Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

PHẦN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG

I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG (CHƯƠNG I)

Chương I gồm 10 điều (từ Điều 1 đến Điều 10) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; các hành vi tham nhũng, nguyên tắc xử lý tham nhũng: quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn cũng như trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, trách nhiệm của cơ quan báo chí trong phòng, chống tham nhũng; trách nhiệm phối hợp của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và của cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan; quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng; và các hành vi bị nghiêm cấm.

1- Phạm vi điều chỉnh

Điều 1 khoản 1 quy định phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

“Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng”.

Như vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng gồm các nội dung chủ yếu là:

– Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng;

– Việc phát hiện hành vi tham nhũng;

– Việc xử lý người có hành vi tham nhũng;

– Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong phòng, chống tham nhũng.

Quy định này thể hiện chủ trương đẩy mạnh phòng ngừa tham nhũng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng giai đoạn hiện nay của Nhà nước ta, coi đó là một giải pháp có tính chiến lược, căn bản, lâu dài để chủ động ngăn chặn ngay từ đầu nguy cơ tham nhũng, từng bước hạn chế, đẩy lùi nạn tham nhũng. Đây là một điểm mới trong pháp luật về phòng, chống tham nhũng, là một bước đột phá trong tư duy lập pháp về phòng, chống tham nhũng nói riêng và quản lý nhà nước nói chung. Nếu trước kia, nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu theo tinh thần của Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998 là phát hiện và xử lý tham nhũng thì hiện nay, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 cho thấy, bên cạnh việc tăng cường phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, công tác phòng ngừa tham nhũng phải được coi là một nhiệm vụ trọng tâm, then chốt.

Việc đề cao cơ chế phòng ngừa tham nhũng nhằm: (i) góp phần hạn chế những khiếm khuyết, hàn gắn những lỗ hổng trong hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành, nhất là trong lĩnh vực quản lý kinh tế; (ii) tạo tiền đề cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động phát hiện, xử lý tham nhũng khắc phục hậu quả hành vi tham nhũng; (iii) tăng cường vai trò, sự tham gia tích cực của nhân dân, các tổ chức đoàn thể, báo chí trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước nói chung và công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng; (iv) góp phần xây dựng một nền quản lý chuyên nghiệp, liêm chính và một xã hội trong sạch, phi tham nhũng.

Điều 1 khoản 2 về khái niệm tham nhũng quy định:

“Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”.

Như vậy, tham nhũng được mô tả dưới dạng hành vi, bao gồm ba yếu tố.

Thứ nhất, hành vi này được thực hiện bởi một đối tượng đặc biệt là người có chức vụ, quyền hạn; thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao và thứ ba, hành vi này thực hiện với mục đích vì vụ lợi. Yếu tố vụ lợi được hiểu không chỉ là vụ lợi cho cá nhân mình mà còn có thể là vụ lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình hoặc tổ chức, cá nhân khác. Lợi ích được hướng tới ở đây không chỉ là lợi ích về vật chất mà có thể là cả lợi ích về tinh thần. Lợi ích đó có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Được coi là hành vi tham nhũng nếu có đủ cả ba yếu tố, nếu thiếu một trong các yếu tố đó thì tuy không là tham nhũng, nhưng có thể là một hành vi vi phạm pháp luật khác (chẳng hạn: hành vi cố ý làm trái, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Về những đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn, khoản 3 Điều 1 quy định:

“a) Cán bộ, công chức, viên chức;

b) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.

Như vậy, có bốn nhóm đối tượng được coi là người có chức vụ, quyền hạn.

Nhóm thứ nhất nêu tại điểm a là cán bộ, công chức, viên chức được quy định cụ thể trong Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi, bổ sung các năm 2000, 2003). Đây là nhóm đối tượng chủ yếu, chiếm tỷ lệ lớn về số lượng trong số người có chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng. Đồng thời, cán bộ, công chức, viên chức cũng là nhóm đối tượng thường nắm giữ những vị trí, công việc liên quan đến vốn, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc trực tiếp, giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp, có nhiều cơ hội để thực hiện hành vi tham nhũng nên cần được thể chế hóa và giám sát chặt chẽ để giảm thiểu nguy cơ tham nhũng.

Nhóm thứ hai gồm những người có chức vụ, quyền hạn nêu tại điểm b là nhóm đối tượng có địa vị pháp lý tương đối đặc thù, thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân và được quy định cụ thể tại Luật Quốc phòng và Luật Công an nhân dân.

Nhóm thứ ba nêu tại điểm c có thể được chia thành hai loại: thứ nhất, những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước, theo đó, doanh nghiệp của Nhà nước được hiểu là doanh nghiệp một trăm phần trăm vốn nhà nước; thứ hai, cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp khác.

Nhóm thứ tư là những người nêu tại điểm d cũng đã được quy định là người có chức vụ, quyền hạn tại Phần các tội phạm về chức vụ của Bộ luật Hình sự. Theo đó, bên cạnh đối tượng là cán bộ, công chức nhà nước, những người tuy không phải là cán bộ, công chức nhưng được giao nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó cũng được coi là người có chức vụ, quyền hạn và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng.

2- Giải thích từ ngữ

Tham nhũng là vấn đề không mới nhưng lại khá phức tạp, có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau, vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng dành một điều để giải thích các thuật ngữ được sử dụng trong Luật nhằm thống nhất nhận thức và làm cơ sở cho việc tìm hiểu và áp dụng đúng tinh thần của toàn bộ đạo luật.

“Tài sản tham nhũng là tài sản có được từ hành vi tham nhũng, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng”. Như vậy, tài sản tham nhũng có thể được hiểu là tài sản mà người thực hiện hành vi tham nhũng trực tiếp có được thông qua việc thực hiện hành vi tham nhũng đó (chẳng hạn: một khoản tiền có được do hành vi tham ô hay nhận hối lộ) hoặc gián tiếp (chẳng hạn: một ngôi nhà, một chiếc xe ô tô được mua bằng tiền nhận hối lộ,…). Tóm lại, tài sản có nguồn gốc từ hành vi tham nhũng thì bị coi là tài sản tham nhũng. Việc xác định tài sản tham nhũng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác xử lý tham nhũng.

“Công khai là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố, cung cấp thông tin chính thức về văn bản, hoạt động hoặc về nội dung nhất định”. Có ba nội dung cần lưu ý trong thuật ngữ này. Một là, công khai có thể bằng hai hình thức: công bố hoặc cung cấp thông tin. Hai là, thông tin đó phải là thông tin chính thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị công bố hoặc cung cấp. Ba là, đối tượng mà thông tin đề cập tới là văn bản, hoạt động hoặc nội dung nhất định.

Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chỉ có thể thực hiện quyền hạn của mình trên cơ sở những thông tin chính thức. Chính vì tính chất quan trọng như vậy, để tránh sự lộn xộn trong việc đưa tin và xử lý thông tin liên quan đến hoạt động của các cơ quan nhà nước mà hiện nay, Chính phủ đã có người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ và cũng đã yêu cầu các cơ quan, trước hết là cán bộ, ngành trung ương phải có người phát ngôn chính thức của bộ, ngành mình.

“Minh bạch tài sản, thu nhập là việc kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và khi cần thiết được xác minh, kết luận”. Đây là thuật ngữ mới mà trong Pháp lệnh Chống tham nhũng chưa có. Trước kia, Pháp lệnh Chống tham nhũng chỉ quy định việc kê khai tài sản, còn với tinh thần mới của đạo luật này thì ngoài việc kê khai tài sản, thu nhập, còn có quy định việc xác minh, kết luận về tính minh bạch của việc kê khai đó trong trường hợp cần thiết. Như vậy, minh bạch tài sản, thu nhập có mục đích bảo đảm tính chất rõ ràng, rành mạch đối với tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trước Nhà nước và khi xã hội đòi hỏi và là một biện pháp hữu hiệu, quan trọng trong cơ chế phòng ngừa tham nhũng.

“Nhũng nhiễu là hành vi cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ”. Thực tế cho thấy hành vi nhũng nhiễu, cố tình gây khó khăn, phiền hà nhằm vòi vĩnh, đòi hối lộ của một bộ phận cán bộ, công chức khi giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp đang trở thành một biểu hiện tham nhũng tương đối phổ biến, gây bất bình, nhức nhối trong nhân dân. Thực tế này đặt ra yêu cầu phải quy định hành vi này trong Luật Phòng, chống tham nhũng để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý. Do dó, Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi là một hành vi tham nhũng. Vì vậy, việc giải thích thuật ngữ “nhũng nhiễu” là rất quan trọng, là tiền đề để giải thích và áp dụng quy định về hành vi nhũng nhiễu vì vụ lợi.

“Vu lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng”. Đây là một thuật ngữ không mới nhưng cần được giải thích và có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng giai đoạn hiện nay. Pháp lệnh Chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chưa thể hiện rõ điều này. Khái niệm vụ lợi mới chỉ dừng lại ở những lợi ích vật chất cụ thể. Đây là một hạn chế rất lớn, trên thực tế hành vi tham nhũng hiện nay diễn ra rất tinh vi với những lợi ích rất đa dạng mà người tham nhũng hướng tới, thậm chí trong một số trường hợp khó xác định lợi ích đó là vật chất hay tinh thần. Việc chứng minh yếu tố vụ lợi để từ đó xác định hành vi của người vi phạm luôn là vấn đề khó khăn trong các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Vì vậy, việc giải thích rõ khái niệm vụ lợi như trên là điều cần thiết.

“Cơ quan, tổ chức, đơn vị bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước”. Hiện nay, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa trong nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế – xã hội cho nên rất nhiều tổ chức hình thành đáp ứng đầy đủ các yếu tố là một chủ thể pháp lý độc lập (như các pháp nhân kinh tế, các hội nghề nghiệp, các câu lạc bộ…). Luật Phòng, chống tham nhũng chủ yếu hướng vào việc phòng, chống tham nhũng trong khu vực nhà nước cho nên những quy định của đạo luật này chủ yếu áp dụng cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà nước. Vì vậy, Luật giải thích khái niệm này để giới hạn phạm vi đối tượng áp dụng chủ yếu là các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách và tài sản của Nhà nước.

3- Các hành vi tham nhũng

Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các hành vi tham nhũng bao gồm:

“1. Tham ô tài sản.

2. Nhận hối lộ.

3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

4. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

5. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi.

7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.

8. Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi.

9. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi.

10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi.

11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”.

Như vậy, so với những hành vi tham nhũng tại Pháp lệnh Chống tham nhũng và các tội phạm về tham nhũng trong Bộ luật Hình sự thì Luật Phòng, chống tham nhũng có bổ sung năm hành vi tham nhũng mới. Đây là những hành vi xuất hiện ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây. Việc quy định thêm năm loại hành vi mới này là cần thiết và là cơ sở pháp lý để đấu tranh với những biểu hiện ngày càng phức tạp của tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi tham nhũng đều bị xử lý về hình sự mà chỉ những hành vi hội đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự thì mới được xác định là tội phạm và bị xử lý bằng biện pháp hình sự, (các hành vi được quy định từ khoản 1 đến khoản 7 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng) còn những hành vi khác (từ khoản 8 đến khoản 12 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng) được xác định là hành vi tham nhũng nhưng chưa cấu thành tội phạm thì được xử lý bằng biện pháp kỷ luật.

– Về hành vi “đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi”. Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Khác với trước kia, tham nhũng thường là những hiện tượng nhỏ lẻ, được thực hiện bởi một hoặc một vài cá nhân, thì hiện nay, tham nhũng đã trở nên tinh vi, phức tạp hơn và nhiều khi mang tính tập thể, có tổ chức. Lợi ích mà hành vi tham nhũng nhằm đạt tới nhiều khi không trực tiếp mà “vòng vèo”. Do vẫn còn tồn tại cơ chế “xin – cho” trong nhiều lĩnh vực nên có nhiều cá nhân đại diện cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương đã tìm cách hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngân sách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó để đạt được các lợi ích cá nhân. Hành vi này được coi là hành vi tham nhũng. Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộc nhóm các tội phạm về chức vụ. Nhưng hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ được thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi tham nhũng. Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danh tương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm) vừa là hành vi tham nhũng theo sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng.

– Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi”. Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sản của Nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vì phục vụ cho lợi ích công. Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuê tài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ô tô và các tài sản khác để lấy tiền chia nhau, nhiều khi là một số lượng rất lớn và tình trạng này có ở hầu hết các cấp, từ Trung ương đến địa phương và cần phải ngăn chặn kịp thời.

– Về hành vi “nhũng nhiễu vì vụ lợi”. Nhũng nhiễu là hành vi đã được mô tả trong phần giải thích từ ngữ. Cần nhấn mạnh thêm hành vi này rất phổ biến trong hoạt động của cơ quan công quyền, nhất là tại các cơ quan hành chính, nơi trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp. Một số cán bộ, công chức không thực hiện trách nhiệm với thái độ công tâm và tinh thần phục vụ mà ngược lại, thường tìm cách lợi dụng những sơ hở hoặc không rõ ràng của các thủ tục, thậm chí tự ý đặt ra các điều kiện gây thêm khó khăn cho công dân và doanh nghiệp để buộc công dân và doanh nghiệp phải quà cáp, biếu xén cho mình. Thực chất của hành vi này là sự ép buộc đưa hối lộ được che đậy dưới hình thức tinh vi, rất khó có căn cứ để xử lý. Cũng có thể coi hành vi nhũng nhiễu là hành vi “đòi hối lộ” một cách gián tiếp hoặc ở mức độ chưa thật nghiêm trọng và có thể dùng biện pháp xử lý hành chính.

– Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi”. Không ít hành vi tham nhũng được che chắn, thậm chí là đồng lõa của những người có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn. Việc bao che cho người có hành vi tham nhũng, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng nhiều khi được che đậy dưới rất nhiều hình thức khác nhau: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thực hiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan có thẩm quyền,…

Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi”. Đây là hành vi được thực hiện dưới dạng không hành động. Theo đó, người có chức vụ, quyền hạn đã không làm một việc mà pháp luật buộc phải làm, chủ yếu là không ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật, không thực hiện các nghĩa vụ về bảo đảm an toàn, an ninh hay bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức để tạo điều kiện cho các hành vi vi phạm pháp luật. Và đổi lại, với việc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người có chức vụ, quyền hạn sẽ được trao một lợi ích nhất định nào đó. Đây là hiện tượng hết sức nguy hại, xuất hiện ngày càng nhiều và cần phải đấu tranh mạnh mẽ.

4- Nguyên tắc xử lý tham nhũng

Các nguyên tắc cơ bản trong xử lý tham nhũng được quy định tại Điều 4 Luật Phòng, chống tham nhũng:

“1. Mọi hành vi tham nhũng đều phải được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh.

2. Người có hành vi tham nhũng ở bất kỳ cương vị, chức vụ nào phải bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật.

4. Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát hiện, tích cực hạn chế thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng thì có thể được xem xét giảm nhẹ hình thức kỷ luật, giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Việc xử lý tham nhũng phải được thực hiện công khai theo quy định của pháp luật.

6. Người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác vẫn phải bị xử lý về hành vi tham nhũng do mình đã thực hiện”.Các nguyên tắc nêu trên thể hiện một thái độ nghiêm khắc và công bằng trong việc xử lý tham nhũng. Các nguyên tắc xử lý tham nhũng trong Luật được quy định toàn diện, nghiêm khắc hơn so với các nguyên tắc xử lý trong Pháp lệnh trước đây. Theo đó, người có hành vi tham nhũng có thể được giảm nhẹ chứ không được miễn xử lý hoàn toàn, nguyên tắc này nhằm loại trừ việc các cơ quan nhà nước “xuê xoa”, không xử lý đối với người có hành vi tham nhũng, vốn đang là một hiện tượng tương đối phổ biến, gây bất bình trong dư luận hiện nay. Ngoài ra, nguyên tắc công khai hóa việc xử lý kỷ luật đối với người có hành vi tham nhũng cũng là một sự bổ sung quan trọng và cần thiết nhằm góp phần nâng cao nhận thức của xã hội đối với tham nhũng và răn đe đối với những người có ý định vi phạm. Quy định về việc xử lý người có hành vi tham nhũng đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác cũng là để ngăn chặn tình trạng một số kẻ lợi dụng lúc còn đương chức tranh thủ đục khoét, vơ vét sau đó “hạ cánh an toàn” trước khi bị phát hiện.

5- Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân trong phòng, chống tham nhũng

Đấu tranh chống tham nhũng là trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và toàn thể xã hội. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định chung về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân tại Chương I. Nội dung cụ thể về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng được quy định tại Chương VI.

5.1. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị và người có chức vụ, quyền hạn

Điều 5 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm chung trong phòng, chống tham nhũng của các chủ thể là: (i) cơ quan, tổ chức, đơn vị; (ii) người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị; (iii) người có chức vụ, quyền hạn.Cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

– Tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng;

– Tiếp nhận, xử lý kịp thời báo cáo, tố giác, tố cáo và thông tin khác về hành vi tham nhũng;

– Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo hành vi tham nhũng;

– Chủ động phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng; kịp thời cung cấp thông tin, tài liệu và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong quá trình phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm:

– Chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện các quy định về phòng, chống tham nhũng;

– Gương mẫu, liêm khiết; định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và trách nhiệm của mình trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng;

– Chịu trách nhiệm khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.Người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm:

– Thực hiện nhiệm vụ, công vụ đúng quy định của pháp luật;

– Gương mẫu, liêm khiết; chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp;

– Kê khai tài sản theo quy định của Luật này và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của việc kê khai đó.

Đây là những trách nhiệm chung, quan trọng nhất mà mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng phải thực hiện. Có thể thấy rất rõ, Luật Phòng, chống tham nhũng đã phân định trách nhiệm phù hợp với đặc trưng của từng chủ thể. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị được gắn chặt chẽ với trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật, phòng ngừa tham nhũng, xử lý thông tin về hành vi tham nhũng và phối hợp trong phòng, chống tham nhũng. Luật đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị ở khía cạnh chủ động chấp hành pháp luật, trong đó, đáng chú ý là trách nhiệm định kỳ kiểm điểm việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ và cả ở khía cạnh bị động, tức là chịu trách nhiệm thích đáng khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Người có chức vụ, quyền hạn bên cạnh việc thực hiện tốt pháp luật, nhiệm vụ, công vụ còn có một trách nhiệm quan trọng đó là kê khai tài sản một cách chính xác, trung thực theo các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng.

5.2. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng

Công dân có vai trò rất to lớn và quan trọng trong đấu tranh chống tham nhũng. Điều 6 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định chung về quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng. Những nội dung cụ thể về quyền và nghĩa vụ của công dân được chi tiết hóa tại Chương II với quy định về công khai, minh bạch và quyền tiếp cận thông tin, tại Chương III với quy định về tố cáo và xử lý tố cáo hành vi tham nhũng và tại Chương VI với quy định về trách nhiệm công dân, Ban Thanh tra nhân dân.

Điều 6 quy định hai nội dung chung nhất về quyền và nghĩa vụ của công dân trong phòng, chống tham nhũng là quyền phát hiện, tố cáo hành vi tham nhũng và nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng.

5.3. Trách nhiệm phối hợp của cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án và cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan

Luật Phòng, chống tham nhũng đặc biệt chú trọng thể chế hóa cơ chế phối hợp giữa các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng và giữa các cơ quan chức năng với các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan. Điều 7 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

“Cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với nhau và phối hợp với cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan trong việc phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý người có hành vi tham nhũng và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, quyết định của mình trong quá trình thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử vụ việc tham nhũng.Cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan có trách nhiệm tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án trong việc phát hiện, xử lý người có hành vi tham nhũng”.

Những nội dung cụ thể của cơ chế phối hợp trong phòng, chống tham nhũng giữa các cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án được quy định chi tiết tại Chương V Luật Phòng, chống tham nhũng.

5.4. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phòng, chống tham nhũng

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có vai trò rất quan trọng trong việc động viên, hướng dẫn nhân dân và toàn thể xã hội tham gia đấu tranh chống tham nhũng. Ghi nhận vai trò này của Mặt trận, Luật Phòng, chống tham nhũng đã dành Điều 8 và Điều 85 quy định về trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên. Theo Điều 8, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có ba trách nhiệm chung là: (i) động viên nhân dân tham gia tích cực vào việc phòng, chống tham nhũng; (ii) phát hiện, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý người có hành vi tham nhũng; (iii) giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng chống tham nhũng.

5.5. Vai trò và trách nhiệm của báo chí

Vai trò cũng như hiệu quả hoạt động của báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng những năm qua được đánh giá rất cao. Việc Luật Phòng, chống tham nhũng dành một số điều quy định về vai trò, trách nhiệm của cơ quan báo chí là cần thiết. Theo tinh thần đó, Điều 9 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:“Cơ quan báo chí có trách nhiệm tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng; hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng; khi đưa tin phải bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan và phải chịu trách nhiệm về nội dung của thông tin đã đưa”.

Như vậy, Nhà nước khuyến khích và yêu cầu báo chí tham gia vào việc phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, việc tham gia phòng, chống tham nhũng thông qua việc đưa tin phải đảm bảo phù hợp với các quy định của pháp luật, đảm bảo việc đưa tin chính xác, trung thực, khách quan. Không được lợi dụng quyền được đưa tin để thực hiện hành vi tiêu cực hoặc đưa tin không chính xác, không khách quan làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

6- Các hành vi bị nghiêm cấm

Điều 10 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định ba loại hành vi bị nghiêm cấm: (i) 12 hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3 Luật này; (ii) hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng; (iii) hành vi lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu cáo, vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.

Bên cạnh 12 hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng đương nhiên bị nghiêm cấm, thực tế còn phát sinh hai loại hành vi nữa tương đối phổ biến làm cản trở không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng. Thứ nhất, hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng. Thứ hai, hành vi lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để vu cáo, vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác. Cả hai loại hành vi này đều bị Luật Phòng, chống tham nhũng nghiêm cấm.

II- PHÒNG NGỪA THAM NHŨNG (CHƯƠNG II)

Chương II quy định về phòng ngừa tham nhũng gồm 6 mục 48 điều (từ Điều 11 đến Điều 58). Số lượng các điều chiếm hơn một nửa tổng số điều của đạo luật (48/92 điều). Điều đó phản ánh mức độ quan trọng của chế định phòng ngừa tham nhũng. Có thể nói, phòng ngừa tham nhũng là tinh thần chủ đạo của Luật Phòng, chống tham nhũng.

Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy công tác phòng ngừa có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng. Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng cũng khuyến cáo các quốc gia thành viên phải hết sức lưu ý việc xây dựng và duy trì một hệ thống các chính sách phòng ngừa tham nhũng liên tục, toàn diện và hiệu quả. Có thể thấy rằng, các quy định về phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng hiện hành của Việt Nam là tương đối đầy đủ. Chính vì vậy, trong đạo luật này, số lượng điều khoản và nội dung về phòng ngừa tham nhũng chiếm tỷ lệ rất lớn và đa số những điểm mới là về các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

Chương này quy định các nội dung chính sau:

1- Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị (Mục 1)

1.1. Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị

Nội dung này gồm có 23 điều, từ Điều 11 đến Điều 33.

Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị là biện pháp quan trọng hàng đầu để ngăn ngừa tham nhũng. Công khai, minh bạch tạo điều kiện để người dân cũng như xã hội giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Với việc công khai, minh bạch hóa hoạt động các cơ quan nhà nước, người dân sẽ dễ dàng biết được các quyền và nghĩa vụ của mình để chủ động thực hiện theo các quy định của pháp luật. Đồng thời, việc công khai, minh bạch cũng đòi hỏi cơ quan nhà nước thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật, làm cho các cán bộ, công chức có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định. Qua đó, mọi hành vi vi phạm, gây phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách với mục đích tư lợi có thể bị phát hiện và xử lý.

– Về nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định: “Chính sách, pháp luật và việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật phải được công khai, minh bạch, bảo đảm công bằng, dân chủ” (khoản 1 Điều 11).

– Về nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định: “Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai hoạt động của mình, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước và những nội dung khác theo quy định của Chính phủ” (khoản 2 Điều 11).

Đây là một bước tiến lớn trong quá trình công khai hóa hoạt động của bộ máy nhà nước. Từ trước đến nay, chúng ta cũng đã có một số quy định hoạt động của các cơ quan nhà nước trong một số lĩnh vực phải công khai. Tuy nhiên, công khai mới chỉ dừng lại trong từng lĩnh vực hoặc một số hoạt động cụ thể. Tại Pháp lệnh Chống tham nhũng, vấn đề công khai hóa cũng được đặt ra nhằm phòng ngừa tham nhũng nhưng chỉ giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chủ yếu là thủ tục hành chính trong các lĩnh vực liên quan đến giải quyết công việc của công dân, tổ chức, doanh nghiệp.

Luật Phòng, chống tham nhũng đã đưa vấn đề công khai, minh bạch trở thành một nguyên tắc chung cho hoạt động của mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị. Như vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ có thể không công khai những nội dung được coi là bí mật nhà nước và không được viện lý do nào khác để từ chối việc công khai hoạt động của mình nhằm tránh sự giám sát của người dân và xã hội.

Ngoài việc đưa ra nguyên tắc và nội dung công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, một vấn đề đáng lưu ý là Luật đã có những quy định cụ thể để nguyên tắc này được bảo đảm thực hiện trên thực tế. Đó là việc quy định hình thức công khai và quyền yêu cầu cung cấp thông tin của tổ chức và cá nhân.Các hình thức công khai được quy định tại Điều 12 Luật Phòng, chống tham nhũng bao gồm:

– Công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

– Niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

– Thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan;

– Phát hành ấn phẩm;

– Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

– Đưa lên trang thông tin điện tử;

– Cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Ngoài những trường hợp pháp luật có quy định về hình thức công khai, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm lựa chọn một hoặc một số hình thức công khai quy định nêu trên.

Như vậy, các cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thực hiện công khai qua các hình thức nêu trên, tức là có thể lựa chọn sử dụng một hoặc một số hình thức đó. Luật quy định cụ thể như vậy để ngăn chặn việc cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện công khai một cách hình thức, tùy tiện.

Để bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về quyền yêu cầu cung cấp thông tin của hai loại chủ thể, bao gồm: quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức và quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân.

– Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 31 Luật Phòng, chống tham nhũng:

“1. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình theo quy định của pháp luật.

2. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu phải cung cấp thông tin, trừ trường hợp nội dung thông tin đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức yêu cầu biết và nêu rõ lý do”.Luật quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan, tổ chức để bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch. Tuy nhiên, để tránh tình trạng lạm dụng, lợi dụng quyền yêu cầu cung cấp thông tin, đồng thời, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy định này trên thực tế thì quyền yêu cầu cung cấp thông tin phải nằm trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật:Một là, các cơ quan, tổ chức hoặc báo chí được quyền yêu cầu cung cấp không phải bất kỳ thông tin nào, mà chỉ những thông tin cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hoặc liên quan đến cơ quan, tổ chức mình thì mới có quyền yêu cầu được cung cấp. Chẳng hạn, cơ quan nhà nước có thể yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước đó; tổ chức chính trị – xã hội có quyền yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các thành viên tổ chức đó; cơ quan báo chí có quyền yêu cầu cung cấp thông tin để phục vụ cho tác nghiệp báo chí,… Hai là, cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu cung cấp thông tin chỉ có trách nhiệm cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của mình theo quy định của pháp luật.

Luật ấn định thời hạn mà cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận được yêu cầu phải cung cấp thông tin. Theo đó, trừ trường hợp nội dung thông tin được yêu cầu đã công khai thì trong thời hạn mười ngày, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải cung cấp thông tin theo yêu cầu. Bên cạnh đó, Luật cũng quy định trong trường hợp “không cung cấp được” hoặc “chưa cung cấp được” thì cơ quan, tổ chức, đơn vị được yêu cầu cung cấp thông tin phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

– Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân được quy định tại Điều 32 Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

“1. Cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác có quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc cung cấp thông tin về hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

2. Công dân có quyền yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mình cư trú cung cấp thông tin về hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó.

3. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu, người được yêu cầu có trách nhiệm cung cấp thông tin, trừ trường hợp nội dung thông tin đã được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, được phát hành ấn phẩm hoặc niêm yết công khai; trường hợp không cung cấp hoặc chưa cung cấp được thì phải trả lời bằng văn bản cho người yêu cầu biết và nêu rõ lý do”.Có thể thấy rằng, quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cá nhân chỉ giới hạn trong phạm vi địa phương, cơ sở, tức là tại cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người yêu cầu làm việc hoặc tại địa phương mà người đó cư trú. Luật quy định như vậy bởi vì đây là nơi mà người dân có điều kiện giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan, tổ chức, chính quyền cũng như phần lớn các quyền và lợi ích của công dân được thực hiện tại địa phương, cơ sở nên cần tạo điều kiện cho họ có thông tin để giám sát, phát hiện, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền có biện pháp xử lý đối với những biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Nội dung về thời hạn cung cấp thông tin, việc từ chối cung cấp thông tin được quy định như đối với quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức.

1.2. Công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực cụ thể

Ngoài việc nêu nguyên tắc và quy định nội dung, hình thức bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị nói chung, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định cụ thể về công khai, minh bạch trong một số lĩnh vực mà thực tế cho thấy xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, gây thất thoát lớn về tiền, tài sản của Nhà nước cũng như tồn tại nhiều sự phiền hà, sách nhiễu, đòi hối lộ từ phía cơ quan nhà nước.

1.2.1. Công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản (Điều 13)

Mua sắm công và xây dựng cơ bản là các lĩnh vực sử dụng khối lượng rất lớn ngân sách, tiền, tài sản nhà nước và cần được đặc biệt quan tâm trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Cùng với việc ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng, Nhà nước cũng ban hành Luật Đấu thầu, trong đó quy định khá đầy đủ và chi tiết về trình tự, thủ tục, hoạt động đấu thầu. Đây là thuận lợi rất lớn để thực hiện quy định công khai, minh bạch trong mua sắm công và xây dựng cơ bản.

Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung cần thiết phải công khai để phòng ngừa những hành vi tham nhũng có thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động mua sắm công và xây dựng cơ bản. Theo đó, về nguyên tắc, việc mua sắm công và xây dựng cơ bản phải được công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp mua sắm công và xây dựng cơ bản mà pháp luật quy định phải đấu thầu thì nội dung công khai bao gồm:

– Kế hoạch đấu thầu, mời sơ tuyển và kết quả sơ tuyển, mời thầu;

– Danh mục nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, danh sách ngắn nhà thầu tham gia đấu thầu hạn chế, kết quả lựa chọn nhà thầu;

– Thông tin về cá nhân, tổ chức thuộc chủ dự án, bên mời thầu, nhà thầu, cơ quan quản lý hoặc đối tượng khác vi phạm pháp luật về đấu thầu; thông tin về nhà thầu bị cấm tham dự và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu;

– Văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu, hệ thống thông tin dữ liệu về đấu thầu;

– Báo cáo tổng kết công tác đấu thầu trên phạm vi toàn quốc của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; báo cáo tổng kết công tác đấu thầu của bộ, ngành, địa phương và cơ sở;

– Thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu.

Trong số các nội dung kể trên, thông tin về đối tượng vi phạm pháp luật về đấu thầu, về nhà thầu bị cấm tham dự và thông tin về xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu là những nội dung công khai rất quan trọng. Việc công khai những thông tin này được cộng đồng quốc tế coi là một công cụ rất hữu hiệu nhằm chống gian lận, tiêu cực trong đấu thầu. Xét dưới một khía cạnh nào đó, những thông tin được công khai này có thể được coi là một bản “danh sách đen”. Việc nhà thầu bị nêu tên trong bản danh sách đen gần như đồng nghĩa với việc chấm dứt mọi cơ hội tham dự đấu thầu trong tương lai. Và nếu chủ dự án, bên mời thầu có ý định hoặc thực hiện việc cấu kết với nhà thầu đã bị cấm tham dự đấu thầu hoặc có hành vi vi phạm pháp luật về đấu thầu để thực hiện hành vi tiêu cực, gian lận thì sẽ rất dễ dàng bị phát hiện. Vì vậy, có thể nói, việc công khai thông tin nói trên là công cụ rất tốt để ngăn chặn tiêu cực từ cả phía bên mời thầu và nhà thầu.

Thực tế cho thấy khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng là một biện pháp quan trọng nhằm đảm bảo công khai, minh bạch và công bằng, dân chủ trong đấu thầu. Ghi nhận thực tế này, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải công khai thẩm quyền, thủ tục tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong đấu thầu làm cơ sở để các chủ thể tham gia đấu thầu thực hiện đúng đắn quyền khiếu nại, tố cáo của mình.

1.2.2. Công khai, minh bạch trong quản lý dự án đầu tư xây dựng (Điều 14)

Đây là lĩnh vực xảy ra nhiều tham nhũng và gây bức xúc cho người dân. Trong quá trình quy hoạch và thực hiện quy hoạch, một số cán bộ, công chức nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm những điều khuất tất vì những lợi ích có tính chất tư lợi. Vì vậy, hoạt động này cần phải được công khai để dân biết và phải lấy ý kiến nhân dân cũng như phải do Hội đồng nhân dân địa phương, người đại diện cho nhân dân xem xét, quyết định. Luật quy định cụ thể như sau:

– Dự án quy hoạch đầu tư xây dựng phải được lấy ý kiến của nhân dân địa phương nơi quy hoạch;

– Dự án đầu tư xây dựng từ ngân sách địa phương phải được Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định;

– Dự án đầu tư xây dựng sau khi được quyết định, phê duyệt phải được công khai để nhân dân giám sát.

1.2.3. Công khai, minh bạch về tài chính và ngân sách nhà nước (Điều 15)

Từ nhiều năm nay, nhất là từ khi ban hành Luật Ngân sách nhà nước, các hoạt động ngân sách đã từng bước được công khai hóa với các mức độ khác nhau. Trên cơ sở một số nội dung có tính nguyên tắc về công khai tài chính, ngân sách tại Luật Ngân sách nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền đã tiếp tục ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm quy định cụ thể nội dung, trình tự, thủ tục và các vấn đề khác có liên quan đến công khai tài chính, ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, các văn bản nói trên mới chỉ là văn bản dưới luật và đề cập đến vấn đề công khai tài chính, ngân sách dưới góc độ pháp luật tài chính. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã “pháp điển hóa” những quy định về công khai tài chính, ngân sách hiện hành với các nội dung như sau:

– Các cấp ngân sách, đơn vị dự toán ngân sách phải công khai chi tiết số liệu dự toán và quyết toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê chuẩn, kể cả khoản ngân sách bổ sung;

– Đơn vị dự toán ngân sách có nguồn thu và các khoản chi từ các khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật phải công khai mục đích huy động, kết quả huy động và hiệu quả việc sử dụng các nguồn huy động;

– Tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ phải công khai: số liệu dự toán, quyết toán; khoản đóng góp của tổ chức, cá nhân (nếu có); cơ sở xác định mức hỗ trợ và số tiền ngân sách nhà nước hỗ trợ;

– Dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn từ ngân sách nhà nước phải công khai: việc phân bổ vốn đầu tư trong dự toán ngân sách nhà nước được giao hằng năm cho các dự án; dự toán ngân sách của dự án đầu tư theo kế hoạch đầu tư được duyệt, mức vốn đầu tư của dự án được giao trong dự toán ngân sách năm; quyết toán vốn đầu tư của dự án hằng năm; quyết toán vốn đầu tư khi dự án hoàn thành đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

– Quỹ có nguồn từ ngân sách nhà nước phải công khai các nội dung sau đây: quy chế hoạt động và cơ chế tài chính của quỹ; kế hoạch tài chính hằng năm, trong đó chi tiết các khoản thu, chi có quan hệ với ngân sách nhà nước theo quy định của cấp có thẩm quyền; kết quả hoạt động của quỹ; quyết toán năm được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

– Việc phân bổ, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước cho các dự án, chương trình mục tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải công khai cho cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan và nhân dân nơi trực tiếp thụ hưởng biết.

Có thể thấy nội dung công khai tài chính, ngân sách trên bao gồm một phạm vi rất rộng về chủ thể có nghĩa vụ phải công khai và các loại thông tin phải công khai. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể có nghĩa vụ thực hiện việc công khai thông tin cũng như để cơ quan, tổ chức và người dân có thể tiếp cận và giám sát các hoạt động tài chính, ngân sách nhà nước.

1.2.4. Công khai, minh bạch việc huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân (Điều 16)

Huy động sức dân luôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Điều đặc biệt quan trọng là cần phải bảo đảm việc sử dụng các nguồn lực đó một cách có hiệu quả và bảo đảm mục đích tốt đẹp của nó. Thực tế đã không ít những khoản đóng góp của nhân dân bị hà lạm, xà xẻo. Vì vậy, những hoạt động này cần phải được công khai để nhân dân giám sát và Nhà nước thanh tra, kiểm tra mỗi khi có những biểu hiện không lành mạnh, minh bạch. Luật quy định cụ thể như sau:

– Việc huy động các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình, lập quỹ trong phạm vi địa phương phải lấy ý kiến nhân dân và được Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định;

– Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân quy định như trên phải được công khai để nhân dân giám sát và phải chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát theo quy định của pháp luật;

– Nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán;

– Công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân phải công khai các nội dung sau đây:

+ Nội dung phải công khai bao gồm mục đích huy động, mức đóng góp, việc sử dụng, kết quả sử dụng và báo cáo quyết toán;

+ Dự toán cho từng công trình theo kế hoạch đầu tư được duyệt;

+ Nguồn vốn đầu tư cho từng công trình;

+ Kết quả đã huy động của từng đối tượng cụ thể, thời gian huy động;

+ Kết quả lựa chọn nhà thầu đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

+ Tiến độ thi công và kết quả nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình và quyết toán công trình;

– Việc huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân vì mục đích từ thiện, nhân đạo được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 16 Luật Phòng, chống tham nhũng.

Các quy định nói trên cùng với các quy định hiện hành về thực hiện dân chủ ở cơ sở và các quy định có liên quan tạo thành một khung pháp lý tương đối đầy đủ, cụ thể để đảm bảo công khai, minh bạch trong huy động, sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân. Nội dung về công khai, minh bạch trong huy động, sử dụng đóng góp của nhân dân vào mục đích từ thiện, nhân đạo là một bổ sung rất quan trọng. Bởi vì, trên thực tế, cùng với những tiêu cực trong việc huy động, sử dụng đóng góp của nhân dân vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng, lập quỹ, một số hành vi tiêu cực, gian lận, tham nhũng cũng đã phát sinh trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo do nhân dân đóng góp. Những hành vi tiêu cực này, kể cả khi thiệt hại vật chất không lớn cũng có thể gây ra những hậu quả khôn lường về mặt xã hội bởi điều đó đã đi ngược lại với thuần phong, mỹ tục của dân tộc ta. Vì vậy, pháp luật về chống tham nhũng cần phải có quy định làm cơ sở để đấu tranh trên thực tế.

1.2.5. Công khai, minh bạch việc quản lý, sử dụng các khoản viện trợ (Điều 17)

Cùng với tiến trình hội nhập, mở cửa, Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp nhận một lượng lớn nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và hỗ trợ từ phía cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, cơ chế quản lý các khoản viện trợ, hỗ trợ hiện nay còn sơ hở, chưa thật sự chặt chẽ, có thể bị lợi dụng vì mục đích tư lợi. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định có tính nguyên tắc về công khai, minh bạch trong việc quản lý, sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ làm cơ sở cho việc xây dựng, ban hành và thực hiện các quy định cụ thể tiếp theo.

Theo đó, việc quản lý, phân bổ, sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được thực hiện theo quy định về công khai, minh bạch về tài chính và ngân sách nhà nước. Đối với các khoản viện trợ phi chính phủ phải được công khai cho các đối tượng thụ hưởng biết.

1.2.6. Công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp của Nhà nước và trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước

a) Công khai, minh bạch trong quản lý doanh nghiệp của Nhà nước (Điều 18)

Doanh nghiệp của Nhà nước được coi là khu vực phát sinh nhiều hành vi tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí một lượng lớn tài sản của Nhà nước. Vì vậy, công khai, minh bạch hóa trong hoạt động quản lý doanh nghiệp của Nhà nước là rất cần thiết để ngăn ngừa và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực trong khu vực này. Điều 18 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

“Doanh nghiệp của Nhà nước có trách nhiệm công khai vốn và tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, vốn vay ưu đãi, báo cáo tài chính và kết quả kiểm toán, việc trích, lập và sử dụng quỹ của doanh nghiệp, việc tuyển dụng lao động, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý của doanh nghiệp và nội dung khác theo quy định của pháp luật”.

b) Công khai, minh bạch trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước (Điều 19)

Cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để tăng cường sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như giảm thất thoát, lãng phí và tham nhũng. Tuy nhiên, bản thân việc cổ phần hóa cũng chứa đựng rất nhiều nguy cơ tham nhũng và nếu không được dự liệu và ngăn chặn từ trước thì cổ phần hóa sẽ trở thành một cơ hội rất lớn để làm giàu phi pháp và nhanh chóng cho một số người có chức vụ, quyền hạn. Kinh nghiệm cổ phần hóa ở Cộng hòa liên bang Nga và một số quốc gia Đông Âu đã cho thấy rất rõ điều đó. Những thủ đoạn tham nhũng, tiêu cực chính trong cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước là xác định giá trị doanh nghiệp rất thấp so với thực tế, cổ phần hóa khép kín hoặc bán cổ phần cho một số đối tượng trong phạm vi hẹp.

Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải công khai, minh bạch hóa việc cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước, cụ thể là:

– Việc cổ phần hóa doanh nghiệp của Nhà nước phải công khai, minh bạch; không được cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Doanh nghiệp được cổ phần hóa có trách nhiệm công khai thực trạng tài chính khi xác định giá trị doanh nghiệp;

– Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm công khai giá trị doanh nghiệp được cổ phần hóa và việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp (nếu có).

– Việc bán cổ phần lần đầu của doanh nghiệp được cổ phần hóa phải thực hiện bằng phương thức bán đấu giá.

Có thể nói, những nội dung cần thiết phải công khai trong khi cổ phần hóa đã được Luật Phòng, chống tham nhũng quy định, bao gồm: thực trạng tài chính của doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp (cả việc điều chỉnh giá trị doanh nghiệp nếu có). Bên cạnh đó, đấu giá cổ phần lần đầu của doanh nghiệp được cổ phần hóa cũng là một phương thức rất tốt để đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng và dân chủ, tránh tiêu cực, tham nhũng.

1.2.7. Công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất, quản lý, sử dụng nhà ở

a) Công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng đất (Điều 21)

Hiện nay, quản lý và sử dụng đất đai được xác định là một lĩnh vực “nóng”, nhiều tiêu cực, sai phạm từ phía cơ quan quản lý và cả ở phía đối tượng thụ hưởng quyền sử dụng đất. Để khắc phục tình trạng này, Nhà nước cần phải áp dụng nhiều biện pháp đồng bộ, toàn diện, bao gồm biện pháp về lập pháp, quản lý và thậm chí cả hình sự; biện pháp trước mắt, trung hạn và cả dài hạn. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung cơ bản nhất trong quản lý và sử dụng đất phải được công khai bao gồm:

– Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải bảo đảm dân chủ và công khai;

– Trong quá trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, cơ quan, tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch đó phải thông báo công khai cho nhân dân địa phương nơi được quy hoạch, điều chỉnh biết;

– Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết, việc giải phóng mặt bằng, giá đền bù khi thu hồi đất sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt hoặc điều chỉnh phải được công khai;

– Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp Giấp chứng nhận quyền sử dụng đất; quy hoạch chi tiết và việc phân lô đất ở, đối tượng được giao đất làm nhà ở phải được công khai.

Những nội dung công khai trong quản lý và sử dụng đất được quy định chung, mang tính nguyên tắc và cần phải tiếp tục được quy định chi tiết hơn. Tuy nhiên, Luật cũng đã nêu ra được một số nội dung công khai hết sức cụ thể, ví du, giá đền bù khi thu hồi đất, đối tượng được giao đất làm nhà ở. Một số nội dung khác như việc giải phóng mặt bằng, việc cấp Giấp chứng nhận quyền sử dụng đất, việc phân lô đất ở cần phải được quy định cụ thể hơn nữa về nội dung, trình tự, thủ tục tiến hành công khai để đảm bảo việc công khai được tiến hành trên thực tế.

b) Công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng nhà ở (Điều 22)

Bên cạnh lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, trong thời gian vừa qua, cùng với sự phát triển rất nhanh của hoạt động xây dựng nhà ở, đặc biệt là việc xây dựng các khu đô thị mới, khu chung cư, khu tái định cư với số lượng nhà ở lớn, lĩnh vực quản lý và sử dụng nhà ở đã bắt đầu phát sinh những hành vi tiêu cực, tham nhũng. Đây là lĩnh vực được nhận định là một lĩnh vực chứa đựng nhiều nguy cơ tham nhũng và nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực với thiệt hại lớn trong tương lai. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung chung nhất phải công khai trong việc quản lý và xây dựng nhà ở làm tiền đề xây dựng các văn bản tiếp theo về công khai, minh bạch trong lĩnh vực này, cụ thể là:

– Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp Giấy phép xây dựng nhà ở và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phải được công khai;

– Việc hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, đối tượng được hóa giá nhà ở và các khoản tiền phải nộp khi hóa giá nhà ở phải được công khai;

– Việc bán nhà ở cho người tái định cư, người có thu nhập thấp và những đối tượng ưu tiên khác phải được công khai.

Tuy nhiên, bởi vì đây là một lĩnh vực mới phát sinh nên những nội dung công khai cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung bên cạnh việc chi tiết hóa những nội dung đã quy định.

1.2.8. Công khai, minh bạch trong lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ, thể dục, thể thao

a) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực giáo dục (Điều 23)

Hiện nay, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, được Nhà nước và toàn thể xã hội đặc biệt chú trọng đầu tư rất nhiều nguồn lực. Để đảm bảo các hoạt động giáo dục không bị lợi dụng phục vụ cho mục đích cá nhân, tư lợi và các khoản thu cho giáo dục được sử dụng đúng đắn, tránh việc bị lãng phí, thất thoát, tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung phải công khai trong lĩnh vực giáo dục như sau:

– Việc tuyển sinh, thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ phải được công khai;

– Cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, việc thu, quản lý, sử dụng học phí, lệ phí tuyển sinh, các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, các khoản hỗ trợ, đầu tư cho giáo dục và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

b) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực y tế (Điều 24)

Cũng như giáo dục, y tế là một lĩnh vực được Nhà nước và toàn thể xã hội rất quan tâm đầu tư. Thực tế đã có không ít những trường hợp tiêu cực, sai phạm, nhũng nhiễu xảy ra trong lĩnh vực này, gây ra những thiệt hại lớn về tài sản, sức khỏe và làm giảm lòng tin của nhân dân vào hệ thống y tế của nước ta. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định những nội dung phải công khai trong lĩnh vực y tế như sau:

– Thẩm quyền, trình tự, thủ tục và việc cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề y, dược tư nhân, giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề cho các cơ sở hành nghề y, dược phải được công khai;

– Cơ quan quản lý y tế, cơ sở khám, chữa bệnh có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước phải công khai việc thu, quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, giá thuốc, các loại phí liên quan đến việc khám, chữa bệnh và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

c) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực khoa học – công nghệ (Điều 25)

Tình hình sử dụng ngân sách trong lĩnh vực khoa học – công nghệ còn chưa có hiệu quả, quá trình tuyển chọn, phân bổ ngân sách nghiên cứu cũng còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơ chế “xin – cho”, thậm chí có tình trạng chạy chọt kinh phí trong nghiên cứu khoa học. Hậu quả dẫn đến đề tài kém chất lượng, tính khả thi không cao, không được hoặc chậm áp dụng trong thực tiễn, gây lãng phí, thất thoát tài sản của Nhà nước. Chính vì vậy cần phải công khai hóa mạnh mẽ lĩnh vực hoạt động này để ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định một số khâu cần phải công khai, minh bạch, cụ thể như sau:

– Việc xét, tuyển chọn, giao trực tiếp, tài trợ thực hiện nhiệm vụ khoa học – công nghệ và việc đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học – công nghệ phải được tiến hành công khai;

– Cơ quan quản lý khoa học – công nghệ, đơn vị nghiên cứu khoa học – công nghệ phải công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, các khoản hỗ trợ, viện trợ, đầu tư, các khoản thu từ hoạt động khoa học – công nghệ.

d) Công khai, minh bạch trong lĩnh vực thể dục, thể thao (Điều 26)

Hoạt động thể dục, thể thao là lĩnh vực mà chúng ta chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa. Ngoài các khoản ngân sách, các hoạt động này còn thu hút và huy động được rất nhiều kinh phí từ việc tài trợ và tổ chức thi đấu, biểu diễn. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định phải bảo đảm tính công khai để tránh tiêu cực, tham nhũng, cụ thể: “Cơ quan quản lý thể dục, thể thao, Ủy ban Ô-lim-pích Việt Nam, các liên đoàn thể thao, cơ sở thể dục, thể thao có trách nhiệm công khai việc quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước, các khoản thu từ hoạt động và dịch vụ thể dục, thể thao, khoản tài trợ, hỗ trợ đóng góp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài cho hoạt động thể dục, thể thao”.

PHẦN 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN CÔNG KHAI MINH BẠCH

1.2.9. Công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước (Điều 25)

Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm toán nhà nước là những hoạt động rất quan trọng trong việc đánh giá tình hình chấp hành chính sách, pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Kết quả của thanh tra và kiểm toán hầu hết đều có kết luận về sai phạm kinh tế và trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được phát hiện thông qua công tác thanh tra, kiểm toán. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy nhiều trường hợp kết luận thanh tra và kiểm toán có những vấn đề mà dư luận thường thắc mắc, nhất là những thay đổi trong quá trình kết luận và xử lý kết quả thanh tra, kiểm toán. Để làm rõ tính công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

– Hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm toán nhà nước phải được tiến hành công khai theo quy định của pháp luật.

– Văn bản, quyết định sau đây phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:

+ Kết luận thanh tra;

+ Quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định giải quyết tố cáo;

+ Báo cáo kiểm toán.

1.2.10. Công khai, minh bạch trong hoạt động giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân (Điều 28)

Pháp lệnh Chống tham nhũng đã có quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, những quy định của Pháp lệnh còn tương đối chung chung và chưa đầy đủ. Luật Phòng, chống tham nhũng đã bổ sung và hoàn thiện các quy định của Pháp lệnh tạo nên một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ để đấu tranh chống hiện tượng tham nhũng vặt. Có thể thấy rất nhiều quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng được thiết kế nhằm ngăn ngừa tham nhũng vặt, chẳng hạn như quy định về hành vi nhũng nhiễu, công khai minh bạch trong quản lý và sử dụng đất, nhà ở. Khoản 1 Điều 28 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định rất chi tiết về các lĩnh vực phải công khai trong hoạt động giải quyết các công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân, cụ thể là:

“1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực nhà, đất, xây dựng, đăng ký kinh doanh, xét duyệt dự án, cấp vốn ngân sách nhà nước, tín dụng, ngân hàng, xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quản lý hộ khẩu, thuế, hải quan, bảo hiểm và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân phải công khai thủ tục hành chính, giải quyết đúng thời hạn, đúng pháp luật và đúng yêu cầu hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân”.

Đồng thời, để tránh hiện tượng cán bộ, công chức, viên chức nhà nước nhũng nhiễu, gây phiền hà hoặc dây dưa trong khi giải quyết công việc, khoản 2 và khoản 3 Điều 28 Luật này quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền đề nghị với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết công việc của mình giải thích rõ những nội dung có liên quan. Khi nhận được đề nghị của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải kịp thời giải thích công khai. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải thích chưa thỏa đáng hoặc cố tình gây khó khăn, phiền hà thì cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có quyền kiến nghị lên cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó.

1.2.11. Công khai, minh bạch trong lĩnh vực tư pháp (Điều 29)

Lĩnh vực tư pháp trên thực tế cũng đã xảy ra nhiều hành vi tham nhũng, tiêu cực và cũng cần phải được công khai, minh bạch hóa. Đây là một lĩnh vực đặc thù và đã được quy định rất chi tiết trong pháp luật về tố tụng. Luật Phòng, chống tham nhũng chỉ quy định nguyên tắc chung về công khai, minh bạch trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, việc thụ lý, điều tra, truy tố, kiểm sát, xét xử, thi hành án phải được công khai theo quy định của pháp luật về tố tụng và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

1.2.12. Công khai, minh bạch trong công tác tổ chức – cán bộ (Điều 30)

Công tác tổ chức – cán bộ có vai trò hết sức quan trọng là khâu quyết định trong quản lý nhà nước. Thực tế cho thấy đã có không ít trường hợp tiêu cực trong tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm, khen thưởng cán bộ, công chức, viên chức. Hiện tượng “chạy chọt” để được tuyển dụng, lên chức hoặc khen thưởng đang ngày một trở nên đáng lo ngại. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định hai mức độ công khai đối với các hoạt động trong công tác tổ chức – cán bộ.

Theo đó, mức độ công khai thứ nhất là công khai rộng rãi về số lượng, tiêu chuẩn, hình thức và kết quả tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động khác. Mức độ công khai thứ hai là công khai trong phạm vi cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc về việc quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, chuyển ngạch, luân chuyển, điều động, khen thưởng, cho thôi việc, cho thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật, hưu trí. Việc phân định như vậy là hợp lý, vừa đảm bảo được tính công khai, minh bạch của công tác tổ chức – cán bộ vừa đảm bảo yếu tố nội bộ trong những trường hợp cần thiết.

1.2.13. Kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước (Điều 20)

Hiện nay, Nhà nước coi kiểm toán là một công cụ hữu hiệu trong chống tham nhũng, bao gồm cả kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã dành rất nhiều điều khoản quy định về kiểm toán. Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm và ở một khía cạnh nào đó là khuyến nghị các cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng kiểm toán như một công cụ làm minh bạch hóa công tác tài chính của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình. Theo đó, cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm tự tổ chức thực hiện việc kiểm toán và chịu sự kiểm toán việc sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước theo quy định của pháp luật về kiểm toán.

1.2.14. Công khai báo cáo hằng năm về phòng, chống tham nhũng (Điều 33)

Việc báo cáo công khai hằng năm về công tác phòng, chống tham nhũng của cả nước cũng như từng địa phương là một hoạt động rất cần thiết, giúp các cơ quan nhà nước cũng như xã hội định kỳ đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng, tạo cơ sở cho việc triển khai công tác cho thời gian tiếp theo. Việc công khai báo cáo là một hình thức rất tốt để tăng cường trách nhiệm của các cơ quan. Tổ chức và cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức. Đây đồng thời cũng là một yêu cầu quan trọng của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng. Theo đó, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

– Hằng năm, Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương;

– Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng phải được công khai.

2. Xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn (Mục 2)

Nhà nước đặt ra các chế độ, định mức, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý liên quan mật thiết đến việc sử dụng tài sản, vốn và ngân sách nhà nước. Việc thực hiện một cách tùy tiện hoặc làm trái các tiêu chuẩn chế độ, định mức đó sẽ dẫn đến việc tài sản của Nhà nước bị thất thoát, tiền bạc hoặc những lợi ích vật chất bằng cách này, cách khác rơi vào một số người.

Thực chất đó là sự hưởng lợi bất chính cần ngăn chặn.

Thông thường có hai loại tiêu chuẩn chế độ định mức bị vi phạm liên quan đến tham nhũng:

Một là, các chế độ, định mức tiêu chuẩn về lợi ích, nhất là các chế độ đối với người có chức vụ quản lý: chẳng hạn, chế độ phục vụ, chế độ dùng xe công, tiêu chuẩn dùng điện thoại,… Vi phạm trong việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn này thường có hai dạng như sau:

– Tự ý tăng mức được hưởng, tức là hưởng hoặc sử dụng kinh phí, tài sản vượt mức mà Nhà nước quy định;

– Tự ý mở rộng đối tượng được hưởng tức là người không thuộc diện được hưởng một chế độ, lợi ích nào đó nhưng cũng đã được thụ hưởng.

Hai là, các chế độ, định mức, tiêu chuẩn có tính chất chuyên môn kỹ thuật: đó là những quy định để bảo đảm chất lượng các công trình, quy trình,… với những yêu cầu chính xác cao về kỹ thuật, thời gian, nguyên vật liệu,… Việc tự ý thay đổi, hạ thấp tiêu chuẩn này sẽ dẫn đến việc một số người được hưởng lợi, thực chất là tham nhũng. Biểu hiện điển hình của loại vi phạm này chính là hiện tượng hạ thấp chi phí thực tế thông qua việc hạ thấp tiêu chuẩn kỹ thuật để chia nhau hưởng lợi.

Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã có các quy định nhằm bảo đảm việc xây dựng, thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn cũng như trách nhiệm pháp lý trong trường hợp để xảy ra vi phạm, cụ thể:

Điều 34 Luật này quy định về xây dựng, ban hành và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn như sau:

– Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm: xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn; công khai các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn về quyền lợi đối với từng loại chức danh trong cơ quan mình; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

– Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp và các cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách nhà nước căn cứ vào quy định nêu trên hướng dẫn áp dụng hoặc phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng, ban hành và công khai các chế độ, định mức, tiêu chuẩn áp dụng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình.

Điều 35 Luật này quy định về kiểm tra và xử lý vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn như sau:

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải thường xuyên kiểm tra việc chấp hành và xử lý kịp thời hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn;

– Người có hành vi vi phạm quy định về chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bị xử lý theo quy định của pháp luật;

– Người cho phép sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng vượt quá; người sử dụng vượt chế độ, định mức, tiêu chuẩn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được sử dụng vượt quá;

– Người cho phép thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn – kỹ thuật thấp hơn mức quy định phải bồi thường phần giá trị mà mình cho phép sử dụng thấp hơn; người hưởng lợi từ việc thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn chuyên môn – kỹ thuật thấp hơn có trách nhiệm liên đới bồi thường phần giá trị được hưởng lợi.

Có thể thấy rất rõ người cho phép sử dụng hoặc thực hiện trái chế độ, định mức, tiêu chuẩn và người sử dụng, hưởng lợi từ việc sử dụng, thực hiện sai trái đó đều phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi của mình. Trong đó, để đề cao trách nhiệm của người có thẩm quyền, Luật quy định trách nhiệm bồi thường thuộc về người cho phép sử dụng hoặc thực hiện sai trái mặc dù có thể người này không trực tiếp sử dụng hoặc hưởng lợi. Người được hưởng lợi phải liên đới bồi thường.

3. Quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức (Mục 3)

Với mục đích xây dựng một khuôn khổ pháp lý căn bản cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng, Luật Phòng, chống tham nhũng thể hiện tinh thần nhất quán trong việc xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân mà trước hết thuộc trách nhiệm của các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước. Mặc dù là một văn bản pháp lý quy định khá toàn diện nhưng nhìn chung các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn tập trung vào đối tượng là những người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước, nhất là đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan công quyền. Những biện pháp này khá đa dạng và tác động đến nhiều khía cạnh khác nhau.

Trên quan niệm chung như vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã đưa ra nhiều giải pháp liên quan đến cán bộ, công chức như sau:

3.1. Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

Xây dựng và áp dụng các chuẩn mực xử sự đối với đội ngũ công chức là một biện pháp quan trọng đã được cộng đồng quốc tế sử dụng rộng rãi nhằm đảm bảo tính công bằng, liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong thực thi quyền lực nhà nước. Việt Nam đã có những quy định về quyền, nghĩa vụ của cán bộ, công chức, những điều cán bộ, công chức không được làm. Tuy nhiên, những quy định đó còn tản mạn và chưa thật sự đầy đủ, chưa tạo thành một bộ phận quy tắc ứng xử toàn diện, đồng bộ.

Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đã rất chú trọng quy định về nội dung này nhằm tạo cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện bộ quy tắc ứng xử toàn diện và phù hợp đối với cán bộ, công chức, viên chức.

3. 1. 1. Khái niệm quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức (Điều 36)

Lần đầu tiên khái niệm về quy tắc ứng xử đã được xây dựng và quy định thành luật. Theo đó, Điều 36 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: “Quy tắc ứng xử là các chuẩn mực xử sự của cán bộ, công chức, viên chức trong thi hành nhiệm vụ, công vụ và trong quan hệ xã hội, bao gồm những việc phải làm hoặc không được làm, phù hợp với đặc thù công việc của từng nhóm cán bộ, công chức, viên chức và từng lĩnh vực hoạt động công vụ, nhằm bảo đảm sự liêm chính và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức”.

Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức được công khai để nhân dân giám sát việc chấp hành.

3. 1.2. Những việc cán bộ, công chức không được làm

Đây là nội dung đã quy định một phần trong Pháp lệnh Chống tham nhũng và Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Những điều cấm tập trung vào việc ngăn ngừa các hành vi có thể dẫn đến tham nhũng trong quá trình thi hành chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức. Quy định về vấn đề này có tính kế thừa các pháp lệnh trước đó, đồng thời có bổ sung những nội dung cần thiết để đáp ứng với yêu cầu đấu tranh chống những biểu hiện mới của tệ tham nhũng. Điều 37 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định như sau:

“1. Cán bộ, công chức, viên chức không được làm những việc sau đây:

a) Cửa quyền, hách dịch, gây khó khăn, phiền hà đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong khi giải quyết công việc;

b) Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

c) Làm tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về các công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, những công việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hoặc mình tham gia giải quyết;

d) Kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;

đ) Sử dụng trái phép thông tin, tài liệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị vì vụ lợi.

2. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, vợ hoặc chồng của những người đó không được góp vốn vào doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi ngành, nghề mà người đó trực tiếp thực hiện việc quản lý nhà nước.

3. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán – tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

4. Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan không được để vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp.

5. Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình; bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán – tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong doanh nghiệp hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký kết hợp đồng cho doanh nghiệp.

6. Quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này cũng được áp dụng đối với các đối tượng sau đây:

a) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân;

b) Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân”.

Quy định về những điều cán bộ, công chức, viên chức không được làm có một số điểm mới so với Pháp lệnh Chống tham nhũng và Pháp lệnh Cán bộ, công chức, cụ thể là:

– Cán bộ, công chức, viên chức không được kinh doanh trong lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý sau khi thôi giữ chức vụ trong một thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ.

Đây là một biện pháp quan trọng nhằm ngăn ngừa việc cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng ảnh hưởng, quan hệ và thông tin có được từ khi giữ chức vụ để phục vụ lợi ích cá nhân, thậm chí là cả hiện tượng cán bộ, công chức, viên chức khi còn tại vị đã cố tình bằng các biện pháp có thể “dọn đường” cho việc kinh doanh của mình sau khi rời chức vụ. Quy định này cũng đồng thời là một yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

– Cán bộ, công chức, viên chức là thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng và những cán bộ quản lý khác trong doanh nghiệp của Nhà nước không được ký kết hợp đồng với doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột; cho phép doanh nghiệp thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột tham dự các gói thầu của doanh nghiệp mình.

Quy định trên có ý nghĩa hết sức cần thiết cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng hiện nay. Một trong những hành vi tham nhũng phổ biến nhất, tinh vi, phức tạp và gây thiệt hại nhiều nhất là hành vi cấu kết giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp của người thân để chuyển các hợp đồng, quan hệ đối tác, thị phần của doanh nghiệp nhà nước ra ngoài hoặc để nhận thầu của doanh nghiệp nhà nước một cách không minh bạch. Quy định nói trên có tác dụng ngăn ngừa ngay từ đầu những hành vi nói trên. Tuy nhiên, quy định này cần phải hướng dẫn chi tiết hơn nữa để có thể thực hiện được trên thực tế.

3. 1. 3. Nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

Đây là một quy định mới so với Pháp lệnh Chống tham nhũng năm 1998. Thực tế cho thấy, đa số các vụ việc tham nhũng được phát hiện “từ bên ngoài”, trong khi đó những thông tin hay biểu hiện tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thì không được phát giác kịp thời. Đó là những hiện tượng không những đáng phê phán mà phải coi đó là thiếu trách nhiệm. Và nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng cũng đồng thời là một yêu cầu của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng.

a) Nghĩa vụ báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

Khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi mình làm việc thì cán bộ, công chức, viên chức phải báo cáo ngay với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị đó; trường hợp người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan đến dấu hiệu tham nhũng đó thì báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp (Điều 38).

b) Nghĩa vụ xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng

Chậm nhất là mười ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, người được báo cáo phải xử lý vụ việc theo thẩm quyền hoặc chuyển cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét xử lý và thông báo cho người báo cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn trên có thể kéo dài nhưng không quá ba mươi ngày; trường hợp cần thiết thì quyết định hoặc đề nghị người có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng và bảo vệ người báo cáo (Điều 38).

Trong trường hợp, cán bộ, công chức không thực hiện nghĩa vụ báo cáo và xử lý báo cáo về dấu hiệu tham nhũng, luật quy định rõ trách nhiệm như sau:

Cán bộ, công chức, viên chức biết được hành vi tham nhũng mà không báo cáo, người nhận được báo cáo về dấu hiệu tham nhũng mà không xử lý thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật (Điều 39).

3.1.4. Quy định về tặng quà và nhận quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức

Việc tặng quà và nhận quà tặng vốn là một phong tục, tập quán bình thường của người Á Đông nói chung và của người Việt Nam nói riêng. Nó thể hiện tình cảm hay sự biết ơn trong các quan hệ xã hội. Nhưng tập quán tốt đẹp này lại bị lợi dụng để thực hiện hành vi đưa – nhận hối lộ. Phân biệt được giữa tặng quà và hối lộ là việc rất khó khăn và hối lộ thường được che đậy dưới hình thức quà tặng nên rất khó phát hiện và xử lý.

Điều 40 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định một số nguyên tắc chung nhất để ngăn ngừa việc lợi dụng tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ:

“1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị không được sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước làm quà tặng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

2. Cán bộ, công chức, viên chức không được nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình;

3. Nghiêm cấm lợi dụng việc tặng quà, nhận quà tặng để hối lộ hoặc thực hiện các hành vi khác vì vụ lợi;

4. Chính phủ quy định chi tiết việc tặng quà, nhận quà tặng và nộp lại quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức”.

3. 1.5. Về thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức

Trên cơ sở các quy tắc ứng xử chung do luật Phòng, chống tham nhũng và một số văn bản có liên quan đặt ra, các cơ quan có thẩm quyền sẽ ban hành bộ quy tắc ứng xử riêng cho ngành, cơ quan mình. Điều 41 quy định thẩm quyền ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức như sau:

“1. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong cơ quan, ngành, lĩnh vực do mình quản lý;

2. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quy tắc ứng xử của Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và cán bộ, công chức, viên chức khác trong cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát;

3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong tổ chức này”.

3.2. Quy tắc đạo đức nghề nghiệp (Điều 42)

Việc ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp cũng là một công cụ rất hữu hiệu để đảm bảo việc hành nghề đúng đắn. Hiện tại, đã có một số quy định về đạo đức nghề nghiệp được ban hành ở một số ngành, nghề nhất định, ví dụ, các quy định về y đức của ngành y tế. Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định những nội dung cơ bản và chung nhất về quy tắc nghề nghiệp.

3.2. 1. Khái niệm quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp là chuẩn mực xử sự phù hợp với đặc thù của từng nghề bảo đảm sự liêm chính, trung thực và trách nhiệm trong việc hành nghề (khoản 1 Điều 42).

3.2.2. Cách thức ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp

Tổ chức xã hội – nghề nghiệp phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với hội viên của mình theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 42).

3.3. Chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức (Điều 43)

Đây là một biện pháp trong phòng, chống tham nhũng mà nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng có hiệu quả. Điều 43 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: cơ quan, tổ chức, đơn vị, trong phạm vi được phân công quản lý cán bộ có trách nhiệm thực hiện việc định kỳ chuyển đổi cán bộ, công chức, viên chức làm việc tại một số vị trí công tác quản lý liên quan đến việc quản lý ngân sách, tài sản nhà nước, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của công dân, doanh nghiệp nhằm chủ động ngăn ngừa tham nhũng.

Vấn đề cần lưu ý ở đây là phải phân biệt giữa việc chuyển đổi vị trí công tác và luân chuyển cán bộ. Luân chuyển cán bộ là nhằm đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo để họ có điều kiện nâng cao trình độ hiểu biết và đủ năng lực thực tiễn đáp ứng được yêu cầu của người lãnh đạo quản lý. Chuyển đổi vị trí công tác là nhằm tránh hiện tượng cán bộ, công chức công tác lâu ở một vị trí sẽ tìm cách móc nối, cấu kết với những người có liên quan hình thành “ê-kíp”, “đường dây” tham nhũng. Việc chuyển đổi vị trí công tác phải bảo đảm tính ổn định và chuyên môn của hoạt động công quyền và phải đặt trên những nguyên tắc nhất định chứ không thể chuyển đổi một cách tùy tiện. Việc chuyển đổi đơn giản là vị trí công việc chứ không phải thay đổi tính chất công việc mà cán bộ, công chức đó đang thực hiện và phải phù hợp với chuyên môn, trình độ nghiệp vụ của người được chuyển đổi. Ví dụ, một nhân viên thu thuế nông nghiệp có thể chuyển sang thu thuế công thương nghiệp; một nhân viên có trách nhiệm theo dõi thu thuế của địa bàn A có thể chuyển sang theo dõi địa bàn B; một cảnh sát khu vực này có thể sang làm cảnh sát khu vực khác… Vì vậy, Luật quy định: việc chuyển đổi vị trí công tác chỉ áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức không giữ chức vụ quản lý. Việc luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ quản lý thực hiện theo quy định về luân chuyển cán bộ.

Không phải mọi vị trí công tác đều cần chuyển đổi mà chỉ có những vị trí công tác có liên quan thường xuyên đến việc quản lý và sử dụng tiền, tài sản nhà nước hoặc tiếp xúc và trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp thì mới cần chuyển đổi và Chính phủ sẽ xác định các vị trí công tác cần chuyển đổi. Việc chuyển đổi vị trí công tác phải theo kế hoạch và được công khai trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị.

4. Minh bạch tài sản, thu nhập (Mục 4)

Kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức luôn là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng hữu hiệu nhất. Pháp lệnh Chống tham nhũng đã có quy định về kê khai tài sản cán bộ, công chức. Thực tế từ đó đến nay việc kê khai vẫn được tiến hành nhưng còn mang tính hình thức, ít có tác dụng. Luật Phòng, chống tham nhũng bổ sung nhiều điểm mới so với quy định hiện hành:

Một là, Luật không chỉ yêu cầu kê khai tài sản của cá nhân cán bộ, công chức mà kê khai tài sản của cả vợ và con chưa thành niên để ngăn chặn việc tẩu tán tài sản tham nhũng;

Hai là, Luật có đề cập đến việc xác minh tài sản trong những trường hợp nhất định và phải có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

Ba là, Luật quy định về việc công khai bản kết luận về minh bạch trong kê khai tài sản.

Với tinh thần đổi mới như trên, nên khác với các văn bản trước kia chỉ quy định về kê khai tài sản cán bộ, công chức, Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành đặt ra mục tiêu là tiến tới minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức.

4.1. Nghĩa vụ kê khai tài sản (Điều 44)

4.1.1. Đối tượng phải kê khai tài sản

Khoản 1 Điều 44 quy định những đối tượng phải kê khai tài sản gồm:

– Cán bộ từ Phó Trưởng phòng của Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh trở lên và tương đương trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị;

– Một số cán bộ, công chức tại xã, phường, thị trấn; người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân;

– Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Như vậy, có thể phân biệt người có nghĩa vụ kê khai tài sản thành hai loại:

Thứ nhất, một bộ phận đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Luật không quy định toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải kê khai tài sản mà chỉ cán bộ từ Phó Trưởng phòng cấp huyện và tương đương trở lên, một số chức danh ở cơ sở và người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản nhà nước và tiếp xúc trực tiếp và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Việc chỉ quy định một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức phải kê khai tài sản nhằm đảm bảo việc quản lý kê khai tài sản được hiệu quả, phù hợp với khả năng thực tế và tập trung được vào những bộ phận được coi là có nhiều cơ hội phát sinh tham nhũng.

Thứ hai, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân. Những người này có thể là cán bộ, công chức hoặc không và được điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật về Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

Chính phủ sẽ quy định cụ thể những người phải kê khai tài sản.

4.1.2. Phạm vi, trách nhiệm kê khai tài sản

Theo khoản 2 Điều 44: “Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai tài sản, mọi biến động về tài sản thuộc sở hữu của mình và tài sản thuộc sở hữu của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.

Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai”.

Có hai nội dung mà người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai là: tài sản và mọi biến động về tài sản. Đối tượng được Nhà nước tập trung kiểm soát chính là biến động tài sản của người kê khai. Bởi vì, qua nắm bắt số biến động tăng và so sánh với thu nhập tiềm năng của người kê khai, Nhà nước có thể sớm phát hiện những trường hợp có sự chênh lệch quá lớn giữa tài sản gia tăng và thu nhập hợp pháp, hợp lý mà người kê khai có thể có được.

Người có nghĩa vụ kê khai ngoài việc kê khai tài sản của bản thân còn phải kê khai tài sản của vợ hoặc chồng và con chưa thành niên. Quy định này vừa nhằm ngăn ngừa người có nghĩa vụ kê khai nhờ người khác đứng tên tài sản của mình vì mục đích che giấu, tẩu tán tài sản, vừa đảm bảo người kê khai có thể kê khai chính xác. Đồng thời không xâm phạm các quyền cơ bản của công dân liên quan đến tài sản.

4.2. Các loại tài sản phải kê khai (Điều 45)

Điều 45 quy định các loại tài sản phải kê khai bao gồm:

– Nhà, quyền sử dụng đất;

– Kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên;

– Tài sản, tài khoản ở nước ngoài;

– Thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật.

Có thể nói phạm vi tài sản phải kê khai là khá đầy đủ. Trong các loại tài sản phải kê khai trên, tài sản, tài khoản ở nước ngoài là một nội dung kê khai quan trọng. Quy định này nhằm ngăn chặn tẩu tán tài sản tham nhũng bằng cách đưa ra nước ngoài để tránh sự phát hiện xử lý. Ngoài ra, với việc quy định thu nhập phải chịu thuế cũng phải được kê khai, cơ quan quản lý kê khai tài sản sẽ phải phối hợp rất chặt chẽ với cơ quan thuế để kiểm soát và kịp thời phát hiện sai phạm.

4.3. Thủ tục kê khai tài sản

Điều 46 quy định về thủ tục kê khai tài sản gồm các nội dung sau:

– Việc kê khai tài sản được thực hiện hàng năm tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai làm việc và được hoàn thành chậm nhất vào ngày 31 tháng 12;

– Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó;

– Bản kê khai tài sản được nộp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

Việc kê khai mọi biến động về tài sản là nghĩa vụ bắt buộc nên khi tiến hành kê khai, người có nghĩa vụ kê khai phải ghi rõ những thay đổi về tài sản so với lần kê khai trước đó.

Chủ thể quản lý bản kê khai tài sản là cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản. Cần phải phân biệt rõ hai loại chủ thể là: cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản và cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản (hay còn gọi là cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản trực tiếp công tác, làm việc). Chủ thể có thẩm quyền quản lý là chủ thể được đề cập đến dưới góc độ tổ chức cán bộ, còn chủ thể quản lý trực tiếp là dưới góc độ nơi công tác.

4.4. Xác minh tài sản và thủ tục xác minh tài sản

4.4.1. Xác minh tài sản (Điều 47)

a) Chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xác minh tài sản là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản.

b) Các trường hợp xác minh tài sản:

– Phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản khi xét thấy cần thiết;

– Theo yêu cầu của Hội đồng bầu cử hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

– Có hành vi tham nhũng.

Việc xác minh tài sản có vai trò rất quan trọng không chỉ trong công tác phòng, chống tham nhũng mà cả trong công tác cán bộ. Đối với việc bầu cử, bổ nhiệm, xác minh tài sản có tác động quyết định ngay tại thời điểm bầu cử, bổ nhiệm và cũng sẽ là cơ sở để kiểm soát biến động tài sản của cán bộ, công chức kể từ thời điểm được bầu hoặc bổ nhiệm. Còn đối với việc cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật, việc xác minh tài sản là cần thiết để xem xét kỹ lưỡng mức độ trách nhiệm của người bị cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật và để cân nhắc xem người đó có liên quan tới hành vi tham nhũng hay không.

4.4.2. Thủ tục xác minh tài sản

Trình tự, thủ tục tiến hành xác minh tài sản và trách nhiệm của các bên liên quan trong tiến trình xác minh tài sản được quy định tại Điều 48 Luật Phòng, chống tham nhũng như sau:

– Trước khi ra quyết định xác minh tài sản, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai giải trình rõ việc kê khai. Việc giải trình phải được thực hiện trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình;

– Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ra quyết định xác minh trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày phát sinh các trường hợp cần xác minh tài sản;

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân hữu quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho việc xác minh khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền;

– Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản tiến hành thẩm tra, xác minh và phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản;

– Thủ tục xác minh tài sản của người có tên trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 48. Thời hạn xác minh phải đáp ứng yêu cầu về thời gian bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Quy định về việc: trước khi quyết định xác minh tài sản được ban hành, người có nghĩa vụ kê khai tài sản được yêu cầu giải trình về việc kê khai trong thời hạn 5 ngày, là cơ hội để người có nghĩa vụ kê khai giải thích về những nội dung chưa rõ ràng trong bản kê khai, bổ sung những nội dung chưa kê khai.

Kết thúc thời hạn thẩm tra, xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản.

4.5. Kê luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản

4.5. 1. Khái niệm (Điều 49)

Đối tượng của việc xác minh tài sản quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng không phải là bản thân tài sản mà là tính trung thực của việc kê khai đó. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh để xác định người có nghĩa vụ kê khai có kê khai trung thực, ngay tình hay không. Khoản 1 Điều 49 quy định: “Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản là kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản”.

Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản phải được gửi cho cơ quan, tổ chức yêu cầu xác minh và người có tài sản được xác minh.

Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải chịu trách nhiệm về tính khách quan, chính xác và nội dung kết luận của mình.

4.5.2. Công khai kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản (Điều 50)

Đây là một nội dung mới so với Pháp lệnh Chống tham nhũng. Pháp lệnh không quy định về việc công khai nội dung liên quan đến kê khai tài sản. Nội dung công khai liên quan đến vấn đề kê khai tài sản quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng là sự minh bạch trong kê khai tài sản. Căn cứ để công khai bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản là khi có yêu cầu và theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản được công khai tại các địa điểm sau đây:

– Trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người có nghĩa vụ kê khai tài sản làm việc khi người đó được bổ nhiệm, bầu, phê chuẩn;

– Tại hội nghị cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân;

– Tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người được đề nghị để Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc Đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội bầu, phê chuẩn.

Đối với trường hợp người được xác minh tài sản là người bị khởi tố về hành vi tham nhũng, kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản của người này phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

4.6. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản

Điều 51 quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm quản lý và lưu giữ bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai do mình quản lý; tổ chức việc xác minh theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản và công khai kết luận đó theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong các trường hợp quy định tại Điều 50 Luật Phòng, chống tham nhũng.

4.7. Xử lý người kê khai tài sản không trung thực

Một trong những điểm mới đáng chú ý nhất của cơ chế minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng đó là quy định về xử lý người kê khai tài sản không trung thực. Việc đặt ra chế tài là rất quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để xử lý người kê khai không trung thực, đồng thời, răn đe những người có ý định giấu giếm tài sản, kê khai không trung thực. Điều 52 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

– Người kê khai tài sản không trung thực bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc;

– Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử; người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai tài sản không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ đã dự kiến.

Có thể thấy chế tài Luật đưa ra là rất nghiêm khắc. Với nguy cơ bị loại khỏi danh sách ứng cử hoặc không được bổ nhiệm, phê chuẩn nếu kê khai không trung thực, những người có ý định kê khai không trung thực sẽ phải rất cân nhắc khi thực hiện ý định của mình. Đồng thời, bản thân việc công khai quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc cũng là một chế tài có sức răn đe rất lớn.

4.8. Kiểm soát thu nhập

Điều 53 quy định trách nhiệm của Chính phủ trong việc trình Quốc hội ban hành văn bản quy phạm pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Hiện tại, cơ chế đăng ký tài sản, kiểm soát thu nhập nói chung của Việt Nam còn hết sức hạn chế và cần được cải thiện từng bước. Nhà nước sẽ tiếp tục nghiên cứu để ban hành hệ thống các văn bản pháp luật đồng bộ nhằm kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn một cách hữu hiệu.

5. Chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng (Mục 5)

Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu đóng vai trò trọng tâm, then chốt. Việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đi đôi với tăng cường hiệu quả phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng rất chú trọng quy định về vấn đề này và đã đưa ra nhiều nội dung quan trọng, tương đối đồng bộ về trách nhiệm của người đứng đầu trong phòng, chống tham nhũng, trong đó, có vấn đề trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.

5.1. Trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 54)

5.1.1. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được hiểu trong hai trường hợp như sau:

Thứ nhất, người đứng đầu với tư cách là người lãnh đạo, quản lý cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm chung về mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách. Do đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Thứ hai, người đứng đầu với tư cách là người trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ cho cán bộ, công chức, viên chức dưới quyền. Theo đó, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm về việc để xảy ra hành vi tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ.

Về trường hợp liên đới chịu trách nhiệm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do cấp phó của mình trực tiếp phụ trách.

5. 1.2. Đối với trách nhiệm của cấp phó người đứng đầu

Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

Đây là quy định rất quan trọng, bởi vì trên thực tế, việc làm rõ trách nhiệm của cấp trưởng và cấp phó không phải là điều dễ dàng. Hiện nay, thực hiện theo chủ trương phân cấp, nhiều lĩnh vực công việc trong cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được giao cho cấp phó phụ trách. Phân cấp đi đôi với trách nhiệm, vì vậy, cấp phó phải chịu trách nhiệm pháp lý trước tiên và trực tiếp đối với việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong lĩnh vực công tác và đơn vị do mình trực tiếp phụ trách.

5.1.3. Trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trực thuộc

Người đứng đầu đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong đơn vị do mình quản lý.

Cũng tương tự như đối với trách nhiệm của cấp phó, hiện nay, tuy là đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức nhưng người đứng đầu đơn vị đã được giao quyền hạn và nhiệm vụ tương đối chủ động. Việc được tăng cường quyền hạn phải đi đôi với đề cao trách nhiệm. Quy định về trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị là cần thiết và phù hợp với xu thế đẩy mạnh phân cấp hiện nay.

PHẦN 3. PHÁT HIỆN VÀ XỬ LÝ THAM NHŨNG

5.1.4. Trách nhiệm của người đứng đầu, cá nhân có trách nhiệm trong các tổ chức khác

Việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu và cá nhân khác có trách nhiệm trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước về việc để xảy ra hành vi tham nhũng được thực hiện theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và điều lệ, quy chế của tổ chức đó.

5.1.5. Trường hợp loại trừ trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu

Việc đảm bảo xử lý đúng đắn trách nhiệm của người đứng đầu phải gồm hai yếu tố: thứ nhất, không được bỏ lọt trách nhiệm; thứ hai, không được áp đặt trách nhiệm pháp lý một cách không hợp lý. Đây là một quy định rất thực tế. Bởi vì, nhiều cơ quan, tổ chức có đặc thù công tác trên địa bàn rộng, thậm chí là trên toàn quốc như cơ quan Thanh tra, Kiểm toán, Cảnh sát giao thông nên việc kiểm soát hoàn toàn hành vi của những cán bộ, công chức ở những cơ quan này là rất khó khăn. Nhiều trường hợp người đứng đầu không thể biết được hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức dưới quyền hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết nhưng vẫn không thể ngăn chặn được. Vì vậy, Luật quy định: trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 54 được loại trừ trong trường hợp họ không thể biết được hoặc đã áp dụng các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn hành vi tham nhũng.

5.2. Xử lý trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách (Điều 55)

5.2.1. Xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm trực tiếp về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

5.2.2. Xử lý kỷ luật

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi phải chịu trách nhiệm liên đới về việc để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách thì bị xử lý kỷ luật.

5.2.3. Trường hợp miễn, giảm trách nhiệm pháp lý

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị được xem xét miễn hoặc giảm trách nhiệm pháp lý quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 55 Luật Phòng, chống tham nhũng nếu đã thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng; xử lý nghiêm minh, báo cáo kịp thời với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về hành vi tham nhũng.

5.2.4. Kết luận về các mức độ trách nhiệm của người đứng đầu trong vụ việc, vụ án tham nhũng

Để có cơ sở cho việc xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

Trong kết luận thanh tra, kết luận kiểm toán, kết luận điều tra vụ việc, vụ án tham nhũng phải nêu rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng theo các mức độ sau đây:

– Yếu kém về năng lực quản lý;

– Thiếu trách nhiệm trong quản lý;

– Bao che cho người có hành vi tham nhũng.

Kết luận phải được gửi cho Ban Chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

6. Cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán (Mục 6)

6.1. Cải cách hành chính nhằm phòng ngừa tham nhũng (Điều 56)

Nhà nước thực hiện cải cách hành chính nhằm tăng cường tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị; đẩy mạnh việc phân cấp quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước; công khai, đơn giản hóa và hoàn thiện thủ tục hành chính; quy định cụ thể trách nhiệm của từng chức danh trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

6.2. Tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong quản lý (Điều 57)

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị thường xuyên cải tiến công tác, tăng cường áp dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động của mình, tạo thuận lợi để công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm hướng dẫn trình tự, thủ tục giải quyết công việc để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chủ động thực hiện mà không phải trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, công chức, viên chức.

6.3. Đổi mới phương thức thanh toán (Điều 58)

– Nhà nước áp dụng các biện pháp quản lý để thực hiện việc thanh toán thông qua tài khoản tại ngân hàng, Kho bạc nhà nước. Cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thực hiện các quy định về thanh toán bằng chuyển khoản.

– Chính phủ áp dụng các giải pháp tài chính, công nghệ tiến tới thực hiện mọi khoản chi đối với người có chức vụ, quyền hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản 3 Điều 1 Luật Phòng, chống tham nhũng và các giao dịch khác sử dụng ngân sách nhà nước phải thông qua tài khoản.

III. PHÁT HIỆN THAM NHŨNG (CHƯƠNG III)

Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra những vụ việc tham nhũng và có những biện pháp để kịp thời hạn chế những thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của những người có hành vi vi phạm để có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Cũng như trong công tác phòng, chống tham nhũng nói chung thì việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát, kiểm toán cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Luật quy định việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu:

– Công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước;

– Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán;

– Tố cáo của công dân.

1. Phát hiện tham nhũng thông qua công tác kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước (Mục 1)

Kiểm tra là một hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý. Các hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong mọi lĩnh vực quản lý. Vì vậy, công tác kiểm tra của các cơ quan quản lý có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các vụ việc tham nhũng. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng nhấn mạnh trách nhiệm của các cơ quan quản lý trong việc thường xuyên tiến hành kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý của cơ quan mình. Tùy từng vụ việc cụ thể, căn cứ vào tính chất và mức độ của nó mà có thể xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho các cơ quan chức năng xử lý. Điều 59 Luật Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

“1. Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thường xuyên tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc phạm vi quản lý của mình nhằm kịp thời phát hiện hành vi tham nhũng.

2. Khi phát hiện có hành vi tham nhũng, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan Thanh tra, Điều tra, Viện Kiểm sát có thẩm quyền”.

Ngoài ra, Luật Phòng, chống tham nhũng cũng quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc tự kiểm tra nội bộ cơ quan, tổ chức mình, kiểm tra việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức do mình quản lý để phát hiện tham nhũng. Người Thủ trưởng phải nắm bắt được các quy trình, thủ tục thực hiện công vụ và xác định những khâu nào trong quy trình công tác, bộ phận nào trong cơ quan, đơn vị mình có thể xảy ra việc hà lạm, bớt xén công quỹ hoặc những công việc mà pháp luật quy định những thủ tục còn rườm rà, phức tạp có thể dẫn đến việc công chức sách nhiễu, vòi vĩnh để phát hiện kịp thời những hành vi sai trái và có biện pháp xử lý thích đáng theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý nghiêm khắc. Điều 60 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

“1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm chủ động tổ chức kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên, trực tiếp giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân và cán bộ, công chức, viên chức khác do mình quản lý nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi tham nhũng.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có trách nhiệm thường xuyên đôn đốc người đứng đầu đơn vị trực thuộc kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức do mình quản lý.

3. Khi phát hiện hành vi tham nhũng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo cho cơ quan Thanh tra, Điều tra, Viện Kiểm sát có thẩm quyền”.

Để tránh tình trạng kiểm tra tràn lan, thậm chí lợi dụng việc kiểm tra để gây khó khăn, phiền hà cho đồng nghiệp và công dân, Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các hình thức kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm cũng như trường hợp phải kiểm tra đột xuất thì phải có những điều kiện nhất định chứ không được tùy tiện:

– Việc kiểm tra thường xuyên được tiến hành theo chương trình, kế hoạch, tập trung vào lĩnh vực, hoạt động thường phát sinh hành vi tham nhũng.

– Việc kiểm tra đột xuất được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu tham nhũng (Điều 61).

2. Phát hiện tham nhũng thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát (Mục 2)

Đây là những hoạt động chủ yếu trong việc phát hiện và xử lý tham nhũng. Các cơ quan Thanh tra, Điều tra, Kiểm toán nhà nước, Viện Kiểm sát, Tòa án và cơ quan giám sát có chức năng bảo vệ pháp luật và kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm trong đó có tham nhũng. Đây là lực lượng chính trong cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật. Chính vì vậy mà các hoạt động này được quy định rất chặt chẽ và đầy đủ trong các văn bản pháp luật cao nhất của Nhà nước như Luật Thanh tra, Luật Khiếu nại, tố cáo, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Về hoạt động giám sát của Quốc hội. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định như sau:

– Cơ quan Thanh tra, Kiểm toán nhà nước, Điều tra, Viện Kiểm sát, Tòa án thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử có trách nhiệm chủ động phát hiện hành vi tham nhũng, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình (Điều 62).

– Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thông qua hoạt động giám sát có trách nhiệm phát hiện hành vi tham nhũng, yêu cầu hoặc kiến nghị việc xử lý theo quy định của pháp luật (Điều 63).3. Tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng (Mục 3)

Tố cáo là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận.

Theo đó, tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật Khiếu nại, tố cáo quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo).

Tố cáo và trình tự, thủ tục giải quyết cũng như trách nhiệm giải quyết tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật nói chung đã được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo hành vi tham nhũng. Trước hết, Luật quy định quyền của công dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng đồng thời cũng xác định trách nhiệm của công dân khi thực hiện quyền tố cáo:

“1. Công dân có quyền tố cáo hành vi tham nhũng với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

2. Người tố cáo phải tố cáo trung thực, nêu rõ họ, tên, địa chỉ, cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có và hợp tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo.

3. Người tố cáo mà cố tình tố cáo sai sự thật phải bị xử lý nghiêm minh, nếu gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 64).

Luật Phòng, chống tham nhũng quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và những người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận và giải quyết tố cáo của công dân đối với hành vi tham nhũng. Đặc biệt, Luật nhấn mạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ người tố cáo khỏi sự đe dọa trả thù, trù dập. Đây là vấn đề rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, người bị tố cáo là những người có chức vụ, quyền hạn, thậm chí giữ chức vụ quyền hạn rất cao nên họ có nhiều cách để trả thù người tố cáo hoặc trù dập, bưng bít sự việc mà người tố cáo phát hiện cho Nhà nước. Vì vậy, Nhà nước phải có những cơ chế hữu hiệu để bảo vệ cho người tố cáo. Có như vậy công dân mới vững tin và tích cực phát hiện các hành vi tham nhũng để cơ quan nhà nước kịp thời xử lý.

Điều 65 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định:

“1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để công dân tố cáo trực tiếp, gửi đơn tố cáo, tố cáo qua điện thoại, tố cáo qua mạng thông tin điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

2. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khi nhận được tố cáo hành vi tham nhũng phải xem xét và xử lý theo thẩm quyền; giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác theo yêu cầu của người tố cáo; áp dụng kịp thời các biện pháp cần thiết để bảo vệ người tố cáo khi có biểu hiện đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo hoặc khi người tố cáo yêu cầu; thông báo kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo khi có yêu cầu”.

Luật cũng quy định trách nhiệm chủ yếu có tính chất đầu mối trong việc xử lý các tố cáo về hành vi tham nhũng là cơ quan Thanh tra, cơ quan Điều tra và Viện Kiểm sát như sau:

“3. Cơ quan Thanh tra có trách nhiệm giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý, trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì chuyển cho cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát nhận được tố cáo về hành vi tham nhũng phải xử lý theo thẩm quyền” (Điều 65).

Luật Phòng, chống tham nhũng quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình phải tạo điều kiện, cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo để phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời hành vi tham nhũng, hạn chế thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra.

Một vấn đề khác nữa cũng được Luật quy định, đó là vấn đề khen thưởng cho người tố cáo hành vi tham nhũng. Quy định việc khen thưởng vật chất cho người tố cáo hành vi tham nhũng đã góp phần thu hồi tài sản bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt sẽ động viên, khuyến khích nhân dân tham gia vào đấu tranh chống tham nhũng. Nhiều nước trong đó có Trung Quốc có quy định cụ thể việc thưởng vật chất cho người tố cáo tham nhũng. Ngay pháp luật nước ta cũng đã từng có quy định cụ thể về vấn đề này, tại Pháp lệnh Trừng trị tội hối lộ năm 1981 đã quy định thưởng 10% giá trị của hối lộ cho người tố cáo. Tuy nhiên, đây là vấn đề khá phức tạp, việc xác định số lượng tài sản bị hành vi tham nhũng chiếm đoạt cũng như xác định mức độ đóng góp của những cơ quan, tổ chức cá nhân trong đó có người tố cáo trong việc phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, bảo vệ và thu hồi tài sản của Nhà nước là vấn đề rất khó. Vì vậy, Luật Phòng, chống tham nhũng đưa ra quy định mang tính nguyên tắc về việc khen thưởng cho người tố cáo, còn những vấn đề cụ thể về điều kiện, mức độ, hình thức khen thưởng… sẽ tiếp tục nghiên cứu và được quy định trong các văn bản sau này trên cơ sở các quy định chung của Nhà nước về vấn đề khen thưởng.

Theo đó, Điều 67 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: “Người tố cáo trung thực, tích cực cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý hành vi tham nhũng thì được khen thưởng về vật chất, tinh thần theo quy định của pháp luật”. IV. XỬ LÝ HÀNH VI THAM NHŨNG VÀ CÁC HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT KHÁC (CHƯƠNG IV)

Chương lV quy định về xử lý hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác gồm 2 mục 4 điều (từ Điều 68 đến Điều 71).

Điểm mới và có ý nghĩa quan trọng của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được quy định tại Chương này là ngoài việc xử lý người có hành vi tham nhũng, luật còn quy định việc xử lý tài sản tham nhũng. Quy định này cũng thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc xử lý nghiêm khắc, triệt để, cương quyết thu hồi tài sản do tham nhũng mà có. Thực tế cho thấy, có nhiều vụ việc tham nhũng đã bị phát hiện và xử lý, nhưng tài sản tham nhũng không thu hồi được hoặc mức độ thu hồi rất hạn chế, dẫn tới hiệu quả dấu tranh phòng, chống tham nhũng không cao.

Chương này gồm những nội dung chính sau:

1. Xử lý kỷ luật, xử lý hình sự (Mục 1)

1.1. Đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự (Điều 68)

Luật Phòng, chống tham nhũng quy định khá rõ các đối tượng bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, ngoài các đối tượng thực hiện các hành vi bị coi là hành vi tham nhũng (Điều 3), Luật còn quy định một số đối tượng khác thực hiện các hành vi vi phạm quy định của Nhà nước trong phòng, chống tham nhũng cũng có thể bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự. Quy định này có ý nghĩa trong việc nâng cao ý thức, trách nhiệm của những người có trách nhiệm, quyền hạn, cũng như của cá nhân, công dân trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong giai đoạn hiện nay. Cụ thể, những người bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự bao gồm:

– Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 3 (bao gồm 12 hành vi tham nhũng).

Đây là đối tượng có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để vụ lợi. Đối tượng này trực tiếp thực hiện các hành vi tham nhũng và là đối tượng chủ yếu mà Luật Phòng, chống tham nhũng hướng tới điều chỉnh.

Ở đây cần lưu ý, đối tượng trên thực hiện hành vi tham nhũng nào thì bị xử lý hình sự, hành vi tham nhũng nào thì bị xử lý kỷ luật. Về nguyên tắc, chỉ có 7 hành vi đầu quy định ở Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng là có thể xử lý hình sự về tội phạm tham nhũng (theo các tội danh tương ứng quy định trong Bộ luật Hình sự), còn hình thức xử lý kỷ luật có thể áp dụng cho tất cả 12 hành vi tham nhũng được quy định tại Điều 3.

– Người không báo cáo, tố giác khi biết được hành vi tham nhũng.

Đối tượng này không phải là người trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng, nhưng qua hoạt động công tác của mình, họ biết được có người thực hiện hành vi tham nhũng, trong trường hợp này pháp luật yêu cầu họ phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo, tố giác hành vi tham nhũng đó.

– Người không xử lý báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng.

Đây có thể là người có thẩm quyền xử lý các báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng, cũng có thể là người không có thẩm quyền nhưng trực tiếp tiếp nhận các báo cáo, tố giác, tố cáo về hành vi tham nhũng. Trường hợp này họ phải có nghĩa vụ chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho người có thẩm quyền xử lý. Trong thời hạn luật định họ có nghĩa vụ xử lý kịp thời các báo cáo, tố giác, tố cáo đó, nếu không xử lý, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự. Quy định này nhằm tránh tình trạng cá nhân có thẩm quyền né tránh trách nhiệm, chậm xử lý, hoặc không xử lý những báo cáo, tố giác, tố cáo về các hành vi tham nhũng.

– Người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.

Đối tượng được quy định ở khoản này có thể là người trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng, sau khi bị xử lý có hành vi đe dọa, trả thù người đã phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của mình cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xử lý hoặc có thể là đối tượng không trực tiếp thực hiện hành vi tham nhũng (ví dụ cấp dưới hoặc gia đình, họ hàng, bạn bè của người đã bị xử lý về hành vi tham nhũng) có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người phát hiện, báo cáo, tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của cấp trên, người thân của họ.

– Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác đấu tranh phòng ngừa, chống tham nhũng.

– Người thực hiện hành vi khác vi phạm quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Các đối tượng theo quy định tại khoản 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 68 thì tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà có thể xử lý kỷ luật, xử lý hình sự.

1.2. Xử lý đối với người có hành vi tham nhũng (Điều 69)

Người có hành vi tham nhũng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự; trong trường hợp bị kết án về hành vi tham nhũng và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải bị buộc thôi việc; đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Điều lưu ý ở quy định này là đối với người có hành vi tham nhũng đã bị xử lý về mặt hình sự thì đồng thời cũng phải chịu xử lý kỷ luật với hình thức buộc thôi việc, điều này thể hiện thái độ kiên quyết của Đảng, Nhà nước trong việc xử lý người có hành vi tham nhũng. Theo đó, người có hành vi tham nhũng đã bị xử lý hình sự, không căn cứ vào hình phạt nặng hay nhẹ đều bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc; đối với đại biểu các cơ quan quyền lực nhà nước thì đương nhiên bị mất quyền đại biểu.

2. Xử lý tài sản tham nhũng (Mục 2)

Xử lý tài sản tham nhũng là vấn đề quan trọng, bởi tài sản là đối tượng chủ yếu mà những kẻ thực hiện hành vi tham nhũng hướng tới. Việc Luật Phòng, chống tham nhũng quy định các nguyên tắc cơ bản trong việc xử lý tài sản tham nhũng là cần thiết. Trên thực tế, công tác xử lý tài sản tham nhũng còn nhiều bất cập, hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng không cao, nhiều trường hợp phát hiện tham nhũng nhưng không thu hồi được tài sản tham nhũng. Tình trạng đó diễn ra là vì một phần chưa có cơ chế cụ thể, rõ ràng, một phần vì không kiểm soát được tài sản của đối tượng thực hiện hành vi tham nhũng, nên vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt khi tài sản tham nhũng được tẩu tán ra nước ngoài. Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về xử lý tài sản tham nhũng như sau:

2.1. Nguyên tắc xử lý tài sản tham nhũng (Điều 70)

– Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

Nhận thức được tính quan trọng của việc thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng, Luật nêu nguyên tắc quy định trách nhiệm cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

– Tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước.

Trong trường hợp tài sản của công dân, tổ chức bị chiếm đoạt bởi các hành vi tham nhũng thì phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó. Trường hợp tài sản đó được sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi trái pháp luật thì được coi là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi trái pháp luật, trường hợp này tài sản phải được sung quỹ nhà nước.

– Người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ.

Quy định này đặt ra theo hướng giảm nhẹ trách nhiệm cho người đưa hối lộ để khuyến khích họ phát giác các hành vi nhận hối lộ. Thực tế cho thấy việc xử lý cả người đưa hối lộ khi họ đã chủ động khai báo là không công bằng. Bộ luật Hình sự cũng quy định người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác có thể được trả một phần hoặc toàn bộ tài sản đã dùng để hối lộ. Do vậy, theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, người đưa hối lộ chủ động khai báo trước khi bị phát giác thì đương nhiên được trả lại toàn bộ tài sản đã dùng để hối lộ.

– Việc tịch thu tài sản tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Quyền tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp. Do đó, việc tịch thu, thu hồi tài sản tham nhũng phải được thực hiện bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục luật định. Quy định này tránh tình trạng tùy tiện, lạm dụng của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng.

2.2. Thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài (Điều 71)

Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp.

Xét về hiệu quả việc thu hồi các tài sản tham nhũng, quy định này là quy định có lợi cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Việc Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ các nước trong việc thu hồi tài sản tham nhũng là cần thiết và hoàn toàn phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Quy định này đặt nền tảng cho việc xây dựng cơ chế đảm bảo cho việc thu hồi các tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài. Chế định thu hồi tài sản tham nhũng là nội dung quan trọng nhất của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, trong đó, thu hồi tài sản được coi là mục đích cao nhất của Công ước.

SOURCE: SỔ TAY GIỚI THIỆU LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG. NHÀ XUẤT BẢN TƯ PHÁP

Trích dẫn từ: http://www.thanhtra.gov.vn

Advertisements

One Response

  1. giới thiệu luật nhưng không nói rõ luật ban hành lúc nào? qua mấy lần sửa đổi bổ sung?

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: