy tính); Sử dụng phương pháp đối chiếu phân tích dọc, ngang với hệ thống báo cáo tài chính, các báo cáo thanh toán qua tài khoản ngân hàng; các khoản thu nhập tài sản của doanh nghiệp; khai thác kho dữ liệu lịch sử của đối tượng (theo quy định của Anh số liệu lịch sử của đối tượng được lưu trữ của 6 năm liên tục). Trên cơ sở khai thác và phân tích trên của cán bộ bộ phận xây dựng đề án xác định mức độ rủi ro của từng đối tượng trong từng ngành nghề để chọn ra đối tượng cần thanh tra; lập danh sách đối tượng đưa vào kế hoạch thanh tra. Danh sách đối tượng thanh tra cần phải ghi rõ: tên doanh nghiệp cần thanh tra; nội dung cần thanh tra, dự kiến kết quả thu được sau khi thanh tra (toàn bộ công việc của nhóm xây dựng đề án được thực hiện trên hệ thống máy tính).

Bước 3:

– Sau khi kế hoạch lập xong phải được chuyển cho nhóm cán bộ cao cấp thẩm định và duyệt.

b/ Bộ phận thu thập tài liệu và phân tích thông tin

Nhiệm vụ của bộ phận này là thu thập tài liệu chứng cứ để tạo lập hồ sơ đầy đủ về đối tượng thanh tra, phân tích đưa ra những nội dung cần phải thanh tra. Các nhiệm vụ cụ thể:

– Trên cơ sở danh sách đối tượng nằm trong kế hoạch thanh tra đã được phê duyệt do bộ phận xây dựng đề án chuyển qua, người trưởng bộ phận sẽ phân công cụ thể cho từng cán bộ trong nhóm chịu trách nhiệm thu thập thông tin tài liệu tạo lập hồ sơ của từng đối tượng cần phải thanh tra (phân công phải ghi rõ tên đối tượng cần thanh tra cán bộ chịu trách nhiệm thu thập thông tin tài liệu, ngày được giao việc, ngày hoàn thành).

– Sau khi được phân công cán bộ có trách nhiệm căn cứ vào các chỉ tiêu trên mẫu quy định sẵn cho 1 bộ hồ sơ:

+ Tên đơn vị

+ Địa chỉ, điện thoại

+ Hoạt động từ bao giờ

+ Ngành nghề kinh doanh

+ Nhân lực, lao động

+ Tình hình chấp hành nghĩa vụ thuế

+ Tình hình nợ thuế

+ Các khoản khấu trừ

+ Những thông tin cần khai thác từ đối tượng thứ 5 (lãi vay, lãi cổ phiếu, các nguồn thu nhập khác qua khai thác thông tin bên ngoài)

+ Các thông tin từ các cơ quan khác liên quan tới đối tượng thanh tra (thông tin sản xuất, thương mại, thông tin trên báo chí)

+ Thông tin về giám đốc đơn vị

+ Thông tin về tài chính của đơn vị

+ ……….

Các thông tin trên được tập hợp của 3 năm kể từ năm thuộc niên độ kiểm tra trở về trước.

– Quá trình thu thập tài liệu thông tin và phân tích cán bộ có quyền yêu cầu bằng phiếu hỏi đối với doanh nghiệp khi có nghi vấn hoặc phân tích thấy chưa rõ. (Nội dung phiếu hỏi và nội dung doanh nghiệp trả lời hoặc cung cấp phải được lưu trong hồ sơ).

– Cán bộ thu thập tài liệu và phân tích có quyền khai thác kho lưu trữ khi cần thiết.

– Có quyền đi khảo sát các hoạt động hoặc những vấn đề về nghiệp vụ chuyên môn liên quan phục vụ cho công tác thanh tra (như khảo sát nhà hàng, đi thực tế xác định các định mức chi phí, tiêu hao…)

– Trên cơ sở tài liệu thông tin thu thập liên quan tới đối tượng thanh tra cán bộ phân tích và đưa ra các điểm nghi vấn cần phải thanh tra.

– Kết thúc việc thu thập tài liệu và phân tích thông tin bộ phận phân tích thông tin đóng gói toàn bộ hồ sơ chuyển cho bộ phận thanh tra đối tượng.

c/ Bộ phận thanh tra đối tượng

– Trên cơ sở các bộ hồ sơ do bộ phận phân tích thông tin chuyển qua trưởng bộ phận thanh tra quy định mã số cho từng bộ hồ sơ và phân trực tiếp cho các tổ thanh tra.

– Tổ trưởng tổ thanh tra triển khai công việc cho các thành viên trước tiên xem xét và đánh giá nhận xét bằng phiếu về chất lượng hồ sơ của nhóm thu thập tài liệu và phân tích thông tin; Nêu những yêu cầu bổ sung hồ sơ (nếu có)

– Đối với những bộ hồ sơ được tổ thanh tra xác định không cần phải bổ sung hồ sơ thì cán bộ thanh tra đưa ra nghiên cứu xem xét và thống nhất trong tổ đặt ra những câu hỏi để yêu cầu đối tượng giải trình.

– Trưởng bộ phận thanh tra ra văn bản thông báo việc thanh tra của cơ quan thuế gửi cho đối tượng được thanh tra và gửi cho tổ chức hoặc cá nhân làm dịch vụ thuế cho đơn vị được thanh tra. Nội dung văn bản thông báo phải nêu rõ nội dung thanh tra, thời kỳ thanh tra, đồng thời yêu cầu đơn vị mang tài liệu, sổ sách, chứng từ kiên quan tới số thuế kê khai của kỳ thanh tra đến cơ quan thuế để thực hiện việc thanh tra.

– Trong quá trình thanh tra theo quy định nếu phát hiện và kết luận doanh nghiệp trốn thuế, tránh thuế với giá trị tiền thuế từ 50.000 Bảng trở lên hoặc quá trình thanh tra đối tượng có tình tiết phức tạp thì bộ phận thanh tra phải có thông báo và chuyển cho bộ phận tuân thủ pháp luật của Tổng cục để thực hiện điều tra khởi tố.

            – Kết thúc thanh tra tổ thanh tra phải có kết luận thanh tra và thông báo cho đối tượng được thanh tra biết và thực hiện.

            – Sau khi có kết luận tổ thanh tra làm báo cáo tổng hợp kết quả thanh tra trong đó nêu rõ: thời gian thực hiện, tính chính xác của hồ sơ, hiệu quả thanh tra.

4. Những nội dung cần lưu ý trong quá trình thực hiện công tác thanh tra thuế của nước Anh:

            – Trong quá trình thu thập hồ sơ và phân tích thông tin; quá trình thanh tra nghiêm cấm cán bộ đến trực tiếp đơn vị để yêu cầu cung cấp tài liệu, hồ sơ, sổ sách chứng từ kế toán.

            – Trong quá trình thanh tra nếu phát hiện doanh nghiệp trốn thuế, tránh thuế trong kỳ kiểm tra thì cán bộ thanh tra có thể xem xét lại tờ khai thuế trong vòng 6 năm (đối với thanh tra toàn diện) hoặc 2 năm (đối với thanh tra theo chuyên đề).

            – Về thời gian cho 1 cuộc thanh tra: Thời gian cho cán bộ thu thập tài liệu phân tích thông tin cho 1 bộ hồ sơ thông thường từ 4 đến 6 tuần (30 ngày đến 45 ngày). Thời gian thanh tra đối tượng nhỏ thông thường khoảng 6 tháng/1cuộc thanh tra. Thời gian thanh tra đối tượng lớn là 1 năm/1cuộc thanh tra. Đối với trường hợp có luật sư tham gia (địều tra) thời gian 2 năm/cho 1 cuộc điều tra.

            – Đối với chế độ báo cáo: Định kỳ 6 tháng cán bộ thu thập tài liệu phân tích thông tin và tổ kiểm tra đối tượng phải có báo cáo bằng văn bản về tiến độ triển khai và mức độ hoàn thành công việc được phân công cho trưởng bộ phận. Trên cơ sở nội dung báo cáo trưởng bộ phận có nhận xét và ý kiến chỉ đạo tiếp theo.

5. Công tác đào tạo cán bộ thanh tra:

            Hiện tại, cơ quan thuế Anh có 6 Trung tâm đào tạo và 1 trường học thuế. Nội dung đào tạo là các vấn đề sửa đổi bổ sung của Luật hoặc cơ chế quản lý, đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn và tổ chức thi tuyển cán bộ vào các ngạch công chức, ngạch thanh tra. Nhiệm vụ của trường Đại học đào tạo kiến thức cơ bản về công tác thuế cho sinh viên nhằm tạo nguồn bổ sung nguồn nhân lực cho ngành thuế. Việc tuyển chọn cán bộ làm công tác thanh tra thuế của Anh bắt buộc cán bộ đó phải được đào tạo qua Đại học và phải có 2 bằng: 1 bằng Đại học kinh tế hoặc Đại học thuế và 1 bằng tốt nghiệp trường Luật.

            Hàng năm các trung tâm đều mở các lớp đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho các ngạch thanh tra viên, thanh tra chính và thanh tra cao cấp. Mỗi học viên vào học ở các ngạch trên đều phải đảm bảo những chỉ tiêu và tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước. Khi học xong chương trình đều phải qua thi tuyển, nếu đạt thì mới được công nhận là ngạch thanh tra tương ứng với trình độ đã đào tạo. Cán bộ làm công tác thanh tra tại các cơ quan thuế Anh tự đối chiếu các tiêu chuẩn có nhu cầu chuyển ngạch sẽ phải đăng ký với cơ quan thuế nơi mình công tác. Cơ quan thuế (Cục thuế, Chi cục Thuế) căn cứ vào nhu cầu của đơn vị mình cần số lượng thanh tra viên, thanh tra chính, thanh tra cao cấp là bao nhiêu, cân đối với số hiện có, số cần phải đào tạo bổ sung. Từ  đó lựa chọn trong danh sách cán bộ đã đăng ký đưa đi đào tạo.

III. Công tác thu nợ, cưỡng chế thuế

Tổ chức bộ máy thực hiện công tác thu nợ:

Bộ máy thực hiện công tác thu nợ gồm các bộ phận:

– 3 văn phòng thu nợ

– 3 trung tâm điện thoại để đôn đốc thu

– 3 văn phòng cưỡng chế

– 12 nhóm chia thành 150 văn phòng mạng lưới thu

Các văn phòng thu nợ (đặt tại Cumbernauld, Shipley và Newcasstle) chịu trách nhiệm xây dựng chính sách và chiến lược thu; theo dõi khoản nộp thuế; phân bổ các khoản nộp thuế; theo dõi các đối tượng nợ thuế; phụ trách các hoạt động của văn phòng mạng lưới

Các văn phòng cưỡng chế (đặt tại Edinburg, Belfast, Worthing)giải quyết các trường hợp nợ mà văn phòng thu nợ địa phương không giải quyết được

Các trung tâm điện thoại (đặt tại Cumbernauld, Shipley và East Kilbride) chịu trách nhiệm theo dõi bằng điện thoại đối với các tờ khai chậm nộp và các trường hợp nợ thuế có độ rủi ro thấp (ví dụ: trước đây chưa có tiền lệ chậm nộp, nghĩa vụ thuế năm trước duới 10.000 bảng, nợ dưới 5000 bảng). Các trung tâm điện thoại có hệ thống điện thoại tự động quay để nhắc các trường hợp chậm nộp tờ khai chậm nộp thuế và chỉ chuyển máy cho người trực tổng đài nếu có tín hiệu trả lời.

Các văn phòng mạng lưới giải quyết các trường hợp:

– có số nợ dưới 100 bảng nhưng đã nộp tờ khai

– có tổng số nợ trên 5000 bảng

– nợ ít nhất một tờ khai

– thuộc một trong các trường hợp như địa chỉ tại nước ngoài, thời gian nộp thuế chậm hơn một thời gian nhất định, bị phá sản….

Các loại trường hợp thu nợ, cưỡng chế:

– Các trường hợp chỉ chậm nộp tờ khai nhưng nghĩa vụ thuế năm trước trên 10.000 bảng sẽ phải ưu tiên thu vì được coi là có rủi ro cao

– Các trường hợp vừa chậm nộp tờ khai, vừa nợ thuế. Trường hợp này nếu số nợ thuế cao hơn 1.000 bảng có thể sử dụng biện pháp tịch biên

– Nếu số tiền nợ nhỏ hơn 100 bảng, có thể tự động bỏ ra khỏi hệ thống thu nợ vì không đáng chi phí thu

– Nếu chỉ nợ thuế với số tiền trên 100.000 bảng: đưa vào diện ưu tiên thu nợ

– Nếu số tiền nợ ít hơn 2.000 bảng và ít hơn 12 tháng tuổi; có thể thực hiện tố tụng

– Mục tiêu của cơ quan thuế là thông qua các hoạt động thu nợ để cho phép ĐTNT nộp khoản nợ và tránh việc khởi kiện hay qua các thủ tục tố tụng. Do vậy, cơ quan thuế cho phép ĐTNT có những thoả thuận trả dần các khoản nợ thuế

Các thủ tục tố tụng

– Tịch biên: Theo thủ tục pháp lý, cơ quan thuế có quyền cầm giữ tài sản của ĐTNT bán để trả nợ thuế. Trình tự tịch biên:

– Gọi cho ĐTNT, yêu cầu nộp thuế. nếu không nộp

– Ra lệnh tịch biên đối với hàng hoá ước tuính có thể đủ để trang trải nợ

– Thông báo cho ĐTNT về việc tịch biên

– ĐTNT được 5 ngày trước khi gửi cho bên đấu giá

– Bán đáu giá

– Đưa ra toà trong địa hạt

Cơ quan thuế gửi yêu cầu toà địa hạt phát lệnh đòi ĐTNT hầu toà. ĐTNT có thể chấp nhận yêu cầu này và đề nghị cho nộp dần nợ thuế hoặc chống lại yêu cầu. Khi đó cơ quan thuế và ĐTNT sẽ dự phiên xử của toà

– Thi hành án

Nếu ĐTNT không trả tiền theo phán xử của toà, cơ quan thuế sẽ lựa chọn các cách sau để thi hành án:

+ khấu trừ hàng tháng từ tiền lương của ĐTNT đến khi hết nợ

+ ĐTNT có thể phải xuất hiện trước toà để giải thích lý do không nộp. Việc không dự phiên toà có thể bị vào tù

+ Trích tiền từ tài khoản ngân hàng hoặc bên thứ 3

+ Toà tiến hành tịch biên tài sản

+ Bán tài sản, đất và ưu tiên trả nợ thuế trước

+ Tuyên bố phá sản

Thủ tục với toà địa phương

Cơ quan thuế thông báo với toà địa phương.

– Cơ quan thuế dự thảo lệnh đòi của toà, sau khi toà đã phê duyệt, gửi lênh đòi này ĐTNT. Trong lệnh triệu tập nêu rõ thời gian và thời hạn phải hầu toà

– Tham dự phiên toà trong đó toà sẽ yêu cầu nộp thuế

– Sau khi toà đã yêu cầu nộp thuế, nếu không nộp, ĐTNT sẽ phải giải trình với quan toà lý do không nộp. Nếu không dự toà hoặc không nộp theo phán quyết của toà có thể phải vào tù.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỔNG CỤC THUẾ – BỘ TÀI CHÍNH

Trích dẫn từ:

http://www.gdt.gov.vn/gdtLive/Trang-chu/Tin-tuc/News?contentId=110844&location=tct

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: