Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

THUYẾT MINH CHI TIẾT DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

1. Giới thiệu tổng quan về dự thảo Luật Trọng tài

1.1. Kế thừa sự phát triển từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Nghị định số 25/2004/NĐ-CP, dựa trên thực tiễn hoạt động của các trung tâm trọng tài thương mại ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong hai thập kỷ từ khi thực thi Nghị định số 116/CP năm 1996 về trung tâm trọng tài kinh tế, thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã gia nhập trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập, dự thảo Luật trọng tài quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài như một phương thức nhằm giải quyết một cách hiệu quả, nhanh chóng các tranh chấp trong đời sống kinh doanh, thương mại và dân sự. Dự thảo luật Luật trọng tài gồm XIV chương với 74 điều.

1.2. Tôn trọng và bảo vệ thoả thuận của các bên dân sự giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, dự thảo Luật trọng tài nhằm vào các mục đích: (i) quy định một thủ tục tố tụng trọng tài nhanh chóng, công bằng, hiệu quả và thuận lợi, (ii) đảm bảo sự hỗ trợ hiệu quả của toà án để các hội đồng trọng tài tuân thủ đúng tố tụng, các quyết định và phán quyết của trọng tài có hiệu lực và được thi hành, (iii) tạo điều kiện cho trọng tài viên và tổ chức trọng tài phát triển trong bối cảnh Việt Nam thực thi các cam kết về thương mại dịch vụ khi hội nhập kinh tế quốc tế.

1.3. Luật trọng tài về cơ bản là một luật tố tụng riêng so với các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2005. Dựa vào quy định của Luật trọng tài này các tổ chức trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc có thể xây dựng quy tắc tố tụng cụ thể. Về từng nội dung chi tiết của dự luật, bản thuyết minh dưới đây làm rõ mục đích của quy phạm, các phương án lựa chọn và giải pháp mà Ban soạn thảo ưu tiên.

2. Phạm vi điều chỉnh và tên gọi của đạo luật

2.1. Trong quá trình soạn thảo Luật trọng tài có hai loại ý kiến về phạm vi điều chỉnh của dự luật. Nhóm ý kiến thứ nhất đề xuất giới hạn phạm vi điều chỉnh của pháp luật trọng tài trong các giao dịch thương mại của thương nhân, có xem xét mở rộng khái niệm thương mại cho phù hợp với Luật thương mại năm 2005 và các cam kết mà Việt Nam đã tham gia về thương mại quốc tế. Quan điểm này dựa trên các lập luận: thứ nhất, số lượng các vụ việc được giải quyết tại 08 trung tâm trọng tài thương mại hiện nay chưa nhiều (Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC với 140 trọng tài viên thụ lý 48 vụ trong năm 2008), khả năng và uy tín chuyên môn của các trọng tài viên của một số trung tâm cần được nâng cao hơn nữa; thứ hai, Luật mẫu của Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (Uncitral Model Law 2006) cũng nhấn mạnh thẩm quyền của trọng tài vào các tranh chấp thương mại. Vì vậy nhóm ý kiến thứ nhất này cho rằng chưa nên mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật trọng tài và xác định tên gọi của đạo luật là Luật trọng tài thương mại.

2.2. Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng cần mở rộng thẩm quyền của trọng tài cho tất cả các tranh chấp liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên phát sinh từ nghĩa vụ hợp đồng hoặc nghĩa vụ ngoài hợp đồng giữa các chủ thể dân sự. Không phân biệt tranh chấp thương mại với dân sự, tên gọi tương ứng của đạo luật là Luật trọng tài. Ban soạn thảo ưu tiên trình Quốc hội phương án thứ hai này với những lập luận dưới đây:

– Thứ nhất, trong xu hướng cải cách pháp luật và hệ thống tư pháp nhằm đảm bảo tính thống nhất, tránh chồng chéo và mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 về cơ bản đã thống nhất quy định tố tụng dân sự, kinh tế, thương mại và lao động trước đây trong một đạo luật. Thực tế giải quyết tranh chấp tại toà án và trọng tài ở Việt Nam cho thấy việc phân biệt các vụ việc tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh doanh, thương mại không dễ dàng và thuyết phục. Sự không chắc chắn này dẫn tới nhiều vụ việc không được thụ lý; nhiều bản án, phán quyết không có hiệu lực pháp lý do cơ quan giải quyết thụ lý không đúng thẩm quyền. Tham khảo kinh nghiệm lập pháp của 80 quốc gia trên thế giới cho thấy hầu hết các quốc gia đều có những đạo luật (Trung Quốc, Singapore, Thái-lan, Hoa Kỳ, Anh…) hoặc quyển luật trong các bộ luật tố tụng dân sự (Đức, Nhật, Pháp) với tên gọi là Luật trọng tài, không phân biệt tranh chấp dân sự và thương mại. Việc Uỷ ban Luật thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL) đặt tên đạo luật mẫu hạn chế về trọng tài thương mại quốc tế có lý do từ thẩm quyền được giao của chính cơ quan này được giới hạn trong pháp luật thương mại quốc tế. Nhiều quốc gia như Liên bang Nga, Singapore ban hành riêng các đạo luật về trọng tài thương mại quốc tế không có nghĩa ở các quốc gia đó trọng tài chỉ có thẩm quyền cho các việc thương mại.

– Thứ hai, khác với quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, Luật Đầu tư 2005 đã quy định các tranh chấp giữa cơ quan nhà nước Việt Nam và nhà đầu tư cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài trong và ngoài nước. Trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới mà Việt Nam đã tham gia, các tranh chấp giữa các quốc gia về chính sách thương mại cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài. Như vậy, trên thực tế nhiều tranh chấp giữa nhà nước Việt Nam với cá nhân và tổ chức nước ngoài có thể đã được giải quyết bằng trọng tài, mặc dù đó không phải là tranh chấp thương mại theo định nghĩa của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2005 và Luật thương mại 2005.

– Thứ ba, trong xu thế tăng cường quyền tự định đoạt đoạt của các bên dân sự, về cơ bản nếu các bên dân sự ưu tiên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp của họ thì ý chí đó cần được pháp luật bảo đảm, trọng tài không phải là phương thức giải quyết tranh chấp chỉ dành riêng cho giới thương nhân. Trên thực tế nhiều tranh chấp lao động cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài, mặc dù cách thức thành lập và hoạt động của hội đồng trọng tài trong pháp luật lao động có một số điểm riêng biệt.

– Thứ tư, nhiều tranh chấp ngoài hợp đồng, ví dụ đền bù thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng, hàng hải, vận tải .. cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài theo ý chí của các bên liên quan, mặc dù các tranh chấp như vậy không xuất phát từ hành vi thương mại của thương nhân.

– Thứ năm, nhiều cơ quan và tổ chức do nhà nước thành lập, mặc dù không được xem là các thương nhân, ví dụ các ban quản lý các dự án đầu tư công, các cơ sở nghiên cứu, trường học, tổ chức báo chí, truyền thông.. vẫn tham gia ngày càng nhiều vào các giao dịch mang tính dân sự, các tranh chấp giữa các chủ thể này cũng có thể được giải quyết bằng trọng tài theo ý chí của các bên.

– Thứ sáu, trọng tài hoạt động hiệu quả giúp giảm bớt công việc cho các toà án và góp phần thúc đẩy cơ hội tiệm cận công lý của người dân thông qua các thiết chế tài phán tư. Một hệ thống trọng tài mạnh và hiệu quả, hoạt động tích cực sẽ góp phần vào cải cách tư pháp, ổn định và cải thiện môi trường kinh doanh. Vì trọng tài do người dân lựa chọn, uy tín và năng lực của trọng tài sẽ được sàng lọc, phát triển thông qua cơ chế cạnh tranh.

2.3. Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 liệt kê các loại tranh chấp được xem là tranh chấp thương mại thuộc thẩm quyền của các trung tâm trọng tài hoặc hội đồng trọng tài vụ việc. Khác với phương pháp liệt kê đó, dự thảo Luật trọng tài được soạn thảo theo phương pháp loại trừ, liệt kê những loại tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài. Đối tượng tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài là những tranh chấp mà Nhà nước có nhu cầu phải tham gia để bảo vệ các lợi ích công cộng hoặc trong điều kiện hiện nay do tính phức tạp và nhạy cảm của chúng chưa nên chuyển giao cho các thiết chế tài phán tư để giải quyết, ví dụ các tranh chấp lao động tập thể, các tranh chấp liên quan đến phá sản, các tranh chấp liên quan đến đất đai, các tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, đến quan hệ hôn nhân và gia đình, các tranh chấp hành chính.

2.4. Luật Trọng tài quy định tổ chức và hoạt động của trọng tài trong nước, văn phòng và chi nhánh trọng tài nước ngoài hoạt động tại ViệtNam. Một phán quyết trọng tài vẫn được coi là phán quyết của trọng tài trong nước, nếu phán quyết đó do một hội đồng trọng tài được thành lập theo pháp luật Việt Nam xem xét và tuyên ở nước ngoài. Việc công nhận và cho thi hành các quyết định, phán quyết của trọng tài nước ngoài tuân thủ theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005.

3. Chương I: Những quy định chung

3.1. Chương I: Những quy định chung gồm 13 điều. Ngoài phạm vi điều chỉnh được xác định như trên, chương này có những quy định mang tính nguyên tắc cơ bản dưới đây đối với việc tổ chức và hoạt động của trọng tài.

3.2. Thứ nhất, dự thảo Luật kế thừa các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đã được quy định trong Nghị định số 116/CP năm 1996 và Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, theo đó việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phải dựa trên thoả thuận trọng tài, việc giải quyết bằng trọng tài không công khai, phán quyết trọng tài là chung thẩm, và nhấn mạnh nếu đã có thoả thuận trọng tài thì toà án phải từ chối thụ lý. Dự thảo cũng nhấn mạnh quyền của các bên tranh chấp tự do thoả thuận ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài, ví dụ tiếng Việt hoặc một ngôn ngữ khác mà các bên lựa chọn (Điều 10). Trong bối cảnh Luật hoà giải đang được soạn thảo, các vấn đề chi tiết về thủ tục hoà giải sẽ được Luật hoà giải quy định. Dự thảo Luật trọng tài có một quy định tại Điều 7, quy định những quan hệ liên quan giữa thủ tục hoà giải và tố tụng trọng tài, trong đó ghi nhận tính không công khai của thủ tục hoà giải. Mọi thông tin trao đổi trong quá trình hoà giải sẽ không được coi là chứng cứ tại trọng tài; nếu hoà giải không thành các hoà giải viên về nguyên tắc không được chỉ định làm trọng tài, nếu các bên không có thoả thuận khác.

3.3. Thứ hai, hoạt động của trọng tài sẽ phát triển mạnh nếu nhận được hỗ trợ hiệu quả từ các cơ quan tư pháp, nhất là các toà án. Một mặt dự thảo xác định toà án nào có thẩm quyền hỗ trợ trọng tài (Điều 8), mặt khác dự thảo cũng giới hạn hoạt động hỗ trợ của toà án trong 7 loại hoạt động cụ thể như: hỗ trợ thu thập chứng cứ, bảo đảm sự có mặt của người làm chứng, hỗ trợ áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định, thay đổi trợng tài viên, tuyên thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc giải quyết yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài (Điều 9). Đây sẽ là những điểm mấu chốt giúp phát huy được những lợi thế của trọng tài với tư cách một hình thức tài phán tư linh hoạt, nhanh gọn, bí mật và thuận tiện do các bên dân sự tự do lựa chọn, song nhận được sự giúp đỡ, bảo trợ của cơ quan tư pháp.

3.4. Dự thảo kế thừa các quy tắc của tư pháp quốc tế, theo đó hội đồng trọng tài sẽ áp dụng pháp luật phù hợp nhất trong các tranh chấp có yếu tố nước ngoài. Điều 12 của dự thảo nhấn mạnh quyền của hội đồng trọng tài có thể áp dụng thông lệ, tập quán để giải quyết việc tranh chấp, nếu việc áp dụng các quy tắc đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam (nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam được hiểu như trật tự công cộng được thừa nhận ở Việt Nam).

4. Chương II : Thoả thuận trọng tài

4.1. Khác với tố tụng toà án, tố tụng trọng tài chỉ được tiến hành khi có thoả thuận trọng tài được xác lập có hiệu lực giữa các bên tranh chấp. Vì vậy, nội dung này được quy định trong một chương riêng, làm cơ sở cho toàn bộ thủ tục tố tụng trọng tài. Không có thoả thuận trọng tài thì không có tố tụng trọng tài.

4.2. Chương II: Thoả thuận trọng tài gồm 4 điều. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo Luật trọng tài quy định thoả thuận trọng tài phải được xác lập bằng văn bản và cụ thể hoá những tình huống ý chí thoả thuận của các bên được xem là đã được ghi nhận bằng văn bản. Quy định này của điều 14 của dự thảo giải thích rõ nghĩa khái niệm “được xác lập bằng văn bản” và bảo vệ một cách hợp lý nhất ý chí trung thực của các bên khi xác lập thoả thuận trọng tài.

4.3. Khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 về các tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài, điều 16 của dự thảo giới hạn 5 tình huống theo đó thoả thuận trọng tài vô hiệu: thứ nhất, do lĩnh vực tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài; thứ hai, do người xác lập thoả thuận không có năng lực đại diện; thứ ba, do các bên tham gia thoả thuận thiếu năng lực hành vi;thứ tư, do vi phạm về hình thức thoả thuận phải được xác lập bằng văn bản; thứ năm, do các bên bị đe doạ, cưỡng ép, lừa dối mà không thể tự nguyện bày tỏ ý chí của mình.

4.4. Theo Dự thảo Luật trọng tài (Điều 15), đối với các tranh chấp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng, dù đã được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà sản xuất/cung ứng cung cấp sẵn, thoả thuận trọng tài chỉ có hiệu lực nếu được người tiêu dùng xác nhận bằng một văn bản riêng. Thông thường so với các doanh nghiệp, người tiêu dùng thường ở một vị trí có nhiều nguy cơ bị lạm dụng bởi các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng in sẵn của người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ, do vậy cần có quy định để bảo vệ họ trong các tình huống cần thiết. Cách thiết kế quy định này đảm bảo tính linh hoạt, theo đó nếu người tiêu dùng hài lòng với điều khoản trọng tài, tranh chấp vẫn được giải quyết bằng trọng tài như hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng in sẵn. Ngược lại, nếu cảm thấy thiệt thòi bởi thoả thuận đó, người tiêu dùng cần có cơ hội để xem xét và quyết định, nếu đồng ý với thoả thuận trọng tài thì xác nhận vào một văn bản riêng. Đây là một quy định riêng của Luật trọng tài nhằm bảo vệ người tiêu dung, bổ sung cho các nguyên tắc chung khác đang được xây dựng trong dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

5. Chương III: Trọng tài viên

5.1. Trọng tài viên là người tham gia hội đồng trọng tài. Chương III gồm 3 điều, quy định về tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ cũng như tổ chức hiệp hội của các trọng tài viên. Về nguyên tắc, trọng tài viên do các bên đương sự tự chọn dựa trên niềm tin của họ vào tính chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn, uy tín của các cá nhân đó. Cũng như vậy, các tổ chức trọng tài khi bổ nhiệm các cá nhân vào danh sách trọng tài viên cũng tự xác định các tiêu chuẩn để bảo vệ uy tín cho tổ chức của mình. Vì vậy, trên thực tế trọng tài viên được chọn qua quá trình sàng lọc mang tính xã hội này. Qua nghiên cứu so sánh, do đặc điểm của nền kinh tế chuyển đổi, chỉ có pháp luật về trọng tài của Trung Quốc và Việt Nam và một số ít nước khác mới có các quy định về tiêu chuẩn trọng tài viên.

5.2. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo Luật trọng tài vẫn có các quy định về tiêu chuẩn tối thiểu nhằm hình thành một đội ngũ trọng tài viên có năng lực, có tính chuyên nghiệp, có chuyên môn và uy tín xã hội cao ở Việt Nam.

5.3. Khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo Luật trọng tài không yêu cầu trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam. Người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ. Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế.

5.4. Dự thảo quy định mang tính nguyên tắc định hướng về quyền và nghĩa vụ của trọng tài viên. Trên thực tế, quy tắc nghề nghiệp và đạo đức trọng tài viên sẽ được quy định bởi từng tổ chức trọng tài và hiệp hội trọng tài.

6. Chương IV: Tổ chức trọng tài

6.1. Trong tố tụng trọng tài, hội đồng trọng tài mới đóng vai trò chủ chốt, tổ chức trọng tài và bộ máy thư ký thường chỉ cung cấp các dịch vụ mang tính văn phòng. Bởi vậy những vấn đề liên quan đến tổ chức trọng tài, ví dụ như: tên gọi của các tổ chức này (viện trọng tài, uỷ ban trọng tài, trung tâm trọng tài, toà án trọng tài…), bộ máy giúp việc (chủ tịch, tổng thư ký), cách quy định về lệ phí, cách tống đạt văn bản .. thường được quy định bởi tập tục của từng tổ chức trọng tài, mà ít trở thành đối tượng điều chỉnh trong pháp luật trọng tài của các nước. Tuy nhiên, do điều kiện của một quốc gia đang chuyển đổi, kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo có chương IV quy định về tổ chức trọng tài. Chương này gồm 7 điều, về nguyên tắc không thay đổi các quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003.

6.2. Dự thảo Luật trọng tài vẫn giữ nguyên quan điểm của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, theo đó việc thành lập và hoạt động của các tổ chức trọng tài cần được các cơ quan nhà nước hỗ trợ và giám sát chặt chẽ, bởi đây là tập hợp của những hội đồng trọng tài có chức năng giải quyết tranh chấp mà phán quyết của họ có hiệu lực như một bản án của toà án tư pháp. Điều kiện, thủ tục đăng ký hoạt đông, công bố thành lập và báo cáo hoạt động được quy định trong các điều 21-23 của dự thảo.

6.3. So với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo Luật trọng tài chỉnh sửa, bổ sung một số nội dung dưới đây:

– Thứ nhất, tên gọi của tổ chức trọng tài có thể đa dạng (xem khoản 7 điều 3 dự thảo), có thể là viện trọng tài, uỷ ban trọng tài, trung tâm trọng tài. Điều này phản ánh sự đa dạng của các cơ quan bảo trợ thành lập cũng như các thế mạnh hay đặc trưng riêng của từng tổ chức trọng tài.

– Thứ hai, quy định hoạt động giải quyết tranh chấp của tổ chức trọng tài là phi lợi nhuận, thu nhập của tổ chức trọng tài không được chia như cổ tức cho các trọng tài viên. Các trọng tài viên chịu thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật thuế đối với thù lao từ hoạt động trọng tài, nhưng tổ chức trọng tài được miễn thuế cho các hoạt động mang tính phi lợi nhuận của mình.

– Thứ ba, dự thảo Luật trọng tài cho phép các tổ chức trọng tài nước ngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diện hay hoạt động tại Việt Nam theo các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

6.4. Ngoài hoạt động phục vụ các hội đồng trọng tài trong tổ chức của mình, để hỗ trợ các hội đồng trọng tài được thành lập theo vụ việc (ad hoc), dự thảo Luật trọng tài nhấn mạnh quyền của các tổ chức trọng tài trong việc cung cấp dịch vụ hành chính, văn phòng và các dịch vụ khác hỗ trợ giải quyết tranh chấp (khoản 5, điều 25 dự thảo). Các tổ chức trọng tài cũng có thể tham gia hoạt động hoà giải hoặc thành lập các đơn vị thực hiện nhiệm vụ hoà giải như một kênh giải quyết tranh chấp lựa chọn bên cạnh tố tụng trọng tài.

7. Chương V: Khởi kiện, thụ lý vụ tranh chấp

7.1. Chương V: Khởi kiện, thụ lý vụ tranh chấp gồm 7 điều, quy định về khởi kiện và thụ lý, giai đoạn đầu tiên của tố tụng trọng tài.

7.2. So với Pháp lệnh trọng tài năm 2003, dự thảo Luật trọng tài quy định rõ hơn những điểm dưới đây:

– Thứ nhất, xác định tố tụng trọng tài bắt đầu từ khi tổ chức trọng tài nhận đơn kiện và tạm ứng phí trọng tài, hoặc từ khi bị đơn nhận được đơn kiện của nguyên đơn nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài vụ việc (điều 29, dự thảo). Thời điểm này có ý nghĩa quan trọng, nhất là để xác định xem vụ tranh chấp có còn thời hiệu giải quyết hay không.

– Thứ hai, phí trọng tài do tổ chức trọng tài ấn định hoặc do hội đồng trọng tài ấn định nếu vụ việc được giải quyết bởi trọng tài vụ việc.

– Thứ ba, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp do các bên thoả thuận; nếu các bên không thoả thuận thì do hội đồng trọng tài quyết định.

– Thứ tư, nếu bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài, không có thoả thuận trọng tài hoặc thoả thuận trọng tài vô hiệu thì phải nêu trong bản tự bảo vệ đó (khoản 4, điều 34 dự thảo). Quyền khiếu nại của bị đơn có thể nêu tại bản tự bảo vệ, có thể được lập thành một văn bản riêng, và vẫn được thực hiện kể cả trong trường hợp bên khiếu nại đã chọn trọng tài viên (khoản 3 điều 41 dự thảo). Tuy nhiên nếu biết rằng mình có quyền khiếu nại mà đương sự không thực hiện quyền đó, không phản đối thẩm quyền của trọng tài, vẫn tham gia các thủ tục tố tụng khác, thì đương sự đó được xem như khước từ quyền khiếu nại (điều 69 dự thảo). Quy định này nhằm tránh bội tín và loại trừ các hành vi mâu thuẫn của một bên đương sự trong thủ tục tố tụng trọng tài.

7.3. Dự thảo quy định thời hiệu khởi kiện giải quyết vụ tranh chấp bằng trọng tài là hai năm. Các bên có quyền thoả thuận về việc xác định thời điểm bắt đầu của thời hiệu. Nếu các bên không có thoả thuận, thời điểm đó được xác định theo các quy định của Bộ luật dân sự.

8. Chương VI, VII: Hội đồng trọng tài

8.1. Chương VI quy định về thành lập hội đồng trọng tài gồm 6 điều, chương VII quy định về thẩm quyền của hội đồng trọng tài gồm 4 điều; cả hai chương này đều quy định về hội đồng trọng tài. Tuỳ theo phương thức hoạt động của trọng tài là trọng tài vụ việc (ad hoc) hay trọng tài quy chế dưới hình thức các tổ chức trọng tài, cách thức thành lập hội đồng trọng tài có một số điểm khác nhau, song thẩm quyền của các hội đồng này về cơ bản là giống nhau.

8.2. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo quy định hội đồng trọng tài có thể gồm một hoặc nhiều thành viên, song ấn định rõ nếu các bên đương sự không thoả thuận khác, thì hội đồng gồm ba thành viên (điều 35 dự thảo). Nếu các bên lựa chọn một trọng tài viên duy nhất thì trọng tài viên duy nhất đó làm việc như một hội đồng trọng tài.

8.3. Dự thảo quy định rõ hơn quy trình thành lập hội đồng trọng tài đối với trọng tài vụ việc (điều 37 dự thảo). Quy trình đó như sau:

– Nguyên đơn phải nêu tên và địa chỉ của người được nguyên đơn chọn làm trọng tài viên trong đơn kiện gửi cho bị đơn (điểm g, khoản 2, điều 28, dự thảo).

– Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chọn trọng tài viên và thông báo cho nguyên đơn biết trọng tài viên mà mình chọn (khoản 1 điều 37 dự thảo).

– Hết thời hạn này, nếu bị đơn không thông báo cho nguyên đơn tên trọng tài viên mà mình đã chọn, nếu các bên đã thoả thuận yêu cầu một tổ chức trọng tài chỉ định trọng tài viên, thì tổ chức trọng tài này sẽ chỉ định trọng tài viên cho bị đơn. Nếu không có thoả thuận, toà án có thẩm quyền sẽ chỉ định trọng tài viên cho bị đơn.

– Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày được chỉ định, hai trọng tài viên này bầu một trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng trọng tài.

– Hết thời hạn trên mà hai trọng tài viên không bầu được người thứ ba làm chủ tịch hội đồng thì tổ chức trọng tài theo thoả thuận hoặc toà án có thẩm quyền sẽ chỉ định trọng tài viên thứ ba làm chủ tịch hội đồng.

8.4. Về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, dự thảo quy định hai nội dung chính, thứ nhất về phạm vi thẩm quyền giải quyết việc tranh chấp, thứ hai những thẩm quyền cụ thể của hội đồng như thẩm quyền về chứng cứ và các biện pháp khẩn cấp tạm thời. Hội đồng trọng tài có thể quyết định, tự mình hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của mình. Nếu phát hiện hội đồng trọng tài vượt quá thẩm quyền, các bên có nghĩa vụ khiếu nại ngay sau khi phát hiện được sự kiện này. Nếu không đồng ý với quyết định về thẩm quyền của hội đồng trọng tài, các bên có quyền yêu cầu toà án xem xét lại quyết định của hội đồng trọng tài. Quyết định của toà án trong trường hợp này và quyết định cuối cùng.

8.5. Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu hồ sơ vụ tranh chấp, hội đồng trọng tài có quyền nghe một bên trình bày ý kiến với sự có mặt của bên kia hoặc sau khi đã thông báo cho bên kia. Cũng như vậy, với sự có mặt hoặc sau khi đã thông báo cho các bên, hội đồng trọng tài có thể tìm hiểu sự việc từ người thứ ba (điều 42 dự thảo).

8.6. Thẩm quyền của hội đồng trọng tài áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời là một nội dung có nhiều ý kiến khác nhau trong quá trình soạn thảo dự luật. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng chỉ có toà án mới có thẩm quyền ban hành các biện pháp khẩn cấp tạm thời khi cần thiết. Bởi vậy nên giữ nguyên các quy định hiện hành của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, theo đó nếu các bên và hội đồng trọng tài yêu cầu thì toà án có thể xem xét cho áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, ngoài thẩm quyền hỗ trợ đương nhiên của toà án, kể cả hỗ trợ bằng cách cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hội đồng trọng tài cũng có quyền ban hành một số biện pháp buộc các bên duy trì, khôi phục hiện trạng tranh chấp, tiến hành các biện pháp bảo quản tài sản cần thiết đảm bảo cho việc thi hành phán quyết, bảo quản chứng cứ liên quan hay bảo quản tài sản liên quan đến tranh chấp. Ban soạn thảo ưu tiên đề xuất phương án thứ hai, theo đó bên cạnh thẩm quyền đương nhiên của toà án, hội đồng trọng tài cũng có quyền buộc các bên áp dụng sáu biện pháp khần cấp tạm thời như được quy định tại khoản 1 điều 44 dự thảo.

9. Chương VIII: Thẩm quyền của toà án đối với trọng tài

9.1. Chương VIII: Thẩm quyền của toà án đối với trọng tài bao gồm 4 điều, trong đó 3 điều là hoàn toàn mới và một điều có sửa đổi cơ bản so với quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Các quy định này nhằm thể hiện sự hỗ trợ của toà án đối với tố tụng trọng tài trong việc thu thập chứng cứ, đảm bảo sự có mặt của người làm chứng cũng như quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo yêu cầu của một bên đương sự, trước hoặc sau khi khởi kiện tại trọng tài.

9.2. Để thống nhất xác định thẩm quyền của toà án có trách nhiệm hỗ trợ trọng tài trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, dự thảo đã có một quy định chung về toà án có thẩm quyền đối với trọng tài tại điều 8 của dự thảo. Theo quy định đó, toà án có thẩm quyền là toà án nhân dân cấp tỉnh theo thứ tự ưu tiên sau đây:

– Thứ nhất, là toà án theo sự thoả thuận của các bên, nếu các bên có thoả thuận;

– Thứ hai, là toà án nơi hội đồng trọng tài tiến hành phiên xét xử;

– Thứ ba, là toà án nơi trọng tài thụ lý vụ việc;

– Thứ tư, là toà án nơi có tài sản tranh chấp.

Hội đồng trọng tài, trong trường hợp cụ thể, theo thứ tự ưu tiên kể trên, có thể xác định toà án có thẩm quyền hỗ trợ trọng tài.

9.3. Trong toàn bộ tố tụng trọng tài, thẩm quyền của trọng toà án đối với trọng tài rộng hơn phạm vi được quy định trong bốn điều của Chương VIII, ví dụ toà án hỗ trợ trong việc chỉ định trọng tài viên, toà án quyết định các khiếu nại về thẩm quyền trọng tài như đã trình bày ở trên. Cũng như vậy, sau quá trình tố tụng trọng tài, toà án có thẩm quyền xem xét các khiếu kiện về phán quyết trọng tài, tiến hành đăng ký hoặc lưu giữ các phán quyết của trọng tài vụ việc nếu các bên yêu cầu, (khoản 2, điều 59). Tuy nhiên trong quá trình tố tụng, chứng cứ đóng một vai trò rất quan trọng, nếu thiếu sự hỗ trợ của toà án thì các hội đồng trọng tài khó có thể hoạt động hiệu quả trong thu thập chứng cứ và đảm bảo sự có mặt của người làm chứng.

9.4. Đối với biện pháp khẩn cấp tạm thời, dự thảo quy định, mặc dù vụ kiện chưa được thụ lý tại trọng tài hoặc hội đồng trọng tài chưa được thành lập, các bên vẫn có quyền yêu cầu toà án cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, điều 48 dự thảo. Quy định này bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp, đảm bảo thực thi phán quyết của trọng tài sau này. Đây là một thay đổi đáng kể so với quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài năm 2003.

9.5. Sau khi hội đồng trọng tài được thành lập, về nguyên tắc các bên có quyền yêu cầu hội đồng trọng tài hoặc yêu cầu toà án có thẩm quyền cho áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quy định này tạo cơ hội cho đương sự quyền tự chọn.

10. Chương IX: Phiên họp giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài

10.1. Chương IX: Phiên họp giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài gồm sáu điều, về cơ bản kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. So với các quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, dự thảo Luật trọng tài có một số điểm sửa đổi, bổ sung như sau:

– Thứ nhất, về địa điểm tiến hành phiên họp giải quyết tranh chấp, như đã được quy định tại điều 33 của dự thảo, các bên có quyền thoả thuận về địa điểm giải quyết việc tranh chấp, bao gồm địa điểm diễn ra phiên họp sao cho thuận tiện cho các bên, kể cả họp ở nước ngoài. Nếu các bên không thoả thuận thì hội đồng trọng tài quyết định. Đây là một thay đổi đáng kể so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, bởi khi quyết định về địa điểm, hội đồng trọng tài không bị ràng buộc bởi điều kiện phải chọn địa điểm thuận tiện đối với các bên. Trên thực tế, khi các bên đã có tranh chấp, các điều kiện như vậy trở nên khó đáp ứng. Nếu họp và phán quyết ở nước ngoài, phán quyết của hội đồng trọng tài vẫn được xem là phán quyết của trọng tài trong nước, xem điều 68 của dự thảo.

– Thứ hai, về ngôn ngữ tiến hành phiên giải quyết tranh chấp, dự thảo cũng quy định giành quyền thoả thuận cho các bên, nếu các bên không thoả thuận thì quyền quyết định thuộc về hội đồng trọng tài, không ấn định ngôn ngữ tiếng Việt cho mọi hội đồng trọng tài, điều 10 dự thảo.

– Thứ ba, dự thảo quy định linh hoạt hơn về thủ tục hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp. Theo đó, nếu có yêu cầu bằng văn bản của một bên nhận được chậm nhất là bày ngày trước ngày mở phiên họp, hội đồng trọng tài xem xét quyết định hoãn phiên họp giải quyết tranh chấp, điều 52 dự thảo.

10.2. Về mặt ngôn ngữ thể hiện liên quan đến phiên họp giải quyết tranh chấp của hội đồng trọng tài có hai nhóm ý kiến. Nhóm thứ nhất cho rằng nên dùng khái niệm phiên xét xử của hội đồng trọng tài để nhấn mạnh tính chất tài phán tư của trọng tài cũng như làm rõ ý nghĩa của phiên xét xử này so với những phiên họp khác của hội đồng trọng tài. Nhóm ý kiến thứ hai yêu cầu vẫn giữ nguyên cách hành văn của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003. Ban soạn thảo ưu tiên đề xuất phương án hai, bởi lẽ căn cứ vào Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 chỉ có toà án mới có thẩm quyền xét xử trên lãnh thổ Việt Nam.

11. Chương X: Phán quyết trọng tài

11.1. Chương X: Phán quyết trọng tài gồm 5 điều, về cơ bản kế thừa các quy định tương ứng của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 với một số điểm sửa đổi, bổ sung đáng kể dưới đây:

– Thứ nhất, để phân biệt với các quyết định khác của hội đồng trọng tài trong toàn bộ quy trình tố tụng, phán quyết là quyết định cuối cùng về nội dung đơn kiện sau khi hội đồng trọng tài đã nghiên cứu hồ sơ, thu thập chứng cứ, lấy lời khai nhân chứng, nghe các bên, tranh luận giữa các trọng tài viên và bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số.

– Thứ hai, dự thảo bổ sung trường hợp nếu không đạt được đa số thì phán quyết được lập theo ý kiến của chủ tịch hội đồng trọng tài, (khoản 2 điều 55 dự thảo).

– Thứ ba, phán quyết trọng tài phải có chữ ký của các trọng tài viên, song nếu có một trọng tài từ chối không ký vào phán quyết thì chủ tich hội đồng trọng tài ghi việc đó trong phán quyết. Trong trường hợp này phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực.

– Thứ tư, nếu phán quyết trọng tài có lỗi tính toán hay lỗi kỹ thuật khác, một bên có thể yêu cầu hội đồng trọng tài sửa những lỗi đó. Kể cả trong trường hợp phán quyết của hội đồng trọng tài có những lỗi có thể dẫn tới việc bị toà án xem xét huỷ phán quyết, toà án tự mình hoặc theo yêu cầu của một bên, cũng có thể tạo điều kiện cho hội đồng trọng tại cơ hội để chỉnh sửa các lỗi đó theo quy định của khoản 6 điều 63 của dự thảo.

11.2. …

12. Chương XI: Huỷ phán quyết trọng tài

12.1. Chương XI: Huỷ phán quyết trọng tài gồm 5 điều, về cơ bản kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 với những chỉnh sửa và bổ sung cơ bản dưới đây:

– Thứ nhất, Ban soạn thảo đã tiến hành rà soát các căn cứ để toà án có thể huỷ phán quyết trọng tài và quy định một cách minh bạch thành bốn loại căn cứ tại điều 60 của dự thảo. Các căn cứ không rõ ràng trước đây, ví dụ trọng tài viên đã vi phạm nghĩa vụ trọng tài, đã được lược bỏ. Về nguyên tắc phán quyết trọng tài là chung thẩm, không có các phiên xét xử phúc thẩm, tái thẩm hay giám đốc thẩm đối với nội dung phán quyết trọng tài. Nếu có yêu cầu của một bên, giới hạn trong các căn cứ được liệt kê tại điều 60, Toà án có quyền xem xét lại sự tồn tại hay hiệu lực của thoả thuận trọng tài, thành phần của hội đồng trọng tài, sự tuân thủ các quy định của tố tụng trọng tài và tuyên huỷ phán quyết của trọng tài. Toà án, về nguyên tắc không có quyền can thiệp vào nội dung xét xử của hội đồng trọng tài, xem khoản 3 điều 63 dự thảo.

– Thứ hai, điều 61 dự thảo Luật trọng tài đã giới hạn lại quyền yêu cầu huỷ phán quyết trọng tài không phải trong các trường hợp không đồng ý với phán quyết trọng tài như cách thể hiện trong Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, mà bắt buộc bên yêu cầu phải có đủ căn cứ để chứng minh được rằng hội đồng trọng tài đã ra phán quyết thuộc một trong bốn trường hợp quy định tại điều 60 của dự thảo.

12.2. …

13. Chương XII: Thi hành phán quyết trọng tài

13.1. Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005 có hiệu lực, trên thực tế có một sự phân biệt giữa việc thi hành phán quyết trọng tài trong nước và phán quyết trọng tài nước ngoài. Chương XII: Thi hành phán quyết trọng tài gồm 4 điều, quy định về hiệu lực thực thi của phán quyết trọng tài trong nước. Phán quyết của trọng tài nước ngoài phải được công nhận và cho thi hành theo các thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005.

13.2. Kế thừa các quy định của Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, về nguyên tắc, phán quyết của trọng tài trong nước là chung thẩm, có hiệu lực thi hành kể từ ngày được công bố, có hiệu lực đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân phải nghiêm chỉnh thực hiện. Bên được thi hành có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án thi hành phán quyết trọng tài theo các quy định của điều 66 dự thảo Luật trọng tài, mà không cần thông qua thủ tục công nhận và cho thi hành như phán quyết của trọng tài nước ngoài.

13.3. Dự thảo đã làm rõ phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do các hội đồng trọng tài được thành lập theo pháp luật nước ngoài, kể cả trong trường hợp phiên họp giải quyết vụ tranh chấp của hội đồng đó được tiến hành tại Việt Nam. Ngược lại, được xem là phán quyết của trọng tài trong nước, nếu hội đồng trọng tài được thành lập theo Luật trọng tài của nước CHXHCN Việt Nam song phiên họp giải quyết tranh chấp lại được tiến hành ở nước ngoài.

14. Chương XIII, XIV: Những quy định khác và điều khoản thi hành

14.1. Hai chương XIII và XIV gồm sáu điều, ngoài việc kế thừa và tuân thủ các quy định về hình thức bắt buộc của các đạo luật, có bao hàm một số nội dung mới đáng kể so với Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003 như sau:

– Thứ nhất, dự luật tìm cách du nhập khái niệm giới hạn trách nhiệm của các trọng tài viên. Nếu vô tư, khách quan, tuân thủ pháp luật, không có ý làm trái, về cơ bản theo thông lệ và kinh nghiệm lập pháp của nhiều nước, trọng tài viên không phải chịu trách nhiệm đền bù cho các bên đương sự về các hành vi tham gia tố tụng trọng tài của mình. Quy định này khuyến khích các trọng tài viên độc lập trong hoạt động tố tụng. Trong bối cảnh hiện nay, ban soạn thảo đã tìm cách thể hiện tư duy pháp lý này trong điều 70 của dự thảo Luật trọng tài.

– Thứ hai, nhằm khuyến khích các bên tranh tụng ứng xử nhanh chóng để việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài được nhanh và hiệu quả, khuyến khích cách hành xử có trách nhiệm và giữ gìn uy tín, hạn chế các hành vi bội tín và hành xử mâu thuẫn trong tố tụng trọng tài, ban soạn thảo đã du nhập khái niệm khước từ quyền khiếu nại trong điều 69 của luật này. Theo quy định này một bên sẽ mất quyền khiếu nại tại trọng tài hoặc toà án, nếu biết quyền của mình bị vi phạm mà không phản đối trong thời hạn quy định bởi Luật trọng tài.

14.2. Hiện nay vẫn có một số ý kiến khác nhau về điều 71 của dự thảo liên quan đến quản lý nhà nước về trọng tài, ví dụ phải cụ thể hoá nội dung quản lý nhà nước về trọng tài bao gồm những vấn đề gì và cụ thể hoá phương thức phối hợp giữa Bộ Tư pháp và Hội Luật gia Việt Nam trong việc quản lý nhà nước về trọng tài. Ban soạn thảo ưu tiên phương án kế thừa nguyên vẹn từ Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003.

14.3. Trong điều khoản cuối cùng mang tính lập pháp uỷ quyền, dự thảo Luật quy định trách nhiệm của Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các nội dung đã được uỷ quyền cụ thể trong luật này, ví dụ về quy chế thành lập và hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện tổ chức trọng tài nước ngoài, về các căn cứ và điều kiện cho phép thành lập các tổ chức trọng tài ở Việt Nam. Những nội dung khác không được uỷ quyền thì áp dụng trực tiếp quy định của Luật trọng tài. Giới hạn này nhằm đảm bảo sự thực thi nhất quán của luật trọng tài, không bị hướng dẫn sai lệch bởi các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành đạo luật này./.

SOURCE: DIỄN ĐÀN CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trích dẫn từ: http://vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=2304

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: