TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: BỊ HÀNG XÓM BỊT CỔNG, NHỐT TRONG CHÍNH NHÀ MÌNH?

CHÍ HIẾU

Vietnamnet – Hai ngày nay, gia đình chị Nguyễn Thị Lê bị hàng xóm tổ chức hàn một rào sắt bịt cổng “nhốt” trong chính căn nhà của mình. “Con đường duy nhất” để ra ngoài là phải trèo qua hàng rào sắt cao gần 2m, hoặc nhờ người quen tiếp tế lương thực qua những khe sắt, chẳng khác nào một nhà tù!

Bị hàng xóm nhốt hay tự tay nhốt mình?!

Cánh đây chừng nửa tháng, do nhu cầu sinh hoạt nên gia đình chị Lê (ở số 56, tổ 3 ngõ 5A, thị trấn Cầu Diễn – huyện Từ Liêm – Hà Nội) tiến hành chuyển cổng chính từ bên phải sân sang bên trái 3m. Cổng được xây dựng trên phần đất của gia đình chị Lê và mở ra ngõ đi chung của cả xóm.

Tuy nhiên, với lí do “chưa xin phép” hàng xóm, ngày 17/12, ông Ngô Văn Huy – gia đình đối diện nhà chị Lê đã thuê thợ hàn sắt dựng một lưới sắt cao khoảng 2, rộng 3m áp sát cổng mới vừa mở của nhà chị Lê và bịt mất lối đi này.

Sự việc ngay sau đó đã được Công an thị trấn Cầu Diễn lập biên bản, yêu cầu ông Huy dở bỏ hàng rào sắt bịt cổng nhà chị Lê. Đồng thời, cũng yêu cầu nhà chị Nguyễn Thị Lê tạm dừng việc dời cổng mới, vẫn phải đi bằng cổng cũ.

Phần thì bức xúc vì mở cổng ngay trên phần đất nhà mình mà vẫn bị… đình chỉ, phần vì khẩn thiết cho sinh hoạt, nhà chị Lê vẫn tiến hành xây bít cổng cũ, mở cổng mới.

Để “đáp trả”, sáng 24/12 ông Ngô Văn Huy lại cho dựng trở lại hàng rào sắt chắn lối đi duy nhất này.

Cổng ra vào duy nhất bị rào, mọi sinh hoạt của 2 mẹ con chị Lê cùng 3 sinh viên trọ học trong khu nhà phải ra vào bằng cách trèo qua hàng rào sắt cao gần 2m: từ dắt xe đi làm, mua lương thực…

Continue reading

Advertisements

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG GIAI ĐOẠN 2004 ĐẾN NAY VÀ NHỮNG XU HƯỚNG LỚN TRONG THỜI GIAN TỚI

TS. TRẦN CÔNG HÒA – CN. LÊ THỊ THÚY

Trong những năm qua, ngành ngân hàng Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc với việc mở rộng quy mô hoạt động, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, tăng cường mạng lưới và hiện đại hóa công nghệ. Cả nước hiện có 84 ngân hàng (gồm: 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN), 31 Ngân hàng thương mại cổ phần đô thị (NHTMCP), 4 Ngân hàng thương mại cổ phần nông thôn, 5 Ngân hàng liên doanh, 37 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 02 ngân hàng chính sách: Ngân hàng phát triển Việt Nam – VDB và Ngân hàng chính sách xã hội – VBSP).

Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam có quy mô còn rất nhỏ và trình độ phát triển chưa cao so với các ngân hàng của các nước phát triển. Hiện tại, trên 90% thị phần hoạt động ngân hàng do 16/84 NHTM lớn nhất Việt Nam và 02 ngân hàng chính sách nắm giữ, trong đó riêng các NHTMQD đã nắm giữ trên 70% thị phần.

Cùng góp phần đánh giá sự phát triển của hệ thống các NHTM Việt Nam trong thời gian qua, nhìn nhận xu hướng phát triển trong thời gian tới, bài viết này sẽ tập trung vào phân tích sự phát triển của 16 NHTM lớn nhất Việt Nam thông qua một số chỉ số tài chính chủ yếu trong giai đoạn từ 2004 đến nay. Để đảm bảo phân tích, đánh giá phù hợp với quy mô và lịch sử phát triển của các nhóm ngân hàng, trong các phần 1 và 2, chúng tôi sẽ phân tích theo nhóm và có so sánh đánh giá chung giữa các nhóm: Nhóm I: 4 NHTMNN (VBARD, VCB, BIDV, ICB); Nhóm II: MHB và 11 ngân hàng lớn nhất trong nhóm các NHTMCP; việc đánh giá các ngân hàng chính sách sẽ không đề cập trong nghiên cứu này do tính không tương đồng về mục tiêu và phạm vi hoạt động.

PHẦN 1: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI: QUY MÔ TĂNG CHÓNG MẶT

Các NHTMNN vẫn là chủ đạo, ông lớn chiếm phần hơn.

Khi xét đến quy mô vốn của ngân hàng, những chỉ tiêu không thể không nhắc đến là tổng tài sản, khả năng huy động vốn từ thị trường và vốn chủ sở hữu. Đây là những chỉ tiêu quan trọng nhất, tập trung nhất và bao quát nhất thể hiện tiềm lực về tài chính và sức cạnh tranh của ngân hàng.

Continue reading

TỪNG BƯỚC THỂ CHẾ HÓA CÁC CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRONG LĨNH VỰC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀO THỰC TIỄN CUỘC SỐNG

NGUYỄN VĂN NGHĨA

Để bảo đảm mọi bản án, quyết định của Toà án, Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh, thể hiện tính tôn nghiêm của pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần vào sự nghiệp xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành hai Nghị quyết quan trọng đó là Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

Sau hơn ba năm triển khai thực hiện, cho đến nay từng nội dung về cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự được quy định trong hai Nghị quyết trên về cơ bản đã lần lượt được thể chế hoá vào trong các quy định của pháp luật và từng bước đi vào thực tiễn cuộc sống. Tập trung nhất đó là trong năm 2008, đã có hai văn bản pháp luật chuyên ngành quan trọng chứa đựng nhiều nội dung đổi mới trong công tác thi hành án dân sự đó là Chỉ thị số 21/2008/CT-TTg ngày 01/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự và Luật thi hành án dân sự được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14/11/2008. Dưới đây là những nội dung cơ bản về cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án dân sự đã được thể chế hoá để triển khai thực hiện trên thực tế trong thời gian tới, bao gồm:

Một là,đổi mới, nâng cao vị thế và hiệu quả hoạt động của hệ thống tổ chức thi hành án dân sự. Cho đến nay, công tác thi hành án ở Việt Nam vẫn được giao cho nhiều cơ quan giúp Chính phủ quản lý, trong đó Bộ Tư pháp được giao nhiệm quản lý thi hành các bản án, quyết định về dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và các quyết định về dân sự trong các bản án, quyết định về hình sự. Do còn thiếu sự tập trung thống nhất, đặc biệt là thiếu cơ chế phối kết hợp có hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý thi hành án nên đây là một trong số những nguyên nhân làm cho tình trạng án dân sự tồn đọng kéo dài trong thời gian qua. Vì vậy, để góp phần khắc phục hạn chế này, Nghị quyết số 48-NQ/TW đã khẳng định: “Xác định Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước thống nhất về công tác thi hành án”. Tiếp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW cũng đã tiếp tục khẳng định: “Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện chuyển giao công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”. Đây là một chủ trương lớn của Đảng, phù hợp với xu thế hội nhập, cải cách hành chính và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện chủ trương này, theo tinh thần của Chương trình số 06-CTr/CCTP ngày 19/9/2007 của Ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương, Bộ Tư pháp đã được giao phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan tiến hành nghiên cứu, xây dựng Đề án chuẩn bị các điều kiện cần thiết để giao cho Bộ Tư pháp thống nhất quản lý nhà nước về công tác thi hành án.

Continue reading

MÔ HÌNH TÀI PHÁN HIẾN PHÁP HOA KỲ

VÕ TRÍ HẢO

1. Cơ sở của mô hình tài phán hiến pháp Hoa Kỳ

Cơ sở hiến pháp – hai đường ranh giới cứng

Hiến pháp Hoa Kỳ được sinh ra với chức năng là một bản văn giới hạn quyền lực nhà nước. Sự giới hạn này được xác định thông qua hai đường ranh giới cứng (xem sơ đồ). 

Sơ đồ: ranh giới cứng [1] được định ra trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Đường ranh giới mềm được xác lập bởi các văn bản luật và dưới luật.

Một hành vi xâm phạm vào đường ranh giới mềm thường thuộc đối tượng của “bảo pháp” (tài phán thông thường), còn hành vi xâm phạm hai đường ranh giới cứng là đối tượng của “tài phán hiến pháp”.

Cơ sở lý luận

Hoa Kỳ là một quốc gia áp dụng triệt để nguyên tắc tam quyền phân định và kìm chế đối trọng. Theo nguyên tắc này, không có cơ quan nhà nước nào là “tối cao” hay “có quyền lực nhà nước cao nhất” mà đều nằm trong thế cân bằng, đối trọng với nhau. Chính vì vậy, bất kỳ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp nào có hành vi xâm phạm đến hiến pháp đều bị xem xét lại. Và founding fathers (tạm dịch: các vị cha lập quốc) đã trao quyền tài phán hiến pháp cho cơ quan tư pháp với lập luận:

– So với hoạt động lập pháp và hoạt động hành pháp, hoạt động tư pháp ít khi xâm hại đến hiến pháp nhất;

– Cần phải trao quyền này cho các cơ quan tư pháp để đủ sức đối trọng lại với “quyền nắm giữ túi tiền thiên hạ” [2] của Nghị viện và “quyền nắm giữ thanh gươm thiên hạ” [3] của Chính phủ. Nếu không thì nhánh quyền lực tư pháp sẽ quá yếu và thế cân bằng, đối trọng bị phá vỡ, nguyên tắc tam quyền phân định bị đe dọa; tự do của nhân dân bị đe dọa;

– Các thẩm phán có đòi hỏi về học vấn, thâm niên công tác, phẩm chất trung thực, tính chuyên nghiệp, tính độc lập cao hơn những người hoạt động trong các cơ quan hành pháp, lập pháp.

Continue reading

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC

NGUYỄN ĐĂNG DUY NHẤT

Tự nhận thức là cảm nhận rõ ràng về nhân cách, điểm mạnh, điểm yếu, tư duy, niềm tin, động lực và cảm xúc. Tự nhận thức cũng cho phép bạn hiểu về người khác, cách họ cảm nhận về bạn cũng như thái độ và phản hồi của bạn.Sự tự nhận thức là cơ sở – nền tảng – nền móng – hỗ trợ tất cả các năng lực tư duy cảm xúc. Nó phải có trước, bởi nếu không hiểu bản thân và cảm xúc của mình, làm sao chúng ta có thể biết và hiểu người khác cảm xúc như thế nào?

Sự tự nhận thức giúp chúng ta biết được cái gì thúc đẩy mình và mình say mê cái gì. Điều này hướng chúng ta đến những công việc yêu thích, khiến chúng ta làm việc vui vẻ, hiệu quả. Nó dẫn tới những mối quan hệ, cả trong công việc lẫn quan hệ cá nhân, ở đó chúng ta sẽ đóng góp có tính xây dựng và tích cực hơn. Và nó cũng dẫn đến cuộc sống chân thật hơn cũng như làm cho chúng ta hài lòng hơn.

Càng hiểu rõ bản thân, chúng ta càng có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểu hiện. Sự tự nhận thức giúp chúng ta hiểu mình đang ở đâu, muốn đi đâu để sẵn sàng thay đổi nhằm đến được nơi cần đến. Không có sự tự nhận thức, các cảm xúc có thể che mắt chúng ta, khiến ta trở thành người mà mình không muốn. Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình, chúng ta có thể lựa chọn cách hành động hoặc phản ứng trong một tình huống nào đó hoặc với một người nào đó. Sự lựa chọn này trở thành sức mạnh, một sức mạnh nội tại không ai có thể lấy đi.

Một phần quan trọng khác của quá trình tự nhận thức là bạn cần hiểu rõ về trí óc và cơ thể mà tạo hóa đã ban tặng cho mỗi người cũng như phương pháp vận hành của chúng. Hình dung về trí óc còn được gọi là người que. Mô hình về trí óc và cơ thể của người que do Tiến sĩ Thruman Fleet, thuộc Đại học San Antonio, bang Texas, đưa ra vào khoảng năm 1934.

Continue reading

%d bloggers like this: