Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐÀI LOAN BAN HÀNH 11 THÁNG 01 NĂM 1994, CÓ HIỆU LỰC TỪ NGÀY 13/01/1994

(Bổ sung các Điều 7-1, 10-1, 11-1, 19-1, 44-1, và từ 45-1 đến 45-5 và sửa đổi các Điều 2, 6, 7, 13, 14, 15, 16, 17, 35, 38, 39, 41, 42, 49, 50, 57, 58, và 62 vào ngày 22 tháng 1 năm 2003; bổ sung Điều 22-1 vào tháng 5 năm 2005)

Chương I – Những quy định chung

Điều 1

Luật bảo vệ người tiêu dùng (sau đây được gọi là “Luật này”) được ban hành với mục đích bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, tạo Điều kiện an toàn và cải thiện chất lượng cho đời sống tiêu dùng của người dân.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng phải tuân theo quy định của Luật này, trong trường hợp luật này không có các quy định cụ thể, các văn bản pháp luật khác sẽ được xem xét áp dụng.

Điều 2

Trong Luật các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Người tiêu dùng” là những người tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ vì mục đích tiêu dùng.

2. “Doanh nghiệp kinh doanh” là những doanh nghiệp tham gia vào quá trình đặt kế hoạch, chế tạo, sản xuất, nhập khẩu hay phân phối hàng hoá, hoặc cung cấp dịch vụ.

3. “Quan hệ tiêu dùng” là quan hệ pháp lý phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh trong trong quá trình mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ.

4. “Tranh chấp trong tiêu dùng” là tranh chấp phát sinh do việc mua bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh.

5. “Vụ kiện trong tiêu dùng” là việc kiện tụng phát sinh do tranh chấp trong tiêu dùng được khởi kiện tại Tòa án.

6. “Nhóm bảo vệ người tiêu dùng” là nhóm người đại diện hợp pháp hoạt động vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng được thành lập phù hợp với các quy định pháp luật.

7. “Điều khoản hàng loạt của Hợp đồng” là các Điều khoản được các doanh nghiệp kinh doanh đơn phương soạn thảo khi tham gia quan hệ hợp đồng với các bên không xác định với số lượng lớn. Ngoài dạng văn bản, những Điều khoản cơ bản của hợp đồng còn được thể hiện trên các bảng thông báo công cộng, máy bay, thông điệp nơi công cộng, Internet và các phương tiện khác.

8. “Điều khoản thương lượng” là các Điều khoản của hợp đồng đạt được do sự thoả thuận giữa các bên thương lượng độc lập.

9. “Hợp đồng hàng loạt ” là hợp đồng mà một phần hoặc toàn bộ Điều khoản cơ bản được soạn thảo bởi các doanh nghiệp kinh doanh.

10. “Thư đặt mua” là các giao dịch thương mại trong đó doanh nghiệp kinh doanh sử dụng đài phát thanh, chương trình truyền hình, điện thoại, bản mô phỏng, sách giới thiệu, báo, tạp chí, Internet, máy bay, hoặc các phương thức tương tự để thiết lập một giao dịch thương mại giữa doanh nghiệp kinh doanh với những người tiêu dùng không có cơ hội được xem xét kỹ hàng hoá đặt mua.

11. “Bán hàng tận cửa” là phương thức bán hàng được thực hiện thông qua sự tiếp thị của doanh nghiệp kinh doanh tại nhà của người tiêu dùng hoặc các địa điểm khác mà không dựa trên bất kỳ sự yêu cầu nào.

12. “Bán hàng trả góp” là loại giao dịch theo hợp đồng bán hàng mà người tiêu dùng được yêu cầu trả góp với số dư được trả dần và doanh nghiệp kinh doanh sẽ chuyển giao từng phần cho người tiêu dùng theo hóa đơn trả góp.

Điều 3

Chính phủ quy định các biện pháp dưới đây và tiến hành rà soát định kỳ, đồng bộ, hoàn thiện pháp luật và các quy định liên quan đến các biện pháp đó và việc thực thi chúng để đạt được mục đích của Luật này:

1. Bảo đảm chất lượng, độ an toàn và vệ sinh của hàng hóa, dịch vụ;

2. Ngăn chặn hàng hóa, dịch vụ gây thiệt hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe, tài sản và các lợi ích khác của người tiêu dùng;

3. Đảm bảo hàng hóa, dịch vụ đáp ứng được dán nhãn đáp ứng các quy định pháp luật;

4. Đảm bảo hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo phù hợp với quy định pháp luật;

5. Đảm bảo kích thước và trọng lượng của hàng hóa, dịch vụ đáp ứng các quy định pháp luật;

6. Xúc tiến duy trì giá cả hợp lý của hàng hóa và dịch vụ;

7. Xúc tiến đóng gói hàng hóa hợp lý;

8. Thúc đẩy thương mại lành mạnh đối với hàng hóa hoặc dịch vụ;

9. Tạo Điều kiện thuận lợi và động viên tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

10. Đồng bộ việc xử lý các tranh chấp trong tiêu dùng;

11. Xúc tiến đào tạo người tiêu dùng;

12. Quản lý các dịch vụ tư vấn tiêu dùng; và

13. Các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng cần thiết đối với sự phát triển của đời sống tiêu dùng.

Chính phủ sẽ ban hành các Luật liện quan nhằm đạt được các mục đích nêu trên.

Điều 4

Các doanh nghiệp kinh doanh phải quan tâm đến sức khỏe, sự an toàn của người tiêu dùng đối với những hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, đồng thời phải giải thích cho người tiêu dùng cách sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo sự trung thực trong giao dịch, cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin đầy đủ, xác thực, và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Điều 5

Chính quyền, các doanh nghiệp kinh doanh và người tiêu dùng phải cùng nhau nỗ lực tăng cường thông tin tiêu dùng và cung cấp các thông tin mà người tiêu dùng sử dụng qua đó đảm bảo cách cư xử phù hợp và hợp lý của người tiêu dùng được chấp nhận, để đảm bảo được lợi ích và sự an toàn của họ.

Điều 6

Các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật này ở cấp chính quyền trung ương là các cơ quan có thẩm quyền xét xử cao nhất, ở cấp chính quyền thành phố (tỉnh) là các cơ quan cấp thành phố (tỉnh) và ở cấp chính quyền thành phố thuộc tỉnh, hạt là các cơ quan cấp thành phố thuộc tỉnh, hạt.

Chương II – Lợi ích của người tiêu dùng

Mục 1 – Quyền bảo vệ sức khỏe và sự an toàn

Điều 7

Các doanh nghiệp kinh doanh tham gia vào quá trình thiết kế, sản xuất hay chế tạo hàng hóa hoặc quá trình cung ứng dịch vụ phải đảm bảo rằng hàng hóa và dịch vụ của họ đáp ứng yêu cầu và tuân theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn nghề nghiệp hiện thời với độ an toàn hợp lý trước khi hàng hóa được đưa vào siêu thị để bán hoặc cung cấp dịch vụ.

Trong trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ gây nguy hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe hoặc tài sản của người tiêu dùng, một cảnh báo và phương pháp đối phó trong trường hợp khẩn cấp đối với những nguy hiểm đó phải được ghi tại một vị trí thích hợp trên sản phẩm.

Các doanh nghiệp kinh doanh vi phạm quy định ở hai khổ trên và do đó gây thiệt hại đến người tiêu dùng hoặc bên thứ ba có trách nhiệm liên đới hoặc độc lập đối với các thiệt hại đó, nếu các doanh nghiệp kinh doanh chứng minh được rằng họ không có lỗi đối với sai sót đó, Tòa án có thể căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm của họ đối với thiệt hại.

Điều 7-1

Trong trường hợp các doanh nghiệp kinh doanh cảnh báo rằng hàng hóa của họ khi đưa vào siêu thị hoặc tại thời điểm cung cấp dịch vụ phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn nghề nghiệp hiện thời, với độ an toàn hợp lý, họ phải cung cấp được bằng chứng để chứng minh.

Hàng hóa hoặc dịch vụ không thể bị coi là mâu thuẫn với yêu cầu về độ an toàn được nêu trong đoạn một của Điều khoản trước, đơn giản vì hàng hóa dịch vụ tốt hơn được cung cấp sau đó.

Điều 8

Các doanh nghiệp kinh doanh tham gia vào quá trình phân phối hoặc bán hàng có trách nhiệm liên đới hoặc độc lập với các doanh nghiệp kinh doanh tham gia vào quá trình thiết kế, sản xuất hoặc chế tạo hàng hóa hay dịch vụ liên quan đến những thiệt hại gây ra bởi hàng hóa dịch vụ đó. Trong trường hợp họ tiến hành các biện pháp thích đáng nhằm ngăn chặn những thiệt hại này, hay thậm chí họ đã tiến hành các biện pháp thích đáng nhưng thiệt hại vẫn xảy ra, thì việc chịu trách nhiệm liên đới hay độc lập có thể xem xét không áp dụng.

Nếu các doanh nghiệp kinh doanh được đề cập ở khoản trên trang bị thêm những bộ phận mới cho hàng hóa hay đóng gói chia nhỏ một lượng lớn hàng hóa hoặc làm thay đổi bản chất của dịch vụ sẽ được coi như các doanh nghiệp kinh doanh quy định trong Điều khoản trước.

Điều 9

Các doanh nghiệp kinh doanh tham gia vào quá trình nhập khẩu hàng hóa hoặc dịch vụ được coi như các nhà thiết kế, sản xuất hoặc chế tạo các hàng hóa đó hoặc các nhà cung cấp dịch vụ đó, và do đó phải chịu trách nhiệm như các nhà sản xuất quy định tại Điều 7 của Luật này.

Điều 10

Khi các tình tiết thực tế chứng minh được rằng có nghi ngờ về hàng hóa hoặc dịch vụ cung cấp sẽ gây nguy hiểm đến sự an toàn và sức khỏe của người tiêu dùng, các doanh nghiệp kinh doanh phải ngay lập tức thu hồi hàng hóa đó hay ngừng cung cấp dịch vụ đó, nếu các doanh nghiệp kinh doanh thực hiện các biện pháp cần thiết loại bỏ được các mối nguy hiểm đó thì không phải áp dụng các biện pháp thu hồi.

Trong trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ đe dọa gây nguy hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe hoặc tài sản của người tiêu dùng mà thiếu nhãn cảnh báo ở vị trí thích hợp với mô tả về biện pháp đối phó với nguy hiểm trong trường hợp khẩn cấp, quy định ở khoản trên sẽ được áp dụng với những sửa đổi thích đáng về chi tiết.

Điều 10-1

Trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh đối với những thiệt hại của khách hàng nêu trong mục này là cấm hạn chế hoặc miễn trừ trước đó.

Mục 2 – Hợp đồng hàng loạt

Điều 11

Các Điều khoản và Điều kiện được các doanh nghiệp kinh doanh sử dụng trong hợp đồng hàng loạt phải dựa trên cơ sở sự bình đẳng và có đi có lại.

Trường hợp các Điều khoản và Điều kiện trong hợp đồng hàng loạt có thể hiểu theo nhiều hơn một nghĩa, phải giải thích trên cơ sở có lợi cho người tiêu dùng.

Điều 11-1

Trước khi các doanh nghiệp kinh doanh dự định chuẩn bị một hợp đồng hàng loạt với người tiêu dùng, phải để cho người tiêu dùng có một thời hạn hợp lý, không dưới 30 ngày để họ xem xét lại nội dung của tất cả các Điều khoản và Điều kiện.

Hợp đồng được ký kết bởi các bên vi phạm quy định nêu trên sẽ không tạo thành một hợp đồng hàng loạt, nhưng người tiêu dùng có thể đề xuất ra những Điều khoản hoặc Điều kiện làm thay đổi nội dung của hợp đồng hàng loạt.

Cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương có thể lựa chọn một ngành cụ thể và thông tin đến công chúng thời hạn thích hợp để xem xét lại hợp đồng hàng loạt tùy thuộc theo tầm quan trọng của các Điều khoản và Điều kiện, các vấn đề liên quan và mức độ phức tạp trong hợp đồng hàng loạt.

Điều 12

Các Điều khoản và Điều kiện trong hợp đồng hàng loạt vi phạm nguyên tắc thiện ý và không công bằng một cách rõ ràng đối với người tiêu dùng, sẽ vô hiệu. Các Điều kiện và Điều khoản của hợp đồng hàng loạt có thể bị coi là không công bằng nếu thuộc các trường hợp sau đây:

1. Các Điều kiện này vi phạm nguyên tắc về bình đẳng và có đi có lại;

2. Có mâu thuẫn rõ ràng đối với mục đích của các quy định pháp luật mà có thể bị loại trừ bởi các Điều khoản và Điều kiện đó; hoặc

3. Các Điều khoàn và Điều kiện của hợp đồng đã hạn chế các quyền và nghĩa vụ chủ yếu và do đó, mục đích của hợp đồng không thể đạt được.

Điều 13

Trong trường hợp các Điều khoản hàng loạt không được xác định rõ trong hợp đồng hàng loạt thì các doanh nghiệp kinh doanh phải minh họa chính xác nội dung của các Điều khoản này cho người tiêu dùng. Nếu có những khó khăn rõ ràng khi minh họa chính xác nội dung của các Điều khoản này, thì phải làm rõ bằng niêm yết công khai về nội dung của các Điều khoản và, trên cơ sở sự chấp thuận chắc chắn của người tiêu dùng, những Điều khoản đó có thể trở thành một phần của hợp đồng.

Trong trường hợp nêu trên, các doanh nghiệp kinh doanh theo yêu cầu của người tiêu dùng phải cung cấp bản sao của các Điều khoản hàng loạt hoặc bổ sung bản sao này như một tài liệu đính kèm với hợp đồng.

Điều 14

Trong trường hợp các Điều khoản hàng loạt không được xác định trong hợp đồng hàng loạt và, trong Điều kiện thông thường và người tiêu dùng không thể đoán trước được các Điều khoản này thì chúng sẽ không trỏ thành một phần của hợp đồng.

Điều 15

Trong trường hợp các Điều khoản hàng loạt ở một hợp đồng hàng loạt cụ thể trái với hợp đồng thương lượng, thì phần mâu thuẫn này sẽ vô hiệu.

Điều 16

Trong trường hợp Điều khoản hàng loạt vô hiệu một phần hoặc toàn bộ hay không trở thành một phần của hợp đồng, và nếu hợp đồng vẫn có thể thực hiện được mà không cần các phần này thì các phần còn lại của hợp đồng vẫn tiếp tục có hiệu lực, trừ trường hợp có sự bất hợp lý rõ ràng đối với một trong các bên thì toàn bộ hợp đồng sẽ vô hiệu.

Điều 17

Cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương quy định rõ các ngành cụ thể và công bố dưới dạng niêm yết công khai các Điều khoản bắt buộc và Điều khoản bị cấm đối với hợp đồng hàng loạt được các ngành này sử dụng.

Điều khoản hàng loạt trong hợp đồng hàng loạt mà vi phạm quy định đã được thông báo công khai theo khoản trên thì sẽ bị vô hiệu, và hiệu lực của hợp đồng này sẽ chịu sự Điều chỉnh của của quy định nêu trong Điều trước.

Các cơ quan có thẩm quyền có thể cử nhân viên đi kiểm tra hợp đồng hàng loạt được các doanh nghiệp kinh doanh sử dụng vào bất kỳ thời điểm nào.

Mục 3 – Mua bán đặc biệt

Điều 18

Các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức thư mời mua hoặc bán hàng tận cửa phải thông báo đến bên mua – người tiêu dùng, mà tiến hành mua, về Điều khoản mua và tên, chức danh, người chịu trách nhiệm, cơ quan hoặc nơi cư trú của người bán.

Người tiêu dùng theo phương thức thư mời mua hoặc bán hàng tận cửa, nếu không sẵn lòng mua hàng hóa mà họ đã nhận có thể trả lại hàng hóa hoặc thông báo bằng văn bản đến doanh nghiệp kinh doanh trong vòng 7 ngày theo giấy biên nhận hàng hóa đó mà không cần nêu lý do hay trả bất cứ chi phí nào hoặc giá mua.

Bất kỳ thỏa thuận nào được tuyên bố trong thư mời mua hoặc bán hàng tận cửa vi phạm khoản trên thì đều vô hiệu.

Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng như đã đề cập ở trên, nếu thỏa thuận liên quan đến việc bồi hoàn giữa doanh nghiệp kinh doanh và người tiêu dùng mà kém thuận lợi cho người tiêu dùng hơn so với quy định tại Điều 259 của Bộ luật dân sự, thì thỏa thuận này sẽ bị vô hiệu.

Điều 19 – 1

Những quy định của hai Điều khoản trên có thể được áp dụng, với những sửa đổi thích đáng về chi tiết, đối với dịch vụ dịch vụ được yêu cầu và cung cấp.

Điều 20

Người tiêu dùng sẽ không phải chịu trách nhiệm bảo quản hàng hóa được gửi qua đường bưu điện hoặc chuyển giao đến họ mà không có yêu cầu từ phía người tiêu dùng.

Người gửi hàng hóa nêu trong khoản trên sẽ bị coi là từ bỏ hàng hóa được gửi qua đường bưu điện hoặc chuyển giao đến người tiêu dùng nếu sau một khoảng thời gian hợp lý nhận được thông báo từ phía người tiêu dùng mà không lấy lại hàng hóa đó, hoặc thông báo của người tiêu dùng không thể được lập. Cho dù người tiêu dùng không chuyển một thông báo nào, nếu người tiêu dùng không thể hiện sự đồng ý sau một tháng kể từ khi hàng chuyển theo đường bưu điện hoặc chuyển giao đến thì hàng hóa cũng tương tự bị coi là bị từ bỏ cho đến khi bên gửi hàng nhận lại hàng.

Người tiêu dùng có thể đòi bồi thường đối với những thiệt hại phải gánh chịu là hậu quả của việc chuyển hàng qua bưu điện và có thể yêu cầu bồi hoàn những chi phí cần thiết để xử lý hàng hóa đã được gửi.

Điều 21

Hợp đồng trả góp giữa doanh nghiệp kinh doanh và người tiêu dùng phải được lập thành văn bản.

Hợp đồng viết nêu trên phải quy định những điểm cụ thể sau:

1. Tổng số tiền trả góp;

2. Sự khác biệt giữa tổng giá thành khi cộng tổng từng lần trả góp và các phụ phí khác, và giá bán ngay khi giao dịch, và

3. Lãi suất.

Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh không xác định rõ lãi suất phù hợp với quy định trên, lãi suất sẽ được tính ở mức 5% một năm giá của giao dịch trả tiền ngay.

Nếu doanh nghiệp kinh doanh vi phạm quy định tại khoản 2, điểm 1 và điểm 2, người tiêu dùng sẽ không phải chịu trách nhiệm chi trả bất kỳ mức giá nào trên mức giá của giao dịch trả tiền ngay.

Mục 4 – Điều lệ quản lý thông tin tiêu dùng

Điều 22

Doanh nghiệp kinh doanh phải đảm bảo độ chính xác trong nội dung của quảng cáo và nghĩa vụ của họ đối với khách hàng không được thấp hơn những gì họ đã tuyên bố trong quảng cáo.

Điều 22 – 1

Khi tham gia vào các giao dịch liên quan đến tín dụng với người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh phải chỉ rõ trong quảng cáo của họ tỷ lệ phần trăm trung bình hàng năm của tất cả chi phí vay mượn trong thời hạn tín dụng.

Phạm vi của “chi phí vay mượn trong thời hạn tín dụng” và phương pháp tính toán “tỷ lệ phần trăm trung bình như đã nêu ở khoản trên được quy định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền của từng ngành liên quan.

Điều 23

Nếu doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực truyền thông tham gia vào việc xuất bản hoặc công bố quảng cáo biết hoặc buộc phải biết nội dung của quảng cáo không phù hợp với sự thật, thì phải chịu trách nhiệm liên đới hoặc độc lập đối với người tiêu dùng vì sự liên quan của doanh nghiệp đến quảng cáo đó.

Những nghĩa vụ nêu trên đối với việc bồi thường thiệt hại không bị hạn chế hay từ chối bởi bất kỳ thỏa thuận nào trước đó.

Điều 24

Doanh nghiệp kinh doanh phải dán nhãn sản phẩm, dịch vụ phù hợp với Luật về Nhãn sản phẩm và các quy định pháp luật khác có liên quan.

Hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu phải kèm nhãn và hướng dẫn sử dụng bằng tiếng Trung Quốc, nội dung phải đồng bộ với nội dung của nhãn hàng hoặc sách giới thiệu tại nước xuất xứ.

Nếu hàng hóa hoặc dịch vụ nhập khẩu tại nước xuất xứ có kèm theo các nhãn cảnh báo, các quy định tại khoản trên sẽ được áp dụng với sửa đổi phù hợp về chi tiết.

Điều 25

Doanh nghiệp kinh doanh phải chủ động cung cấp văn bản bảo hành khi họ tiến hành bảo hành cho người tiêu dùng những vấn đề liên quan đến chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ.

Văn bản bảo hành nêu trên phải quy định rõ những điểm sau:

1. Tên, chủng loại và số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ và, số sản xuất hoặc số lô sản xuất nếu có;

2. Nội dung bảo hành;

3. Thời hạn bảo hành và phương pháp tính điểm bắt đầu thời hạn bảo hành đó;

4. Tên và địa chỉ của nhà sản xuất;

5. Trong trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ được bán bởi doanh nghiệp phân phối thì nêu tên, địa chỉ của nhà phân phối và;

6. Ngày có hiệu lực của giao dịch.

Điều 26

Để đảm bảo chất lượng của hàng hóa và sự an toàn của người tiêu dùng, doanh nghiệp kinh doanh phải đóng gói chống va đập, chống thấm, chống bụi hay các việc đóng gói cần thiết khác để bảo quản hàng hóa phù hợp với tính chất và cách sử dụng của hàng hóa mà họ cung cấp. Doanh nghiệp kinh doanh không được cường điệu hóa nội dung đóng gói hàng hóa hoặc cung cấp thừa việc đóng gói hàng hóa.

Chương III – Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Điều 27

Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ được thành lập dưới dạng người đại diện theo pháp luật của một hiệp hội hoặc quỹ hoạt động.

Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải coi việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bồi dưỡng kiến thức tiêu dùng như những mục tiêu hàng đầu.

Điều 28

Nhiệm vụ của tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quy định như sau:

1. Điều tra, đối chiếu, nghiên cứu và thông báo về giá của hàng hóa và dịch vụ;

2. Điều tra, giám định, nghiên cứu và thông báo về chất lượng của hàng hóa và dịch vụ;

3. Điều tra, đối chiếu, nghiên cứu và thông báo về việc dán nhãn hàng hóa và nội dung của nhãn hàng hóa;

4. Tư vấn, giới thiệu và thông báo những thông tin tiêu dùng có liên quan;

5. Biên tập, xuất bản các ấn phẩm nhằm bảo vệ người tiêu dùng;

6. Điều tra, phân tích và kết luận về các quan điểm thu thập được;

7. Giải quyết các khiếu nại của người tiêu dùng và hòa giải các tranh chấp trong tiêu dùng;

8. Xử lý các tranh chấp trong tiêu dùng và đệ trình thủ tục tố tụng tiêu dùng;

9. Kiến nghị với Chính quyền các quy định bảo vệ người tiêu dùng và các phương pháp quản lý thích hợp;

10. Yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh tiến hành các biện pháp phù hợp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; và

11. Các nhiệm vụ khác liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Điều 29

Để tham gia vào quá trình giám định hàng hóa, dịch vụ, nhóm bảo vệ người tiêu dùng phải trang biệt thiết bị giám định, hoặc ủy nhiệm cho cơ quan hoặc tổ chức có thiết bị giám định, làm nhiệm vụ giám định.

Người tiến hành giám định phải chuẩn bị biên bản giám định ghi lại thiết bị lấy mẫu và sử dụng, phương pháp giám định, quá trình giám định và kết quả giám định, và nộp biên bản đó cho tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Điều 30

Chính quyền có trách nhiệm tư vấn cho nhóm bảo vệ người tiêu dùng, các ngành liên quan, các nhà nghiên cứu và chuyên gia các biện pháp pháp lý và quản lý đối với việc bảo vệ người tiêu dùng.

Điều 31

Nhóm bảo vệ người tiêu dùng có thể yêu cầu sự hỗ trợ cần thiết từ phía Chính quyền để tham gia vào quá trình Điều tra hoặc giám định hàng hóa và dịch vụ.

Điều 32

Các cơ quan có thẩm quyền có thể hỗ trợ tài chính cho các nhóm bảo vệ người tiêu dùng có hoạt động tốt trong công tác bảo vệ người tiêu dùng.

Chương IV – Giám sát quản lý

Điều 33

Nếu chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp huyện/ quận cho rằng các doanh nghiệp kinh doanh cung cấp hàng hóa, dịch vụ đe dọa đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe hoặc tài sản của người tiêu dùng thì ngay lập tức phải tiến hành Điều tra và thông báo công khai quy trình và kết quả Điều tra.

Trong quá trình thực hiện Điều tra theo quy định tại khoản trên, Điều tra viên phải chỉ ra những bằng chứng có liên quan, và tiến hành cuộc Điều tra theo các cách sau:

1. Thẩm vấn doanh nghiệp kinh doanh và các cá nhân có liên quan;

2. Thông báo cho các doanh nghiệp kinh doanh và cá nhân có liên quan có mặt để tiến hành ra tuyên bố;

3. Thông báo cho các doanh nghiệp kinh doanh để cung cấp những thông tin chứng minh rằng hàng hóa hoặc dịch vụ của họ không đe dọa tính mạng, cơ thể, sức khỏe và tài sản của người tiêu dùng;

4. Cử người đến các địa điểm kinh doanh, địa điểm hoạt động hoặc các địa điểm khác có liên quan của doanh nghiệp kinh doanh để tiến hành cuộc Điều tra; và

5. Khi cần thiết, Điều tra viên có thể lấy các mẫu hàng hóa tại các địa điểm để giám định.

Điều 34

Chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện có thể kiến nghị đến các công tố viên tịch thu các đồ vật được coi là bằng chứng của quá trình Điều tra.

Các Điều khoản Điều chỉnh về tịch thu theo bộ luật tố tụng hình sự sẽ được áp dụng, với những sửa đổi thích hợp về chi tiết đối với việc tịch thu đã đề cập trong khoản trước.

Điều 35

Trong quá trình tiến hành giám đinh các cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện có thể ủy thác cho nhóm bảo vệ người tiêu dùng, các tổ chức chuyên trách hoặc các cơ quan công hoặc tư có liên quan hoặc các tổ chức có thiết bị giám định để thực hiện giám định.

Điều 36

Trong trường hợp sau khi tiến hành Điều tra theo đúng quy trình quy định tại Điều 33, chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện cho rằng hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh bị Điều tra cung cấp đe dọa đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe và tài sản của người tiêu dùng, chính quyền có liên quan phải yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh phải yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh ngay lập tức ngừng thiết kế, sản xuất, chế tạo, gia công, nhập khẩu, phân phối các hàng hóa đó hoặc ngừng cung ứng dịch vụ đó, hoặc tiến hành các biện pháp cần thiết khác.

Điều 37

Nếu chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện cho rằng hàng hóa hoặc dịch vụ được các doanh nghiệp kinh doanh cung cấp gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng đến người tiêu dùng, và rơi vào trường hợp khẩn cấp, thì sau khi thực hiện các biện pháp như đã nêu ở Điều trên, chính quyền sẽ công bố công khai tên, địa chỉ, hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp kinh doanh qua phương tiện truyền thông đại chúng hoặc tiến hành các biện pháp cần thiết khác.

Điều 38

Nếu cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương cho rằng cần thiết thì cũng được phép tiến hành các biện pháp đã nêu ở Điều 33.

Điều 39

Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng và chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện duy trì độc lập hoạt động của thanh tra trong lĩnh vực tiêu dùng.

Việc bổ nhiệm và trách nhiệm của thanh tra trong lĩnh vực tiêu dùng tuân theo các quy định của Viện Hành chính Đài Loan.

Điều 40

Viện Hành chính Đài Loan thành lập Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng nhằm nghiên cứu, kiến nghị và rà soát lại các chính sách cơ bản liên quan đến công tác bảo vệ người tiêu dùng và giám sát việc thực thi các chính sách này.

Chủ tịch Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng là Viện phó Viện Hành chính của Đài Loan và Ủy viên là những người đứng đầu các bộ liên quan, đại diện của nhóm bảo vệ người tiêu dùng quốc gia, đại diện các doanh nghiệp kinh doanh, các nhà nghiên cứu và chuyên gia. Điều lệ hoạt động của Ủy ban do Viện Hành chính Đài Loan ban hành.

Điều 41

Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng có những quyền hạn sau:

1. Nghiên cứu, kiến nghị và rà soát những chính sách và biện pháp cơ bản liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng;

2. Nghiên cứu, dự thảo, xét duyệt và ban hành các kế hoạch bảo vệ người tiêu dùng và rà soát kết quả thực thi của các kế hoạch đó;

3. Xem xét các đề xuất bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy, phối hợp và rà soát quá trình thực thi;

4. Nghiên cứu các xu hướng bảo vệ người tiêu dùng trong và ngoài nước và các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế – xã hội;

5. Giáo dục và thúc đẩy bảo vệ tiêu dùng, và tập hợp và cung cấp các thông tin cho công tác bảo vệ người tiêu dùng;

6. Phối hợp các chính sách và các biện pháp của các bộ, ban, ngành và các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến công tác bảo vệ người tiêu dùng; và

7. Giám sát các cơ quan có thẩm quyền trong công tác bảo vệ người tiêu dùng và hướng dẫn các thanh tra tiêu dùng trong quá trình thực thu quyền hạn của họ;

Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng định kỳ công bố kết quả của biện pháp bảo vệ người tiêu dùng và thông tin liên quan.

Điều 42

Chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện có thể thành lập truing tâm dịch vụ tiêu dùng tiếp nhận các công việc như cung cấp dịch vụ tư vấn, phổ biến có tính giáo dục, khiếu nại v.v…

Chính quyền các cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện có thể thành lập các chi nhánh trực thuộc trung tâm dịch vụ tiêu dùng trong phạm vi quyền hạn của họ.

Chương V – Xử lý các tranh chấp trong tiêu dùng

Mục 1 – Khiếu nại và hòa giải

Điều 43

Khi một tranh chấp trong tiêu dùng phát sinh giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp kinh doanh liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ, người tiêu dùng có thể nộp đơn khiếu nại đến doanh nghiệp kinh doanh, nhóm bảo vệ người tiêu dùng, hoặc trung tâm dịch vụ tiêu dùng hoặc các chi nhánh trực thuộc.

Doanh nghiệp kinh doanh phải giải quyết khiếu nại của người tiêu dùng một cách thích hợp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nộp khiếu nại.

Nếu đơn khiếu nại của người tiêu dùng đã đề cập ở khoản trên không được trả lời thích hợp thì người tiêu dùng có quyền gửi đơn đến thanh tra tiêu dùng của chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện.

Điều 44

Nếu khiếu nại của người tiêu dùng đã nêu trong khoản trên vẫn tiếp tục không được trả lời thích hợp thì đề xuất hòa giải sẽ được ủy viên Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện lựa chọn giải quyết tranh chấp của người tiêu dùng.

Điều 44-1

Trình tự và thủ tục tiến hành hòa giải tranh chấp trong tiêu dùng quy định tại Điều trước sẽ do Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng quy định.

Điều 45

Chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện có thể thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp trong tiêu dùng bao gồm từ 7 đến 15 Ủy viên.

Các Ủy viên này là đại diện chính quyền cấp tỉnh/ thành phố hoặc cấp quận/ huyện; thanh tra tiêu dùng, đại diện của nhóm bảo vệ người tiêu dùng, đại diện của các hiệp hội ngành nghề mà doanh nghiệp kinh doanh là thành viên hoặc có liên quan, trong đó thanh tra tiêu dùng sẽ đóng vai trò Chủ tịch hội đồng. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng sẽ được quy định độc lập.

Điều 45 – 1

Thủ tục hòa giải được tiến hành ở cấp chính quyền tỉnh/ thành phố hoặc quận/ huyện hoặc các địa điểm thích hợp khác. Thủ tục hòa giải có thể không được công khai.

Thành viên của Hội đồng hòa giải phối hợp với các hòa giải viên và các đơn vị có trách nhiệm trong vụ việc hòa giải phải bảo mật nội dung hòa giải trừ trường hợp các vấn đề này đã được tuyên bố công khai.

Điều 45 – 2

Trong quá trình hòa giải tranh chấp tiêu dùng, nếu các bên không đạt được thỏa thuận nhưng thu hẹp được sự khác biệt về quan điểm, các hòa giải viên phải đề xuất giải pháp và gửi cho các bên sau khi xem xét các trường hợp nhằm cân đối lợi ích giữa các bên trong phạm vi mục đích chính của các bên.

Đề xuất nêu trên phải được sự chấp thuận của hơn ½ số thành viên Hội đồng có mặt trong phiên hòa giải, và trên cơ sở đó thời hạn kháng cáo và hậu quả pháp lý của việc bác đơn kháng cáo trong thời hạn luật định theo Điều 45 – 3 phải được chỉ rõ.

Điều 45 – 3

Các bên có thể kháng cáo đề xuất giải pháp nêu tại Điều trên trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được bản đề xuất.

Trong trường hợp kháng cáo được nộp theo thời hạn quy định nêu trên, việc hòa giải coi như chưa kết thúc, nếu không có đơn kháng cáo nào trong thời hạn quy định nêu trên, việc hòa giải được coi là đã hoàn thành trên cơ sở bản đề xuất đã nêu.

Đối với việc hòa giải được thực hiện theo khoản 1 Điều này, Hội đồng hòa giải tranh chấp trong tiêu dùng phải thông báo cho các bên tham gia.

Điều 45 – 4

Nếu khoản tiền trong tranh chấp tiêu dùng mà không đáng kể thì khi một bên không có mặt tại phiên hòa giải mà không có lý do chính đáng, hòa giải viên sẽ ra quyết định mặc định trên cơ sở yêu cầu của các bên còn lại hoặc đương nhiên ra kết luận về kế hoạch giải quyết thông qua quy trình dịch vụ đến các bên.

Kế hoạch nêu trên phải được chấp thuận bởi hơn ½ Ủy viên của hội đồng hòa giải và trên cơ sở đó thời hạn kháng cáo và hậu quả pháp lý của việc bác đơn kháng cáo trong thời hạn luật định theo Điều 45 – 3 phải được chỉ rõ.

“Quy trình dịch vụ” được nêu trong khoản 1 không phải tuân theo các quy định Điều chỉnh việc công khai thông tin.

“Khoản tiền không đáng kể” mô tả trong khoản 1 Điều này được Viện Hành chính Đài Loan quy định.

Điều 45 – 5

Các bên được quyền kháng cáo kế hoạch giải quyết nêu trên trong thời hạn 10 ngày xác định sau ngày nhận được kế hoạch; trong trường hợp không có kháng cáo nào được nộp trong thời hạn kháng cáo, kế hoạch được nêu được xem là đã hoàn thành.

Nếu các bên nộp đơn kháng cáo trong thời hạn kháng cáo và hòa giải viên sắp xếp lại phiên hòa giải nhưng các bên vắng mặt tại phiên hòa giải mà không có lý do chính đáng, kế hoạch đã nêu cũng được coi là hoàn thành.

Điều 46

Trong trường hợp phiên hòa giải kết thúc thành công, biên bản hòa giải phải được lập thành văn bản.

Các quy định từ Điều 22 đến Điều 26 của Quy chế hòa giải tại cấp làng, thị trấn hoặc thành phố được áp dụng với sửa đổi phù hợp về chi tiết, đối với việc thi hành và hiệu lực của biên bản hòa giải được đề cập trong khoản trước.

Mục 2 – Vụ kiện trong tiêu dùng

Điều 47

Vụ kiện trong tiêu dùng là đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của cấp Tòa án nơi phát sinh quan hệ tiêu dùng.

Điều 48

Tòa án tối cao, các Tòa án cấp dưới và các chi nhánh trực thuộc được thành lập các Tòa án chuyên xét xử các vụ kiện trong tiêu dùng hoặc bổ nhiệm các thẩm phán chuyên trách xem xét các vụ kiện trong tiêu dùng.

Nếu Tòa án ra phán quyết bất lợi cho doanh nghiệp kinh doanh thì Tòa án đương nhiên được quyền ra quyết định thực thi tạm thời mà không cần bảo đảm hoặc có bảo đảm giảm nhẹ.

Điều 49

Tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thành lập sau 3 năm kể từ thời điểm được phê chuẩn, đạt được các tiêu chuẩn xuất sắc của Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng, duy trì được một khối lượng nhân viên đặc biệt giải quyết công tác bảo vệ người tiêu dùng, và đáp ứng các Điều kiện sau đây, trên cơ sở sự phê chuẩn thanh tra tiêu dùng, có thể được đại diện đòi bồi thường thiệt hại cho khách hàng phù hợp với quy định tại Điều 50 hoặc yêu cầu đối với các trường hợp thiếu sót theo quy định tại Điều 53.

1. Một hiệp hội thành lập với một người đại diện theo pháp luật và có hơn 500 thành viên; hoặc

2. Một quỹ được thành lập với một người đại diện và có tổng số vốn đăng ký từ 10 triệu Đài tệ trở lên.

Nếu nhóm bảo vệ người tiêu dùng đáp ứng các Điều kiện trên, tiến hành khởi kiện, họ có thể thuê luật sư đại diện. Luật sư tham gia vụ việc có quyền yêu cầu hoàn trả các chi phí cần thiết nhưng không được yêu cầu bất kỳ khoản bồi thường nào từ vụ kiện.

Nếu nhóm bảo vệ người tiêu dùng đã nêu ở đoạn đầu của Điều luật thực hiện bất kỳ một hành vi trái pháp luật nào liên quan đến vụ kiện, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động sẽ được quyền thu hồi quyết định phê chuẩn hoạt động của tổ chức.

Điều 50

Trong trường hợp một số lượng lớn người tiêu dùng bị thiệt hại trong cùng một vụ việc thì nhóm bảo vệ người tiêu dùng được quyền nhận đơn khiếu nại của 20 người tiêu dùng trở lên và đại diện khởi kiện. Người tiêu dùng có thể từ chối quyền khiếu nại này trước khi chấm dứt tranh luận bằng lời nói, trong trường hợp đó họ phải thông báo đến Tòa án.

Trong trường hợp nói trên, nếu một số khách hàng từ bỏ quyền khiếu nại của họ và do đó những người chịu thiệt hại trong vụ kiện đã nêu ít hơn 20 người thì chức năng đại diện của nhóm bảo vệ người tiêu dùng không bị ảnh hưởng.

Quyền khiếu nại đã nêu trong khoản trước bao gồm cả quyền đối với các thiệt hại không bằng tiền được nêu tại Điều 194 và Điều 195, khoản 1, Bộ luật Dân sự.

Thời hạn pháp lý đối với việc đồi bồi thường thiệt hại nêu trong khoản trước của người tiêu dùng được xác định riêng biệt đối với mỗi người tiêu dùng thực hiện khiếu nại.

Sau khi làm nhiệm vụ khiếu nại theo quy định tại khoản trên, nhóm bảo vệ người tiêu dùng phải chuyển bảng tính toán tiền bồi thường thiệt hại mà người tiêu dùng đã khiếu nại được nhận do kết quả vụ kiện bằng cách khấu trừ các chi phí cần thiết cho vụ kiện, và phí thuê luật sư quy định tại khoản 2, Điều luật trước.

Nhóm bảo vệ người tiêu dùng không được yêu cầu tiền thưởng từ phía người tiêu dùng trong vụ kiện đã nêu trong khoản đầu tiên.

Điều 51

Trong một vụ kiện được tiến hành theo đúng quy định pháp luật, người tiêu dùng được quyền yêu cầu số tiền phạt bồi thường cao gấp ba lần tổng thiệt hại thực tế xảy ra do hành vi cố ý hoặc yếu kém của doanh nghiệp kinh doanh, tuy nhiên nếu thiệt hại gây ra do sơ suất, số tiền phạt bồi thường được yêu cầu chỉ tương đương với tổng thiệt hại thực tế xảy ra.

Điều 52

Nếu nhóm bảo vệ người tiêu dùng đại diện khởi kiện theo quy định tại Điều 50, phần phí Tòa án cho vụ kiện vượt quá 600,000 Đài tệ sẽ được miễn.

Điều 53

Thanh tra tiêu dùng hoặc nhóm bảo vệ người tiêu dùng được quyền kiến nghị Tòa án ra quyết định chấm dứt hoặc ngăn cấm các hành vi của doanh nghiệp kinh doanh vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật này liên quan đến bảo vệ người tiêu dùng.

Phí Tòa án cho vụ kiện trong trường hợp nêu ở khoản trước sẽ được miễn trừ.

Điều 54

Nếu một lượng lớn các bên bị thiệt hại không thuộc một quan hệ tiêu dùng cùng cử một hoặc một số người đại diện khởi kiện yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Tố tụng Dân sự, thì Tòa án sẽ thông báo công khai sau khi nhận được sự chấp thuận của một hoặc nhiều người đại diện được lựa chọn, trên cơ sở đó các bên bị thiệt hại, trong một thời hạn xác định, phải lập văn bản ghi cụ thể sự việc thực tế, bằng chứng và quyết định khởi kiện đối với những thiệt hại phải gánh chịu và yêu cầu giải quyết bồi thường trong cùng một vụ kiện. Những người đại diện khởi kiện được coi là lựa chọn phù hợp với quy định tại Điều 41 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Bản sao các giấy tờ liên quan đến sự liên kết của các bên và tuyên bố nêu trong bản sao sẽ được gửi cho cả bên nguyên đơn và bên bị đơn trong vụ kiện.

Thời hạn quy định trong khoản 1 Điều này không được ít hơn 10 ngày. Thông báo công khai phải được đính kèm trên Bảng thông báo tại trụ sở Tòa án và được đăng trên báo với kinh phí do Ủy ban tài chính chi trả.

Điều 55

Quy định tại Điều 48 và 49 của Bộ luật tố tụng Dân sự sẽ được áp dụng với những sửa đổi, bổ sung thích hợp về chi tiết trong trường hợp vụ kiện nêu trong Điều luật trước.

Chương VII – Hình phạt

Điều 56

Cá nhân vi phạm các quy định tại Điều 24, 25 hoặc 26 và không thực hiện các hành vi sửa chữa do cơ quan có thẩm quyền yêu cầu trong thời hạn do cơ quan có thẩm quyền quy định, sẽ bị xử phạt hành chính với số tiền phạt từ 20,000 Đài tệ đến 200,000 Đài tệ.

Điều 57

Doanh nghiệp kinh doanh từ chối, phá hỏng hoặc ngăn cản cuộc Điều tra do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo quy định tại Khoản 3, Điều 17, Điều 33 hoặc Điều 38 sẽ bị xử phạt hành chính với số tiền phạt từ 30,000 Đài tệ đến 300,000 Đài tệ và có thể bị xem xét liên tục.

Điều 58

Doanh nghiệp kinh doanh vi phạm yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo Điều 36 hoặc Điều 38 sẽ bị xử phạt hành chính với số tiền phạt từ 60,000 Đài tệ đến 1,500,000 Đài tệ và có thể bị xem xét liên tục.

Điều 59

Doanh nghiệp kinh doanh thuộc trường hợp nêu tại Điều 37, đồng thời thực hiện các hành vi quy định tại Điều 37 và Điều 36 thì cơ quan có thẩm quyền cũng được quyền xử phạt hành chính đối với doanh nghiệp với số tiền phạt từ 150,000 Đài tệ đến 1,500,000 Đài tệ.

Điều 60

Trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh vi phạm nghiêm trọng các quy định của Luật này, cơ quan có thẩm quyền cấp chính quyền trung ương hoặc Ủy ban bảo vệ người tiêu dùng của Viện Hành chính Đài Loan được quyền phê chuẩn quyết định đình chỉ hoạt động hoặc tạm ngừng kinh doanh đối với doanh nghiệp.

Điều 61

Trong trường hợp một hành vi bị xử lý vi phạm theo quy định của Luật này nhưng các trong luật khác quy định các biện pháp xử lý nặng hơn thì các quy định pháp luật khác sẽ được áp dụng, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì vụ việc sẽ ngay lập tức được chuyển sang thủ tục Điều tra hình sự.

Điều 62

Số tiền xử phạt hành chính quy định trong Luật này do cơ quan có thẩm quyền xác định, và những hành vi không nộp các khoản tiền phạt này trong thời hạn do cơ quan có thẩm quyền quy định sẽ bị Tòa án cưỡng chế thi hành theo quy định pháp luật.

Chương VII – Điều khoản phụ thuộc

Điều 63

Quy chế thực thi của Luật bảo vệ người tiêu dùng do Viện Hành chính Đài Loan quy định.

Điều 64

Luật này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: