Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

GIỚI THIỆU LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

Ngày 14/11/2008, Quốc hội Khoá XII tại kỳ họp thứ tư đã thông qua Luật thi hành án dân sự số 26/2008/QH12 và Nghị quyết về việc thi hành Luật thi hành án dân sự số 24/2008/QH12. Đây là hai văn bản pháp lý có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Bản án, quyết định của Toà án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trên thực tế. Hoạt động thi hành án là công đoạn cuối cùng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Toà án được chấp hành, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước. Chính vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định rõ: “Các bản án và quyết định của Toà án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng; những người và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.

Nhận thức tầm quan trọng của công tác thi hành án, từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách về thi hành án dân sự, như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (1995), Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (1997), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (2004) và nhất là trong Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng, Hội đồng nhà nước trước đây, nay là Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1993 và gần đây là Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004.

Kết quả sau hơn ba năm thực hiện Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 cho thấy, nhiều quy định về thủ tục thi hành án đã thể hiện được quan điểm cải cách tư pháp, cải cách hành chính, phù hợp với sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường, tháo gỡ kịp thời một số tồn tại, vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự, góp phần từng bước nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án. Tuy nhiên, so với đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới thì Pháp lệnh năm 2004 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, nhất là quy định về trình tự, thủ tục; trách nhiệm, cơ chế phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong thi hành án; cơ chế quản lý, mô hình tổ chức cơ quan thi hành án chưa ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc được giao; quyền hạn của cơ quan thi hành án, của Chấp hành viên chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; chưa có cơ chế phối hợp hiệu quả giữa thi hành án dân sự với thi hành án phạt tù, đặc biệt là các vụ án hình sự có bồi thường thiệt hại; chưa tạo ra cơ sở pháp lý để thực hiện xã hội hoá hoạt động thi hành án dân sự, v.v… Các hạn chế, bất cập này là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng án dân sự tồn đọng, tuy có giảm dần, nhưng hiện nay vẫn còn lớn (năm 2005 có 327.658 vụ việc tồn đọng chiếm 58.38%; năm 2006 có 331.092 vụ việc tồn đọng chiếm 54.99%; năm 2007 có 311.443 vụ việc tồn đọng chiếm 48.04%; năm 2008 có 313.428 vụ việc tồn đọng), làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tính nghiêm minh của pháp luật; quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án chưa được bảo đảm, nhiều việc gây bức xúc trong xã hội.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc xây dựng, ban hành Luật thi hành án dân sự nhằm tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác thi hành án, hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục thi hành án, củng cố, kiện toàn cơ quan thi hành án, tạo chuyển biến cơ bản trong lĩnh vực quan trọng, nhưng còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém này là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Căn cứ Nghị quyết số 11/2007/QH12 ngày 21/11/2007 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ Khoá XII (2007 – 2011) và năm 2008, Chính phủ đã chỉ đạo Ban soạn thảo Luật thi hành án dân sự do Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập gồm đại diện của Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Luật gia Việt Nam tiến hành soạn thảo Luật thi hành án dân sự. Trên cơ sở kế thừa nội dung của phần thi hành án dân sự trong Dự án Bộ luật thi hành án (được Chính phủ thông qua và Quốc hội cho ý kiến năm 2005), Ban soạn thảo đã tiến hành xây dựng Dự án Luật thi hành án dân sự.

Việc ban hành Luật thi hành án dân sự nhằm các mục đích, yêu cầu sau đây:

1. Góp phần tạo chuyển biến cơ bản trong công tác thi hành án dân sự, khắc phục tình trạng tồn đọng án kéo dài; nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, kỷ cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật.

2. Bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại.

3. Xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tăng cường vị trí, vai trò của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên; xác định rõ hơn trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan trong hoạt động thi hành án dân sự, cũng như công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự.

4. Tạo cơ sở pháp lý cho việc từng bước thực hiện xã hội hoá công tác thi hành án như Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra.

II. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Luật thi hành án dân sự được xây dựng theo những quan điểm chỉ đạo sau đây:

1. Quán triệt và thể chế hoá các nghị quyết của Đảng, như Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX ngày 03/02/2004: “Tập trung thực hiện tốt công tác thi hành án, nhất là thi hành án dân sự, khắc phục cơ bản tình trạng tồn đọng kéo dài“; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020: “xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp phù hợp với mục tiêu, định hướng chiến lược cải cách tư pháp; xác định đúng, đủ quyền năng và trách nhiệm pháp lý cho từng cơ quan, chức danh tư pháp” “Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tư pháp“; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó, xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm; “từng bước thực hiện việc xã hội hoá và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”; “nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”.

2. Kế thừa, luật hoá các quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự, đặc biệt là Pháp lệnh năm 2004 và các nghị định hướng dẫn thi hành, đồng thời xây dựng những quy định mới trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành án dân sự của nước ta qua các thời kỳ, cũng như tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, để xây dựng một khuôn khổ pháp luật có giá trị pháp lý cao, tương đối đồng bộ cho công tác thi hành án dân sự.

3. Tiếp tục thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp, từng bước xã hội hoá hoạt động thi hành án, phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời bảo đảm sự quản lýtập trung, thống nhất của Nhà nước đối với hoạt động thi hành án dân sự.

4. Bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Hiến pháp, tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật khác có liên quan và sự phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

III. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1. Bố cục và phạm vi điều chỉnh của Luật thi hành án dân sự:

a. Luật thi hành án dân sự gồm 9 chương, 183 điều.

b. Luật thi hành án dân sự điều chỉnh 04 loại vấn đề sau đây:

– Nguyên tắc, trình tự, thủ tục thi hành bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại (sau đây gọi chung là bản án, quyết định).

– Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên.

– Quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thi hành án dân sự.

2. Những nội dung cơ bản của Luật thi hành án dân sự

a. Những quy định chung

– Một số từ ngữ cơ bản trong Luật thi hành án dân sự

– Việc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

– Thoả thuận thi hành án

– Quyền yêu cầu thi hành án

– Tiếng nói và chữ viết dùng trong thi hành án dân sự

– Tự nguyện và cưỡng chế thi hành án

– Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

– Trách nhiệm phối hợp trong thi hành án dân sự, giám sát và kiểm sát việc thi hành án dân sự.

b. Hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và Chấp hành viên

– Hệ thống tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự các cấp

– Ngạch, tiêu chuẩn bổ nhiệm, miễn nhiệm và nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự

– Biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất của cơ quan thi hành án dân sự và trang phục, phù hiệu, chế độ đối với công chức làm công tác thi hành án dân sự.

c. Thủ tục thi hành án

– Trách nhiệm hướng dẫn quyền yêu cầu thi hành án, cấp, chuyển giao bản án, quyết định; thủ tục nhận bản án, quyết định

– Thời hiệu yêu cầu thi hành án; đơn yêu cầu thi hành án; thủ tục gửi, nhận, từ chối đơn yêu cầu thi hành án

– Thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự

– Thông báo về thi hành án

– Xác minh điều kiện thi hành án

– Thời hạn tự nguyện thi hành án và căn cứ cưỡng chế thi hành án

– Hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả đơn yêu cầu, uỷ thác, kết thúc thi hành án, xác nhận kết quả thi hành án

– Miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước; về bảo đảm tài chính từ ngân sách nhà nước để thi hành án.

d. Biện pháp bảo đảm thi hành án

– Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

– Phong tỏa tài khoản

– Tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

– Tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

đ. Cưỡng chế thi hành án dân sự

– Quy định chung về cưỡng chế thi hành án

+ Căn cứ cưỡng chế thi hành án

+ Biện pháp cưỡng chế thi hành án

+ Kế hoạch cưỡng chế thi hành án

+ Chi phí cưỡng chế thi hành án

+ Cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung;

+ Xử lý đối với tài sản khi cưỡng chế có tranh chấp.

– Cưỡng chế thi hành đối với tài sản là tiền

+ Khấu trừ tiền trong tài khoản

+ Chấm dứt phong tỏa tài khoản

+ Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án

+ Thu tiền từ hoạt động kinh doanh của người phải thi hành án

+ Thu tiền của người phải thi hành án đang giữ

+ Thu tiền của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ

– Cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá

+ Thu giữ giấy tờ có giá

+ Bán giấy tờ có giá

– Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sở hữu trí tuệ

+ Kê biên, sử dụng, khai thác quyền sở hữu trí tuệ

+ Định giá quyền sở hữu trí tuệ

+ Bán đấu giá quyền sở hữu trí tuệ

– Cưỡng chế đối với tài sản là vật

+ Tài sản không được kê biên

+ Thực hiện việc kê biên

+ Kê biên tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm

+ Kê biên tài sản của người phải thi hành án đang do người thứ ba giữ

+ Kê biên vốn góp

+ Kê biên đồ vật bị khóa, đóng gói

+ Kê biên tài sản gắn liền với đất

+ Kê biên nhà ở

+ Kê biên phương tiện giao thông

+ Kê biên hoa lợi

+ Định giá, định giá lại tài sản kê biên

+ Giao tài sản để thi hành án

+ Bán tài sản đã kê biên

+ Huỷ kết quả bán đấu giá tài sản

+ Giao tài sản bán đấu giá

+ Xử lý tài sản bán đấu giá không thành

+ Giải toả kê biên tài sản

+ Đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản

– Cưỡng chế khai thác đối với tài sản

+ Cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án

+ Hình thức cưỡng chế khai thác tài sản để thi hành án

+ Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản

– Cưỡng chế đối với tài sản là quyền sử dụng đất

+ Quyền sử dụng đất được kê biên, bán đấu giá để thi hành án

+ Kê biên quyền sử dụng đất

+ Tạm giao quản lý, khai thác, sử dụng diện tích đất đã kê biên

+ Xử lý tài sản gắn liền với đất đã kê biên

– Cưỡng chế trả vật, giấy tờ, chuyển quyền sử dụng đất

+ Thủ tục cưỡng chế trả vật

+ Cưỡng chế trả nhà, giao nhà

+ Cưỡng chế trả giấy tờ

+ Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất

– Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định

+ Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định

+ Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định

+ Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định

+ Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc

e) Thi hành án trong một số trường hợp cụ thể

– Thủ tục thi hành khoản tịch thu sung quỹ nhà nước, tiêu huỷ tài sản, hoàn trả tiền, tài sản đã kê biên, tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự

– Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

– Thi hành quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm

– Thi hành quyết định về phá sản.

g) Khiếu nại, tố cáo và kháng nghị về thi hành án dân sự

– Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự

– Tố cáo và giải quyết tố cáo về thi hành án dân sự

– Kháng nghị và giải quyết kháng nghị về thi hành án dân sự.

h) Xử lý vi phạm

– Những hành vi vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự

– Thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về xử phạt vi phạm và về các biện pháp xử lý vi phạm trong thi hành án.

i) Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự

– Nhiệm vụ, quyền hạn trong thi hành án của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng; của Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Uỷ ban nhân dân các cấp, Tư lệnh quân khu và tương đương.

– Trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội, Kho bạc nhà nước, ngân hàng và tổ chức tín dụng khác; của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm, cơ quan đã ra bản án, quyết định và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự.

k) Tương trợ tư pháp về dân sự trong thi hành án

3. Những nội dung mới quan trọng của Luật thi hành án dân sự

Luật thi hành án dân sự kế thừa nhiều quy định của Pháp lệnh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đã được thực tiễn kiểm nghiệm và pháp điển hoá thành quy định của Luật. Đồng thời, để phát huy hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự, hạn chế tối đa tình trạng án tồn đọng kéo dài, bên cạnh việc sửa đổi một số quy định hiện hành, Luật thi hành án dân sự bổ sung rất nhiều quy định mới, trong đó có một số vấn đề quan trọng như sau:

a. Về hệ thống tổ chức thi hành án dân sự

Vấn đề về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự có ý nghĩa rất quan trọng, quyết định hiệu quả của công tác thi hành án dân sự, nên việc quy định nguyên tắc về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân sự trong Luật, nhất là phân định rõ cơ quan quản lý thi hành án dân sự và cơ quan thi hành án dân sự trong hệ thống tổ chức là cần thiết, tạo cơ sở cho Chính phủ quy định cụ thể mô hình tổ chức cơ quan thi hành án dân sự.

Điều 13 Luật thi hành án dân sự quy định hệ thống tổ chức thi hành án dân sự bao gồm:

1. Cơ quan quản lý thi hành án dân sự:

– Cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp

– Cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng

2. Cơ quan thi hành án dân sự:

– Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh).

– Cơ quan thi hành án dân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện).

– Cơ quan thi hành án quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là cơ quan thi hành án cấp quân khu).

Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; tên gọi, cơ cấu, tổ chức cụ thể của cơ quan thi hành án dân sự.

b. Ngạch, thi tuyển, nhiệm kỳ bổ nhiệm Chấp hành viên (Điều 17, Điều 18)

Để khắc phục những vướng mắc trong thời gian qua trong việc tuyển dụng, bố trí sử dụng, điều động, luân chuyển Chấp hành viên, Luật thi hành án dân sự quy định Chấp hành viên có 3 ngạch gồm Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp, đồng thời quy định việc bổ nhiệm chấp hành viên phải thông qua thi tuyển và bỏ quy định hiện hành về việc bổ nhiệm Chấp hành viên theo nhiệm kỳ.

c. Về thời hiệu yêu cầu thi hành án(Điều 30)

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 3 năm. Thực tiễn thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy quy định thời hiệu này là ngắn, ảnh hưởng đến việc bảo vệ quyền lợi của đương sự. Vì vậy, Luật thi hành án dân sự đã quy định thời hiệu yêu cầu thi hành án là 05 năm, như sau:

1. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

2. Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

3. Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.

d. Về điều kiện xem xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp Ngân sách nhà nước (Điều 61)

Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 quy định người phải thi hành án phải có đơn xin miễn, giảm thi hành án; đồng thời quy định điều kiện xét miễn giảm thi hành án theo tiêu chí điều kiện thi hành án, thời gian đã tổ chức thi hành và tính chất của loại việc thi hành án. Thực tiễn cho thấy những quy định trên chưa hoàn toàn phù hợp, vì vậy, Luật thi hành án dân sự đã quy định theo hướng phân biệt rõ điều kiện để miễn và điều kiện để giảm thi hành án. Nhằm khuyến khích đương sự tích cực chấp hành án, đảm bảo công bằng trong việc xét miễn, giảm thi hành án, Luật thi hành án dân sự cũng quy định việc miễn, giảm thi hành án căn cứ vào điều kiện thi hành án, thời gian đã tổ chức thi hành án, khoản đã thi hành được và mức nghĩa vụ còn phải thi hành.

đ. Về các biện pháp bảo đảm thi hành án(từ Điều 66 đến Điều 69)

Để ngăn chặn tình trạng người phải thi hành án tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án, Luật thi hành án dân sự đã quy định về thẩm quyền và thủ tục áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án. Theo đó, Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.

Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

– Phong toả tài khoản.

– Tạm giữ tài sản, giấy tờ.

– Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.

e. Về biện pháp và thủ tục cưỡng chế thi hành án(Chương IV)

Luật thi hành án dân sự đã quy định về cưỡng chế đối với quyền sở hữu trí tuệ, giấy tờ có giá của người phải thi hành án (mục 4, mục 5) và bổ sung biện pháp cưỡng chế khai thác đối với tài sản để thi hành án (mục 7). Luật thi hành án dân sự cũng đã quy định chi tiết, chặt chẽ hơn đối với thủ tục áp dụng từng biện pháp cưỡng chế thi hành án cụ thể.

g. Về định giá, định giá lại, bán đấu giá tài sản kê biên(Điều 98, 99 và Điều 101)

Pháp luật hiện hành quy định việc định giá tài sản về thi hành án phải thông qua Hội đồng định giá do Chấp hành viên làm Chủ tịch là không phù hợp. Vì vậy, Luật thi hành án dân sự đã đổi mới cơ bản cơ chế xử lý tài sản để đảm bảo thi hành án theo hướng chuyên nghiệp hoá việc định giá tài sản kê biên. Theo đó, việc định giá, định giá lại và bán đấu giá chủ yếu do tổ chức thẩm định giá, tổ chức bán đấu giá thực hiện. Mặt khác, việc định giá lại chỉ được thực hiện trong trường hợp có vi phạm về việc định giá và khi đương sự có yêu cầu định giá lại.

h. Về thi hành nghĩa vụ buộc nhận người lao động trở lại làm việc(Điều 121)

Khắc phục tình trạng thiếu hiệu quả của việc thi hành án lao động trong những năm qua, Luật thi hành án dân sự đã dành 1 điều để quy định về thủ tục thi hành quyết định của Toà án về việc buộc nhận người lao động trở lại làm việc, trong đó quy định các biện pháp cụ thể, thủ tục chặt chẽ theo hướng bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong trường hợp người sử dụng lao động chậm trễ trong việc thi hành án hoặc do điều kiện khách quan không thể bố trí được công việc cho người lao động theo đúng nội dung của bản án, quyết định đã tuyên.

i. Về thi hành án đối với một số trường hợp cụ thể (từ Điều 122 đến Điều 149)

Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 chưa có quy định cụ thể về thủ tục thi hành án đối với một số loại bản án, quyết định dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án. Khắc phục tình trạng này, Luật thi hành án dân sự đã dành một chương để quy định thủ tục thi hành án đối với một số trường hợp cụ thể như thi hành phần dân sự trong bản án, quyết định hình sự, trong đó có quy định về việc trại giam, trại tạm giam thu án phí, tiền phạt và các khoản phải thu khác đối với người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù; thủ tục thi hành quyết định khẩn cấp tạm thời; biện pháp xử lý trong trường hợp bản án đã thi hành xong, nhưng bị huỷ do quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Toà án và thủ tục thi hành bản án về phá sản.

k. Về nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự (Chương VIII)

Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 chỉ mới dành một điều quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự. Chính vì vậy, trong quá trình thi hành án, có sự lúng túng về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án dân sự; sự phối hợp giữa Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức liên quan chưa được kịp thời, đồng bộ, có việc chưa nghiêm. Khắc phục nhược điểm này, Luật thi hành án dân sự đã dành hẳn một chương để quy định về những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong thi hành án của các cơ quan có thẩm quyền quản lý công tác thi hành án dân sự; của các cơ quan có trách nhiệm trong việc phối hợp thi hành án dân sự và của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

4. Những nội dung cơ bản của Nghị quyết về việc thi hành Luật thi hành án dân sự:

Cùng với việc thông qua Luật thi hành án dân sự, Quốc hội Khoá XII kỳ họp thứ tư đã thông qua Nghị quyết về việc thi hành Luật thi hành án dân sự. Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về việc thi hành Luật thi hành án dân sự là văn bản pháp lý có ý nghĩa quan trọng nhằm triển khai có hiệu quả Luật thi hành án dân sự, đồng thời tạo cơ sở để Chính phủ quy định, tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương và một số nội dung chuyển tiếp cần thiết, liên quan đến hiệu lực và hiệu quả thi hành Luật thi hành án dân sự trong thực tiễn.

Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2008 về việc thi hành Luật thi hành án dân sự có những nội dung cơ bản sau đây:

a. Tạo cơ sở pháp lý để triển khai chủ trương xã hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự:

Giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương. Việc thí điểm được thực hiện từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành đến ngày 01/7/2012. Trên cơ sở kết quả thí điểm, Chính phủ tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định.

b. Quy định về việc miễn thi hành án theo thủ tục rút gọn đối với khoản nghĩa vụ không quá 500.000đ:

Quy định về việc miễn thi hành đối với các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 5 năm, tính đến thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành nhưng người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án.

c. Quy định trách nhiệm của Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Luật thi hành án dân sự trong cán bộ, công chức và nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Luật thi hành án dân sự trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của cơ quan, tổ chức.

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Hiệu lực thi hành

Luật thi hành án dân sự hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2009. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004 hết hiệu lực kể từ ngày Luật thi hành án dân sự có hiệu lực.

2. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

Bộ Tư pháp sẽ ban hành kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện Luật thi hành án dân sự và Nghị quyết thi hành Luật này.

Việc lần đầu tiên Quốc hội ban hành Luật thi hành án dân sự là một sự kiện quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc, lâu dài cho công tác thi hành án dân sự của một đất nước vẫn tồn tại nhiều bất cập, yếu kém; tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tạo những chuyển biến cơ bản trong hoạt động này trong thời gian tới. Trước mắt sẽ cơ bản khắc phục được tình trạng tồn động án kéo dài. Về lâu dài sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, kỷ cương phép nước và tính nghiêm minh của pháp luật, đặc biệt là sẽ bảo vệ tốt hơn quyền của người được thi hành án, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và Nhà nước theo bản án, quyết định của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại./.

SOURCE: CỤC THI HÀNH ÁN – VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT, BỘ TƯ PHÁP

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: