TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: MỘT BẢN ÁN CẦN ĐƯỢC GIÁM ĐỐC THẨM

image THIÊN LONG

Vừa qua một phụ nữ mái tóc đã điểm bạc, tay ôm một chồng giấy tờ đến gặp phóng viên ĐS &PL trình bày việc gia đình bà bị án oan, sắp rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất”. Lau vội những giọt nước mắt, người phụ nữ giới thiệu mình tên là Nguyễn Thị Trinh, trú tại TP.Pleiku – là bị đơn trong vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bà Trinh đề nghị báo ĐS &PL vào cuộc, bảo vệ lẽ phải cho người dân “thấp cổ bé họng” như bà.

Tin bạn mất… nhiều thứ

Căn cứ vào tài liệu và bản án dân sự phúc thẩm số 62 ngày 4.10.2007 của TAND tỉnh Gia Lai cho thấy: từ ngày 17.7.2005 đến ngày 25.8.2005 (âm lịch), bà Nguyễn Thị Trinh có viết 3 giấy vay tiền của bà Tôn Nữ Mỹ Loan với tổng số tiền là 250 triệu đồng (ngày 17.7 vay 50 triệu đồng, ngày 28.7 vay 50 triệu đồng và ngày 25.8 vay 150 triệu đồng). Bà Trinh có thế chấp quyết định cấp đất mang tên chồng là Trịnh Mai (chồng bà). Ngoài ra, giấy vay tiền thứ 4 ghi ngày 16.10.2005 (âm lịch) còn thể hiện bà Trinh vay 300 triệu đồng của bà Loan. Thời hạn vay là 1 năm, lãi suất 2,5%/tháng. Cho rằng bà Trinh vi phạm nghĩa vụ trả nợ vay như hợp đồng đã giao kết, bà Loan đã nộp đơn yêu cầu TAND TP. Pleiku buộc bà Trinh phải trả tổng số nợ gốc là 550 triệu đồng và tính lãi suất theo quy định của pháp luật.

Quá trình tham gia tố tụng, bà Trinh đã thừa nhận 4 giấy nợ là do bà viết. Nhưng bà cho rằng, 2 giấy nhận nợ ngày 17.7 và ngày 28.7 có cùng số tiền vay 50 triệu đồng thực chất chỉ là một khoản nợ (lý do bà Loan nói bị mất giấy nợ ngày 17.7 nên yêu cầu bà viết lại giấy nợ ngày 28.7). Về giấy vay tiền 300 triệu đồng, bà Trinh thừa nhận mình viết, nhưng chưa ghi tên người cho vay và ngày, tháng, năm. Giấy vay tiền này bà ghi trước, để đến nhà chị Tuyết vay tiền, nhưng không được. Vì lúc đó bà có việc phải đi TP.HCM nên chưa lấy lại tờ giấy vay nợ đó. Sau đó, bà Loan lấy giấy vay tiền này, ghi tên mình (Tôn Nữ Mỹ Loan – PV) là người cho vay để kiện bà. Ngược lại, bà Loan cho biết, trước đó đã cho bà Trinh vay 250 triệu đồng. Thấy số tiền cho vay lớn, nhưng không có tài sản thế chấp có giá trị tương đương, nên bà nói chuyện với bà Trinh. Theo đó, bà bỏ ra tiếp 126.070.000 đồng để cho bà Trinh trả cho ngân hàng. Mục đích là lấy giấy tờ nhà đã thế chấp tại ngân hàng, mang đến thế chấp cho chị Tuyết vay 300 triệu đồng, để trả nợ cho mình. Lúc đó, bà Trinh đã viết trước giấy nhận nợ cho chị Tuyết. Nhưng khi đến nhà chị Tuyết, thì chị Tuyết không cho vay, mà đòi thẩm định và phải có công chứng. Bà Trinh yêu cầu phải giao tiếp 173.030.000 đồng mới đưa giấy tờ nhà cho bà. Khi giao đủ tiền, bà Trinh đã giao giấy tờ nhà cho bà và nói: “bây giờ chị mượn tiền của em, thì em cứ ghi tên em và ngày tháng năm vào, miễn sao giấy nợ chị viết có chữ ký của chị là được rồi”. Bà Loan thừa nhận mình đề tên và ngày tháng vào giấy vay tiền 300 triệu đồng.

Tiếp tục đọc

Advertisements

CẦN NHANH CHÓNG ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

NGUYỄN CHÍ THÀNH

Cuộc khủng tài chính tại Mỹ đã có những dấu hiệu từ hơn một năm trước, bắt đầu bằng sự sụt giảm của thị trường bất động sản (BĐS) “từ bong bóng BĐS đến khủng hoảng tài chính”. Cuộc khủng hoảng BĐS nhanh chóng làm suy yếu hệ thống tài chính – ngân hàng của Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới. Sự sụt giá trên thị trường BĐS và các khoản đầu tư tài chính – BĐS nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập đoàn tài chính – ngân hàng.

Nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân hàng và công ty tài chính xiết chặt “hầu bao”, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng tăng vọt từng giờ. Các nguồn cung về tài chính bỗng trở nên cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ sụp đổ của hệ thống tài chính – ngân hàng và tất yếu một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện xảy ra. Hiện nay, “cơn bão” khủng hoảng tài chính đã diễn ra trên toàn thế giới và đang gây ra một “cơn địa chấn” đối với nền kinh tế toàn cầu.

Trước tình hình thị trường BĐS nước ta đang sụt giảm như hiện nay đã làm không ít người lo ngại sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến hệ thống tài chính – ngân hàng và hậu quả đối với nền kinh tế sẽ là không nhỏ. Tuy nhiên, theo số liệu công bố chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), “tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh BĐS đến nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống, số dư nợ trên chưa phải là lớn, tỷ trọng vẫn còn thấp và như vậy là không đáng lo ngại. Tín dụng BĐS hiện vẫn trong tầm kiểm soát của các ngân hàng thương mại (NHTM)”. Hơn nữa, nước ta đến nay vẫn chưa chứng khoán hoá các hợp đồng cho vay BĐS, do vậy, sự sụt giảm của thị trường BĐS sẽ không gây ra những tác động lớn như thị trường Mỹ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thị trường BĐS diễn biến như hiện nay chưa tác động lớn đến hệ thống NHTM, nhưng nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến các khoản nợ vay BĐS hiện nay của các NHTM trở thành nợ xấu, bởi vì:

Về phía các doanh nghiệp (DN) và chủ đầu tư BĐS

– Các DN và chủ đầu tư BĐS hiện đang thiếu vốn trầm trọng để triển khai các dự án vì phần lớn vốn của các DN và nhà đầu tư đều phải dựa vào sự tài trợ của các ngân hàng. Trong khi đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo NHNN Việt Nam (NHNN) cần có biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các NHTM rà soát lại các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao, trong đó có BĐS, tăng cường hơn nữa kiểm soát và phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cho vay BĐS. Chính vì vậy, buộc các NHTM sẽ tiếp tục siết chặt cho vay BĐS theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Việc duy trì các chính sách thắt chặt quản lý thị trường BĐS cùng với lãi suất cho vay cao không chỉ là khó khăn của các DN và các nhà đầu tư BĐS mà còn là rào cản trong tiếp cận vốn vay từ NHTM đối với người có nhu cầu mua nhà ở thật sự.

Tiếp tục đọc

CẦN NHANH CHÓNG ỔN ĐỊNH THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN

NGUYỄN CHÍ THÀNH

Cuộc khủng tài chính tại Mỹ đã có những dấu hiệu từ hơn một năm trước, bắt đầu bằng sự sụt giảm của thị trường bất động sản (BĐS) “từ bong bóng BĐS đến khủng hoảng tài chính”. Cuộc khủng hoảng BĐS nhanh chóng làm suy yếu hệ thống tài chính – ngân hàng của Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới. Sự sụt giá trên thị trường BĐS và các khoản đầu tư tài chính – BĐS nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập đoàn tài chính – ngân hàng.

Nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân hàng và công ty tài chính xiết chặt “hầu bao”, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất liên ngân hàng tăng vọt từng giờ. Các nguồn cung về tài chính bỗng trở nên cạn kiệt, dẫn đến nguy cơ sụp đổ của hệ thống tài chính – ngân hàng và tất yếu một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn diện xảy ra. Hiện nay, “cơn bão” khủng hoảng tài chính đã diễn ra trên toàn thế giới và đang gây ra một “cơn địa chấn” đối với nền kinh tế toàn cầu.

Trước tình hình thị trường BĐS nước ta đang sụt giảm như hiện nay đã làm không ít người lo ngại sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến hệ thống tài chính – ngân hàng và hậu quả đối với nền kinh tế sẽ là không nhỏ. Tuy nhiên, theo số liệu công bố chính thức của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), “tổng dư nợ tín dụng cho vay kinh doanh BĐS đến nay khoảng 115.500 tỷ đồng, chiếm 9,15% tổng dư nợ toàn hệ thống, số dư nợ trên chưa phải là lớn, tỷ trọng vẫn còn thấp và như vậy là không đáng lo ngại. Tín dụng BĐS hiện vẫn trong tầm kiểm soát của các ngân hàng thương mại (NHTM)”. Hơn nữa, nước ta đến nay vẫn chưa chứng khoán hoá các hợp đồng cho vay BĐS, do vậy, sự sụt giảm của thị trường BĐS sẽ không gây ra những tác động lớn như thị trường Mỹ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thị trường BĐS diễn biến như hiện nay chưa tác động lớn đến hệ thống NHTM, nhưng nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến các khoản nợ vay BĐS hiện nay của các NHTM trở thành nợ xấu, bởi vì:

Về phía các doanh nghiệp (DN) và chủ đầu tư BĐS

– Các DN và chủ đầu tư BĐS hiện đang thiếu vốn trầm trọng để triển khai các dự án vì phần lớn vốn của các DN và nhà đầu tư đều phải dựa vào sự tài trợ của các ngân hàng. Trong khi đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo NHNN Việt Nam (NHNN) cần có biện pháp giám sát chặt chẽ và chỉ đạo các NHTM rà soát lại các khoản cho vay đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao, trong đó có BĐS, tăng cường hơn nữa kiểm soát và phòng ngừa rủi ro đối với hoạt động cho vay BĐS. Chính vì vậy, buộc các NHTM sẽ tiếp tục siết chặt cho vay BĐS theo chỉ đạo của Chính phủ và NHNN. Việc duy trì các chính sách thắt chặt quản lý thị trường BĐS cùng với lãi suất cho vay cao không chỉ là khó khăn của các DN và các nhà đầu tư BĐS mà còn là rào cản trong tiếp cận vốn vay từ NHTM đối với người có nhu cầu mua nhà ở thật sự.

Tiếp tục đọc

VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG DƯ LUẬN XàHỘI

THS. NGUYỄN MẬU VIỆT HƯNG – Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội

Mục đích của định hướng dư luận xã hội là  góp phần điều chỉnh hành vi, hướng tới làm thay đổi thái độ, nhận thức và hành động của các nhóm xã hội theo hướng có lợi cho một giai cấp nhất định.

1. Định hướng dư luận xã hội, một hoạt động quan trọng trong công tác tuyên giáo

Với tư cách là một hoạt động quan trọng trong lĩnh vực tuyên giáo, hoạt động định hướng dư luận xã hội là việc sử dụng các phương thức thông tin nhất định tác động vào các nhóm đề mang tính thời sự.

Ở đây dư luận xã hội được hiểu là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự”. Cách tiếp cận này cho thấy dư luận xã hội là hình thức tập hợp ngẫu nhiên ý kiến cá nhân thành những luồng ý kiến khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau cùng đánh giá, phán xét về một vấn đề, một sự kiện, một hiện tượng nào đó, nó có thể đúng, có thể sai, vì vậy người ta không thể dựa vào số đông người phản ánh làm căn cứ để kết luận sự đúng đắn của một vấn đề mà sự phản ánh đó bước đầu chỉ là sự bộc lộ của trạng thái tâm lý mang tính chủ quan của người đánh giá như tâm trạng, thái độ, tình cảm, mong muốn, nhu cầu… Các trạng thái tâm lý này luôn phụ thuộc vào trình độ nhận thức, lối sống của người phán xét. Số lượng người tán thành hoặc phản đối nhiều hay ít về một vấn đề nào đó một mặt có ý nghĩa như là sự thể hiện thái độ, tâm tư, nguyện vọng của nhóm xã hội mang ý kiến đó, mặt khác nó thể hiện quan điểm cá nhân của họ được quy định bởi hệ thống giá trị, chuẩn mực, lối sống trong quá trình xã hội hoá mà họ được tham gia. Điều này nói lên rằng công tác nghiên cứu nắm bắt dư luận xã hội có vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình định hướng dư luận xã hội. Cái khó của việc sử dụng thông tin dư luận xã hội là ở chỗ phải có cơ sở khách quan cho việc lựa chọn và sử dụng một luồng ý kiến nào đó trong số các luồng ý kiến đa dạng và trái ngược nhau đã được thu thập, phân loại để đưa ra kết luận, loại bỏ yếu tố chủ quan trong các luồng ý kiến khác nhau, phân tích, so sánh đối chiếu một cách khoa học, tìm ra ý nghĩa thực của những luồng thông tin thu được. Sử dụng thông tin dư luận không phải là sự chấp nhận đa số ý kiến tán thành, ủng hộ hay phản đối một vấn đề nào đó mà điều quan trọng là dựa trên cơ sở nào để tìm hiểu, đánh giá đúng đắn nguyên nhân phát sinh các luồng ý kiến đó trong các nhóm xã hội khác nhau.

Tiếp tục đọc

HỆ THỐNG CÁC VĂN KIỆN PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

ĐTH – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Một trong những thành tựu lớn nhất của nhân loại trong thể kỷ 20 là đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Hệ thống này trước hết phải kể đến Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn Nhân quyền (1948) và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hoá và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị). Bên cạnh đó, hệ thống này còn có hàng trăm văn kiện quốc tế khác được ban hành dưới nhiều cấp độ pháp lý hình thức khác nhau như điều ước, công ước, nghị định thư, hướng dẫn, khuyến nghị… được các quốc gia thừa nhận và tôn trọng.

1. Hiến chương Liên hợp quốc

Hiến chương Liên hợp quốc được ban hành ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc vào năm 1945. Đây là văn bản quốc tế rất quan trọng, không chỉ là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng thành lập Liên hợp quốc mà còn là văn kiện ghi nhận sự bảo vệ quyền con người trên phạm vi toàn cầu. Hiến chương đã đặt nền móng cho việc thiết lập một cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của các quyền con người trên thế giới.

Lời mở đầu của Hiến chương xác định quyết tâm của nhân dân các nước: “…phòng ngừa cho những thế hệ tương lại khỏi thảm hoạ chiến tranh; …Tin tưởng vào những nguyên tắc cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người, vào quyền bình đẳng nam nữ, vào quyền bình đẳng giữa các nước lớn và nhỏ; Tạo mọi điều kiện cần thiết để giữ gìn công lý và tôn trọng những nghĩa vụ do những điều ước và các nguồn khác của Luật quốc tế đặt ra; Khuyến khích sự tiến bộ xã hội và nâng cao điều kiện sống trong một nền tự do rộng rãi hơn”. Điều 1 của Hiến chương xác định mục đích của Liên hợp quốc là “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền con người và tự do cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”. Điều 3 Hiến chương kêu gọi các quốc gia “thúc đẩy và khuyến khích sự tôn trọng quyền con người”. Hiến chương kêu gọi tất cả các nước cùng phối hợp hành động với Liên hợp quốc để đạt được việc tôn trọng và thực hiện quyền con người trên phạm vi toàn cầu.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: