Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CÔNG VĂN SỐ 95/VPCP- KGVX NGÀY 06/01/2009 CỦA VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ VỀ QUAN HỆ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

Kính gửi:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ;
– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
– Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Xét đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (báo cáo số 87/BC-UBND ngày 11 tháng 8 năm 2008 ) và ý kiến của Bộ Công an (công văn số 1947/BCA-A11 ngày 05 tháng 9 năm 2008 ), Bộ Ngoại giao (công văn số 1026/BNG-LS-m ngày 05 tháng 9 năm 2008 ) và Bộ Tư pháp (công văn số 3195/BTC-HCTP ngày 07 tháng 10 năm 2008 ) về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm có ý kiến như sau:

1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tăng cường thực hiện quản lý nhà nước về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, tiếp tục thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài (Nghị định 68 ) và Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68 (Nghị định 69).

2. Bộ Tư pháp:

a. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các cơ quan khác liên quan khẩn trương nghiên cứu, xây dựng: dự thảo văn bản về một số biện pháp tăng cường quản lý việc trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quí I năm 2009; dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài của Nghị định 68 và Nghị định 69, trình Chính phủ chậm nhất trong quí II năm 2009;

b. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao và các cơ quan khác liên quan tiếp tục đàm phán, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc thỏa thuận với các nước hữu quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam đang sinh sống tại các nước nói trên trong quan hệ hôn nhân và gia đình với công dân các nước này về quốc tịch, cư trú, hôn nhân và gia đình, tài sản và một số nội dung khác liên quan, phù hợp với pháp luật của Việt Nam, pháp luật của nước sở tại và tập quán quốc tế;

c. Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công an và các cơ quan khác liên quan khẩn trương xây dựng đề án thí điểm thành lập một công ty tư vấn hôn nhân quốc tế của Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh, trình Thủ tướng Chính phủ chậm nhất trong quý II năm 2009.

3. Bộ Ngoại giao chỉ đạo các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt ở những khu vực có nhiều phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật nước sở tại và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

4. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thông qua Bộ Ngoại giao, chủ động nắm tình hình cộng đồng phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài hiện đang cư trú ở nước ngoài, để tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân địa phương, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

5. Đề nghị Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nghiên cứu mở rộng mối quan hệ hợp tác với các tổ chức tư vấn hôn nhân quốc tế hợp pháp của các nước ASEAN và các nước khác.

Văn phòng Chính phủ thông báo để các cơ quan biết, thực hiện.

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: