CẦN SỬA ĐỔI MỨC THU LỆ PHÍ CHỨNG THỰC GIAO DỊCH, HỢP ĐỒNG

THANH XUÂN

Ủy ban nhân dân các cấp (xã, huyện) là cơ quan có thẩm quyền chứng thực các giao dịch, hợp đồng của công dân khi có yêu cầu theo quy định của pháp luật. Khoản 2, Điều 2, Nghị định 75 về công chứng, chứng thực quy định UBND cấp xã, huyện có thẩm quyền chứng thực các việc như xác nhận sao y giấy tờ, hợp đồng, giao dịch và chữ ký của cá nhân trong các giấy tờ phục vụ cho thực hiện các giao dịch trong hoạt động dân sự của công dân.

Cũng theo quy định của Nghị định 75 thì người yêu cầu công chứng, chứng thực phải nộp lệ phí công chứng, chứng thực, khi yêu cầu công chứng, chứng thực đã được thực hiện. Trước đây, mức thu lệ phí công chứng, chứng thực được thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC-BTP ngày 21/11/2001 của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí, lệ phí công chứng, chứng thực.

Theo đó, thông tư có quy định cụ thể mức thu lệ phí, chứng thực áp dụng đối với UBND cấp huyện trong đó có mức thu các loại hợp đồng, giao dịch như hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất (tính trên giá trị tài sản); chứng thực hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh (tính trên giá trị ghi trong hợp đồng); chứng thực hợp đồng vay tiền có hoặc không có cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh; hoặc chỉ chứng thực hợp đồng cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, bảo lãnh (tính trên số tiền vay ghi trong hợp đồng vay). Nhưng Thông tư 93 lại không quy định mức thu lệ phí của UBND các cấp các hợp đồng liên quan đến quyền sử dụng đất như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất… dẫn đến khó khăn cho cán bộ thực hiện việc chứng thực và công dân khi có yêu cầu chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch trên. Cụ thể, đầu tháng 3/2009 bà Huỳnh Thị N. đến UBDN xã T.T yêu cầu chứng thực hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, sau khi chứng thực hợp đồng cán bộ thụ lý không biết căn cứ vào mục nào để thu lệ phí chứng thực vì theo Thông tư liên tịch số 93 không quy định mức thu lệ phí đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất nói trên.

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì chỉ có UBND cấp xã và Phòng Công chứng mới có thẩm quyền công chứng hay chứng thực các loại hợp đồng, giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất theo các quy định của Thông tư liên tịch số 04 hướng dẫn việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất. Vì vậy, các quy định của Thông tư 93 về thu lệ phí chứng thực không còn phù hợp với các quy định của Luật Đất đai hiện hành vì quyền của người sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai mới đã được mở rộng.

Ngày 17/10/2008, Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp đã có Thông tư liên tịch số 92 hướng dẫn mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp bản sao, lệ phí chứng thực đối với UBND cấp huyện và xã nhưng chỉ hướng dẫn UBND cấp huyện và xã thu lệ phí chứng thực khi cấp bản sao, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký mà không hướng dẫn mức thu lệ phí chứng thực hợp đồng, giao dịch. Bộ Tài chính có công văn số 5886/TC-CST ngày 17/5/2005 hướng dẫn khi chứng thực hợp đồng, văn bản về quyền sử dụng đất UBND cấp xã được thu lệ phí chứng thực y như UBND cấp huyện. Tương tự, Bộ Tư pháp cũng có công văn số 3854/BTP-HCTP ngày 28/11/2008 cũng hướng dẫn tương tự nội dung trên về mức thu lệ phí chứng thực hợp đồng, văn bản về bất động sản của UBND cấp xã được thực hiện theo mức thu lệ phí chứng thực của UBND cấp huyện. Vướng mắc xảy ra khi áp dụng các mức thu lệ phí chứng thực đối với các hợp đồng, văn bản liên quan đến quyền sử dụng đất của công dân vì mức thu lệ phí chứng thực hợp đồng, giao dịch không được quy định đầy đủ. Các loại hợp đồng như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, hợp đồng góp vốn bằng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất… không được thông tư liên tịch 93 quy định dẫn đến vướng mắc khi UBND xã thực hiện việc thu lệ phí chứng thực các loại hợp đồng, văn bản nêu trên.

Thiết nghĩ, lệ phí công chứng, chứng thực là một trong những nguồn thu của ngân sách nhà nước nhằm huy động các khoản đóng góp của nhân dân góp phần huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn. Việc quy định cụ thể, đầy đủ các quy định về lệ phí chứng thực các hợp đồng, giao dịch của công dân cần phải được sửa đổi cho phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo các quy định của pháp luật được thực hiện./.

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ TƯ PHÁP

Trích dẫn từ:

http://www.moj.gov.vn/p/tag.idempotent.render.userLayoutRootNode.target.n65.uP?uP_root=me&cmd=item&ID=12062

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: