HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH NHÀ Ở CHO NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

TƯỜNG AN

Dự kiến, Phiên họp thứ Mười bảy, UBTVQH cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở. Việc sửa đổi, bổ sung có ý nghĩa quan trọng, nhằm tiếp tục cụ thể hóa chính sách đối với kiều bào ở nước ngoài, khuyến khích, động viên kiều bào tham gia đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, nghiên cứu Dự án Luật cho thấy một số nội dung cần cân nhắc kỹ.

Dự án Luật sửa đổi quy định theo hướng bổ sung đối tượng người gốc Việt Nam là người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu, là người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước có quyền sở hữu nhà ở (không giới hạn số lượng) tại Việt Nam nhằm bảo đảm sự hài hòa, hợp lý trong vấn  đề sở hữu nhà ở so với cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, theo quy định tại Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12 ngày 3.6.2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở  tại Việt Nam được quy định trong Nghị quyết số 19 chỉ là chính sách “thí điểm”. Mặt khác, ngoài việc giống nhau về cách thức quy định diện đối tượng (người có kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu; người kết hôn với công dân Việt Nam ở trong nước), dự án Luật sửa đổi lần này đã quy định những nội dung mới mở rộng hơn so với Nghị quyết của QH (trong Nghị quyết số 19/2008/NQ-QH12, thời hạn được sở hữu nhà ở giới hạn tối đa là 50 năm; tại một thời điểm, cá nhân nước ngoài được sở hữu một căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại; Tổ chức, cá nhân nước ngoài để có thể là chủ sở hữu nhà ở tại Việt Nam còn phải tuân thủ những điều kiện khác chặt chẽ hơn về quyền, nghĩa vụ, điều kiện được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam). Bên cạnh đó, về mặt hiệu lực thời gian, Nghị quyết của QH được áp dụng thí điểm trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày có hiệu lực thi hành (1.1.2009).

Nhìn từ khía cạnh này, việc sớm luật hóa một nội dung từ chính sách mang tính thí điểm như đã nêu trên trong việc sửa đổi, bổ sung Điều 126 Luật Nhà ở lần này, phải gắn với yêu cầu tổng kết kết quả thực hiện Nghị quyết của QH (Điều 12 Nghị quyết quy định Chính phủ báo cáo QH kết quả thực hiện Nghị quyết khi kết thúc thời hạn thực hiện thí điểm). Trong khi đó, tính từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực (1.1.2009) cho đến thời điểm hiện nay thì vẫn còn quá sớm để đề cập đến tổng kết việc thực hiện Nghị quyết. Vì những lý do trên, việc dựa theo quy định thí điểm trong Nghị quyết này để luật hóa như quy định trong dự án Luật sửa đổi cần được cân nhắc kỹ. Điều đáng lưu ý là, nếu không quy định các đối tượng này tại điểm b khoản 1 Điều 126 của dự thảo Luật thì cũng chỉ là việc họ không được quyền sở hữu nhà ở với số lượng không hạn chế tại Việt Nam. Trong trường hợp này, họ có thể vẫn được quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 126 dự thảo Luật. Việc giải quyết theo hướng nêu trên cũng là lộ trình, bước đi thích hợp về mặt chính sách trong vấn đề này.

Continue reading

Advertisements

THẢM QUYỀN HUY BỎ GIẤY CHỨNG NHẬN KẾT HÔN KHI CÓ VI PHẠM

NGUYỄN THÀNH XUÂN

Bộ Tư pháp đang lấy ý kiến về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 76/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp. Theo đó, đối với việc đăng ký kết hôn, tăng mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng khi các bên đăng ký kết hôn có mục đích trục lợi, mua bán, xâm phạm tình dục, bóc lột sức lao động đối với phụ nữ. Tuy nhiên, biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm này chưa thống nhất.

Hiện nay, công dân khi đăng ký kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân gia đình, thủ tục trình tự đăng ký kết hôn theo Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nếu có hành vi vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn thì người đăng ký kết hôn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quy định đăng ký kết hôn theo Nghị định 76/2006/NĐ-CP. Ví dụ, đối tượng sử dụng giấy tờ tùy thân của em ruột để đăng ký kết hôn, khi bị phát hiện thì bị xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là đề nghị TAND có thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn đã cấp theo Nghị định 76. Vấn đề đặt ra trong thực tiễn giải quyết và áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành là sự bất nhất về thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa Toà án và UBND cấp huyện khi công dân vi phạm các quy định về đăng ký kết hôn.

Khi chỉ có Nghị định 158 được áp dụng thì UBND cấp huyện là cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định việc thu hồi, hủy bỏ những giấy tờ hộ tịch do UBND cấp xã cấp trái với quy định, trong đó có giấy chứng nhận kết hôn. Nhưng khi Nghị định 76 được ban hành thì thẩm quyền hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn lại chuyển cho Tòa án, dẫn đến vướng mắc khi áp dụng. Theo quy định, cơ quan nào cấp giấy chứng nhận kết hôn trái pháp luật thì cơ quan đó có trách nhiệm thu hồi, hủy bỏ. Tòa án không cấp giấy kết hôn nên không có thẩm quyền thu hồi hủy bỏ khi giấy kết hôn được đăng ký trái pháp luật. Trên thực tế, Toà án chỉ giải quyết các yêu cầu về hôn nhân và gia đình, như huỷ việc kết hôn trái pháp luật, ly hôn, công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn…Sự chồng chéo và bất nhất về thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn giữa hai cơ quan Nhà nước, do các quy định của Nghị định 158 và Nghị định 76 không thống nhất dẫn đến vướng mắc khi các cơ quan có thẩm quyền áp dụng giải quyết.

Continue reading

LUẬT SƯ VIỆT NAM: “MẤT KHÁCH” NGAY TRÊN SÂN NHÀ

TRẦN HIẾU

Tính đến 31.12.2008, cả nước có 1.479 tổ chức hành nghề luật sư, trong đó có 1.284 văn phòng luật sư, 80 công ty luật hợp danh và 115 công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Riêng ở Hà Nội có 370 tổ chức hành nghề luật sư và TP HCM có 690 tổ chức. Có thể thấy thời gian qua các tổ chức hành nghề luật sư phát triển khá mạnh. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây lại là sự vắng bóng của các tổ chức và luật sư “nội” trong các vụ giải quyết tranh chấp thương mại.

Nhiều mà vẫn thiếu

Theo Luật sư Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Văn phòng Luật sư Tư vấn Độc Lập, Trọng tài viên PIAC, Việt Nam gia nhập WTO đã tạo một sân chơi lớn mang tính toàn cầu cho các doanh nghiệp trong nước. Nhưng do còn lạ lẫm với luật lệ mới bên cạnh cơ hội luôn tiềm ẩn nguy cơ và rủi ro.

Thực tế Việt Nam hội nhập WTO trong những năm qua cũng cho thấy, xu hướng phát sinh tranh chấp quốc tế ở Việt Nam rất đa dạng: tranh chấp liên quan đến các doanh nghiệp của Việt Nam có hoạt động ở nước ngoài như vụ kiện của Vietnam Airlines tại toà án Ý; Việc ông Bửu Huy, Phó giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu Hải Sản An Giang bị bắt tại Bỉ; Tàu Cần Giờ của Công ty vận tải biển Sài Gòn bị bắt giữ tại Tanzania; Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản bị kiện chống bán phá giá tôm, cá… là những ví dụ cụ thể. Còn các tranh chấp đầu tư quốc tế thì có: vụ kiện của Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình theo Hiệp định bảo hộ đầu tư ký giữa Hà Lan và Việt Nam. Việc xử lý vụ ô nhiễm môi trường gần đây có liên quan đến công ty Vedan, vụ PCI… Và trong tương lai sẽ không tránh khỏi việc phát sinh tranh chấp liên quan đến các cơ quan hành chính, nhà nước của Việt Nam mà theo đó Chính phủ Việt Nam có thể sẽ phải giữ vai trò bất đắc dĩ như là một bên tranh chấp trước các tổ chức tài phán quốc tế theo các cam kết quốc tế.

Một thực tế đáng qua tâm ở đây là để cáng đáng những vụ việc như trên, trong số gần 1.500 tổ chức hành nghề luật sư của cả nước hiện nay thì chỉ có khoảng 10 tổ chức hành nghề luật sư chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài…

Doanh nghiệp nội thuê luật sư ngoại

Theo kết quả khảo sát của Bộ Tư pháp trong năm 2008 thì 30% doanh nghiệp được hỏi đánh giá tốt về chất lượng dịch vụ của luật sư, 66,3% doanh nghiệp đánh giá trung bình và 3,7% doanh nghiệp đánh giá kém.

Những con số này phần nào thể hiện sự đánh giá tích cực của xã hội đối với những nỗ lực của các luật sư trong việc không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, chất lượng luật sư thì còn nhiều điều phải bàn. Đơn cử như trình độ ngoại ngữ. Theo thống kê, chỉ 1,2% trong tổng số gần 4.000 luật sư đang hành nghề có thể sử dụng thành thạo tiếng Anh trong thương lượng, đàm phán và tranh tụng trực tiếp bằng tiếng Anh. Chính vì thế, trong nhiều vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài, luật sư Việt Nam tham gia bị thua thiệt là điều khó tránh khỏi. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ doanh nghiệp đã từng thuê luật sư hỗ trợ trong các hoạt động kinh doanh thương mại chỉ là 47,27% . Và mức độ thuê cũng rất thấp: năm 2007, chỉ có 5% số doanh nghiệp thuê luật sư trên 7 lần và có tới 37,65% không thuê luật sư. 34,95% nhu cầu của doanh nghiệp khi thuê luật sư chủ yếu vẫn là tư vấn về các vấn đề pháp luật, 25,86% thuê để giải quyết tranh chấp, 13,13% thuê để thương lượng, đàm phán, ký kết hợp đồng.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 09 KHÔNG MÂU THUẪN VỚI CÁC VĂN BẢN LUẬT

TRẦN NGỌC TIẾN – Chi cục Tài chính doanh nghiệp TPHCM

Nhân đọc bài “Nghị định 09 có khả thi?” của tác giả Nguyễn Xuân Đang trên TBKTSG số 11-2009, ra ngày 5-3-2009, ông Trần Ngọc Tiến (Chi cục Tài chính doanh nghiệp TPHCM) muốn trao đổi lại một số điểm. Tòa soạn đăng tải để rộng đường dư luận. Sau khi Nghị định 09/2009 về Quy chế quản lý tài chính của công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác ra đời, đã có nhiều ý kiến thắc mắc chủ yếu xoay quanh vấn đề đối tượng áp dụng và thời gian hiệu lực của nghị định.

Về đối tượng áp dụng của Nghị định 09

Hiện nay có một số ý kiến cho rằng có sự mâu thuẫn giữa các văn bản luật. Cụ thể, Nghị định 09 quy định đối tượng áp dụng là các công ty nhà nước độc lập, mà theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) 2003, tại điều 3 thì: “Công ty nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo quy định của luật này. Công ty nhà nước được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước độc lập, tổng công ty nhà nước”.

Còn tại điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 (Luật DN) quy định: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ”. Từ đó, tác giả Nguyễn Xuân Đang có kết luận rằng nếu căn cứ theo Luật DNNN thì Nghị định 09 không áp dụng cho các doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ như Vietcombank, Vietinbank, còn căn cứ theo Luật DN thì kết quả ngược lại.

Do vậy, để hiểu đúng Nghị định 09 chúng ta cần phải phân biệt rõ định nghĩa “doanh nghiệp nhà nước” và “công ty nhà nước” trong các văn bản pháp luật.

Căn cứ theo điều 1, Luật DNNN 2003 thì “doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Như vậy theo quy định của luật này, doanh nghiệp nhà nước bao gồm các loại hình:

1. Công ty nhà nước (được định nghĩa theo điều 3 Luật DNNN nêu trên)

2. Công ty TNHH, bao gồm công ty TNHH nhà nước một thành viên mà nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ; và công ty TNHH nhà nước hai thành viên trở lên, trong đó tất cả các thành viên đều là công ty nhà nước hoặc có thành viên là công ty nhà nước và thành viên khác là tổ chức được nhà nước ủy quyền góp vốn.

Continue reading

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

THS. ĐÀM HỒNG PHƯƠNG

Năm 2008 có rất nhiều khó khăn đối với hoạt động của ngành Ngân hàng. Đặc biệt là những tháng đầu năm lãi suất tăng cao; tỷ giá, giá vàng, thị trường tiền tệ diễn biến phức tạp. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã sử dụng nhiều biện pháp để điều hành nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô.

Thị trường tiền tệ diễn biến bất thường cùng với những tác động xấu của khủng hoảng tài chính thế giới và hiệu ứng của việc tăng trưởng tín dụng nóng, tăng qui mô và màng lưới hoạt động quá nhanh của những năm trước đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP). Đến cuối năm 2008, mặc dù một số chỉ tiêu cơ bản của các NHTMCP vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng, song tốc độ đã chậm lại. Hoạt động của các ngân hàng chủ yếu là tập trung huy động vốn để cân đối nguồn và đảm bảo khả năng thanh khoản, bảo đảm an toàn của từng ngân hàng và toàn hệ thống.

Đến 31/10/2008 so với 31/12/2007: Tổng tài sản của các NHTMCP đạt 228.497 tỷ đồng, tăng 5,5%; Nguồn vốn huy động đạt 154.087 tỷ đồng, tăng 35%; Dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 109.464 tỷ đồng, tăng 16,8%; Chênh lệch thu nhập – chi phí là 3.141 tỷ đồng, bằng 98,5% năm 2007. Hiện nay, các NHTMCP ở Hà Nội vẫn thực hiện tốt các quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động. Tuy nhiên, hoạt động của các NHTMCP cũng đã bộc lộ một số hạn chế, tồn tại sau đây:

– Những ngân hàng hoạt động mạnh, “sống dựa” trên thị trường liên ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng sử dụng vốn thị trường 2 vào thị trường 1, khi có khó khăn, một số ngân hàng rút vốn làm cho các ngân hàng này bị động, lúng túng trong việc điều hành thanh khoản, vay mượn lẫn nhau làm cho lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm lên đến 40%/năm.

– Hoạt động ngân hàng bị tác động mạnh của thị trường tiền tệ, thay đổi nhiều về cơ cấu lãi suất. Do huy động vốn khó khăn, hầu hết các ngân hàng phải sử dụng nhiều biện pháp để hút và giữ nguồn vốn. Lãi suất huy động ngắn hạn cao hơn lãi suất huy động dài hạn. Nhiều ngân hàng ở một số thời điểm đã tăng lãi suất quá cao sát trần lãi suất cho vay, làm thị trường tiền tệ lộn xộn, khách hàng chuyển dịch tiền lòng vòng từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và “làm giá” với ngân hàng.

Continue reading

QUI MÔ THƯƠNG MẠI THEO QUI ĐỊNH TRONG HIỆP ĐỊNH TRIPS VÀ QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

KHÔI NGUYÊN

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007. Kể từ thời điểm này, Việt Nam phải thực thi các cam kết của mình với WTO về các lĩnh vực hàng hoá và dịch vụ cũng như các văn kiện của WTO trong đó có Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs).

Trong quá trình chuẩn bị và hoàn thiện pháp luật trong nước đáp ứng yêu cầu đàm phán gia nhập WTO, Việt Nam đã nỗ lực cố gắng hoàn thiện các quy định của pháp luật trong nước cho phù hợp với quy định cũng như cam kết của Việt Nam với WTO, một trong những văn bản quan trọng đó là Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội ban hành vào năm 2005. Việc Quốc hội ban hành Luật Sở hữu trí tuệ ngoài việc đảm bảo tính phù hợp trong quy định của pháp luật Việt Nam với quy định của Hiệp định TRIPs còn nhằm góp phần đưa hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ đi vào nền nếp, phù hợp với các quy định chung của WTO.

1. Quy định của Hiệp định TRIPs về “quy mô thương mại”

Điều 61 Hiệp định TRIPs quy định “Các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại (commercial scale). Các biện pháp chế tài theo quy định phải bao gồm cả phạt tù và/hoặc phạt tiền đủ để ngăn ngừa vi phạm, tương ứng với mức phạt được áp dụng cho các tội phạm có mức độ nghiêm trọng tương đương trong những trường hợp thích hợp, các biện pháp chế tài cũng bao gồm cả việc bắt giữ, tịch thu và tiêu huỷ hàng hoá vi phạm, bất cứ vật liệu và phương tiện nào khác được sử dụng chủ yếu để thực hiện tội phạm. Các thành viên có thể quy định các thủ tục hình sự và hình phạt áp dụng cho các trường hợp khác vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là trường hợp cố tình vi phạm và vi phạm với quy mô thương mại”. Tuy nhiên, Hiệp định TRIPs cũng có quy định loại trừ tại Điều 60 khi hàng hoá được coi là nhập khẩu với số lượng nhỏ thì “các thành viên có thể không áp dụng các quy định của Hiệp định TRIPs đối với những hàng hoá phi thương mại với số lượng nhỏ, là hành lý cá nhân hoặc gửi với số lượng nhỏ.

Continue reading

XỬ LÝ DOANH NGHIỆP CỐ “ÔNG CHỦ” BỎ TRỐN: TỪ KHÓ . . . ĐẾN TẮC

MAI THẢO – HẢI VINH

Người lao động lao đao do nhiều công ty nước ngoài liên tục nợ lương, thậm chí có nơi ông chủ bỗng dưng “mất tích”. Ngay cả cơ quan quản lý nhà nước cũng chưa tìm được biện pháp hữu hiệu để giải quyết tình trạng này.

Trong một cuộc hòa giải tranh chấp lao động ở TPHCM trước đây, một ông giám đốc người Pháp sau khi trình bày các nỗ lực, thiện chí giải quyết của công ty, đột ngột buông ra một câu: “We are not the Korean company”- (chúng tôi không phải là công ty Hàn Quốc). Nghe thì rất đụng chạm nhưng nó cho thấy các công ty Hàn Quốc đã “mất điểm” như thế nào trong những vấn đề về quan hệ lao động với người lao động Việt Nam.

“Nợ tứ phía” rồi xù

Bảo hiểm xã hội TPHCM (BHXH) cho biết, tính đến cuối tháng 1/2009, trên địa bàn thành phố có 62 doanh nghiệp Hàn Quốc nợ BHXH với số tiền trên 30 tỷ đồng. Đặc biệt, trong đó có doanh nghiệp số nợ lên đến hàng tỷ đồng và thời gian nợ cũng kéo dài tới vài năm. Điển hình có công ty TNHH Kwang Nam (Q. Phú Nhuận) nợ BHXH từ tháng 12/2006 với số tiền trên 7 tỷ đồng. Hay trong vòng gần 1 năm, từ tháng 2/2007 đến cuối năm ngoái, công ty TNHH Giày AnJin trở thành con nợ của BHXH với hơn 6,5 tỷ đồng. Danh sách các công ty Hàn Quốc nợ lớn còn có công ty TNHH Sin B, công ty TNHH đồ chơi quốc tế Lucky …

Không chỉ nợ BHXH mà việc thực hiện pháp luật lao động tại một số doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hàn Quốc còn rất phức tạp. Như công ty TNHH Giày AnJin vừa nợ khoản trợ cấp thôi việc, vừa nợ trợ cấp thai sản của người lao động. Công ty TNHH Sin B cũng không có gì khá hơn, lao động vẫn chưa được lãnh lương từ tháng 12/2008. Tương tự, 236 lao động làm việc tại công ty Lucky đến nay vẫn chưa lãnh được tiền lương tháng 12/2008, thưởng cuối năm và tháng 1/2009.

Continue reading

MỘT SỐ QUI ĐỊNH MỚI VỀ KHÁNG NGHỊ VÀ GIẢI QUYẾT KHÁNG NGHỊ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ NĂM 2008

THS. NGUYỄN VĂN NGHĨA – Bộ Tư pháp

Luật thi hành án dân sự được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4, thông qua ngày 14/11/2008 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2009 tiếp tục quy định những nội dung về kiểm sát hoạt động thi hành án dân sự. Theo đó, Viện kiểm sát các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình kiểm sát việc tuân theo pháp luật về thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc thi hành án nhằm bảo đảm việc thi hành án kịp thời, đầy đủ, đúng pháp luật.

Trên cơ sở kế thừa quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã sửa đổi, bổ sung mới một số nội dung về hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự thông qua việc sửa đổi, bổ sung quy định về kháng nghị và giải quyết kháng nghị về thi hành án dân sự, bao gồm:

Một là,bổ sung nội dung về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân. Trước đây theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì thẩm quyền kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân chỉ quy định kháng nghị đối với các quyết định thi hành án, cụ thể Điều 64 quy định như sau: "Viện Kiểm sát nhân dân thực hiện quyền kháng nghị đối với các quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên cơ quan thi hành án cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân". Khắc phục hạn chế này của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật thi hành án dân sự năm 2008 bổ sung quy định việc kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân không chỉ đối với quyết định mà còn cả đối với hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới. Theo đó, khoản 1 Điều 160 Luật thi hành án dân sự về quyền kháng nghị của Viện kiểm sát được quy định như sau: "Viện kiểm sát kháng nghị đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và cấp dưới theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân".

Hai là, bổ sung trách nhiệm thực hiện kháng nghị của các cơ quan thi hành án dân sự trong trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát.Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan thi hành án dân sự trong việc thực hiện kháng nghị nếu kháng nghị của Viện kiểm sát được chấp nhận. Do đó, đoạn 2 khoản 1, Điều 161 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định bổ sung về trách nhiệm thực hiện kháng nghị như sau: "Trường hợp chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có văn bản trả lời kháng nghị, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện kháng nghị của Viện kiểm sát".

Continue reading

%d bloggers like this: