CHÍNH PHỦ VỚI “HÀNG HÓA CÔNG”

C.H. LLEWELLYN SMITH

Đầu tư cho khoa học cơ bản rất tốn kém nhưng không đem lại lợi ích cho một cá nhân hay tập đoàn kinh tế, nhưng nó rất quan trọng đối với sự phát triển của cả xã hội, cho nên khoa học cơ bản được các nhà kinh tế đặt cho cái tên là “hàng hoá công”, ví dụ như ngọn hải đăng, hay một hệ thống quốc phòng. Vì vậy khoa học cơ bản chỉ có thể phát triển được khi có sự hỗ trợ của Chính phủ. Vấn đề đặt ra là Chính phủ nên đầu tư vào đâu, và ở mức độ nào?

Đầu tiên, tôi cho rằng các nước phát triển có trách nhiệm phải hỗ trợ cho khoa học cơ bản vì lợi ích tổng thể của xã hội. Thứ hai, một cơ sở nghiên cứu khoa học cơ bản nếu được duy trì hoạt động thì sẽ giúp bảo tồn và nuôi dưỡng sự phát triển công nghệ mới. Vai trò của việc làm nghiên cứu trong đào tạo các nhà khoa học – những người sau này có thể sẽ chuyển sang làm trong các ngành công nghiệp – và trong sự tạo thành mạng lưới nghiên cứu, là vô cùng quan trọng. Việc ở gần các trung tâm nghiên cứu sẽ đem lại lợi ích trực tiếp khi người ta khai thác sản phẩm nghiên cứu, và khai thác các khám phá ngoài dự kiến (những công ty ra đời từ việc tận dụng những khám phá ngoài dự kiến thường xuất hiện ở đâu đó gần các trung tâm như vậy). Chẳng phải tình cờ khi Thung lũng Silicon ở gần Đại học Stanford, hay cụm các công ty công nghệ cao ở sát thành phố Boston (đáng tiếc là không dễ tìm ra ví dụ tương tự ở châu Âu, do văn hoá kinh doanh yếu hơn ở các đại học và trung tâm nghiên cứu của châu Âu).

Tuy nhiên, ta có thể hỏi, ở nước Nhật thì sao?

Vào những năm 1980, khi người Nhật chỉ thiên về hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản phẩm hơn là khoa học cơ bản nhưng họ đã chiếm lĩnh nhiều thị trường công nghệ, kể cả những lĩnh vực rất tinh xảo như bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động (DRAM), và người ta thậm chí tự hỏi ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ liệu có cơ may sống sót. Nhưng thực tế thì ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ đã không bị diệt vong, và trong lúc người ta tiên đoán về sự lụi tàn của nó, thì các nhà nghiên cứu Mỹ từ 1989 đã làm cuộc cách mạng, tạo ra những thị trường mới với công nghệ sinh học, đa phương tiện, phần mềm máy tính, và liên lạc điện tử, … Cùng thời gian đó, nền kinh tế Nhật thụt lùi dần. Vì thế Chính phủ Nhật trong Kế hoạch Cơ bản cho Khoa học và Công nghệ, công bố vào 1996, đã dự tính tăng hỗ trợ kinh phí cho khoa học cơ bản thêm 50% trong vòng 5 năm.

Tiếp tục đọc

Advertisements

PHÁT TRIỂN CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

THS. LƯU ĐỨC KHẢI – Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

THS. HÀ HUY NGỌC – Viện Khoa học xã hội Việt Nam

Để tránh khỏi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, việc hội nhập vào kinh tế toàn cầu đòi hỏi chúng ta không chỉ đạt tốc độ tăng trưởng cao, phát triển mạnh kinh tế đối ngoại, mà còn phải phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của các ngành kinh tế mũi nhọn. Muốn vậy, từng bước hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế có tầm vóc quốc tế, tạo thế và lực để cạnh tranh trên toàn cầu.

I – Sự hình thành và phát triển tập đoàn kinh tế ở Việt Nam

Năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 91/TTg, ngày 7-3-1994, về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh dựa trên các xí nghiệp, công ty cũ. Các tổng công ty (TCT) được thiết lập trong hàng loạt các ngành, một số trường hợp các TCT chiếm toàn ngành. Tuy nhiên, hoạt động của nhiều TCT nhà nước còn thiếu năng động trong kinh doanh, chất lượng sản phẩm chưa được cải tiến đáng kể, sản lượng thấp.

Ý tưởng về những tập đoàn kinh tế (TĐKT) được Thủ tướng Chính phủ đưa ra ngay từ khi quyết định thành lập TCT 91, nhưng phải đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001), vấn đề thành lập TĐKT mới được đề cập một cách cụ thể. Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: "Hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành kinh doanh chính, chuyên môn hóa cao và giữ vai trò chi phối lớn trong nền kinh tế quốc dân…" (1).

Triển khai Nghị quyết này, tháng 11-2005, TĐKT đầu tiên của nước ta là Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TVN) ra đời và đi vào hoạt động, theo Quyết định số 198/2005/QĐ-TTg, ngày 8-8-2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc thành lập công ty mẹ. Cùng năm đó, TCT Dệt may Việt Nam cũng chuyển thành Tập đoàn Dệt may Việt Nam; TCT Bảo hiểm Việt Nam cũng được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt. Năm 2006, TCT Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT) chuyển thành Tập đoàn Bưu chính – Viễn thông Việt Nam (VNPT), TCT Dầu khí Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Đầu năm 2007, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý để TCT Thuốc lá Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Thuốc lá Việt Nam; chỉ đạo, yêu cầu Bộ Xây dựng xây dựng đề án thành lập Tập đoàn Công nghiệp xây dựng (do TCT Sông Đà làm nòng cốt), và Tập đoàn Chế tạo cơ khí nặng (do TCT Lắp máy Việt Nam làm nòng cốt); TCT Cao su Việt Nam chuyển thành Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam.

Các TĐKT đã thực hiện vai trò nòng cốt trong việc bình ổn giá cả, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững.

Trong những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân đang lớn mạnh không ngừng và hình thành những TĐKT tư nhân hùng hậu như: FPT, Hòa Phát, Trung Nguyên, Kinh Đô…Mặt khác, nhiều TĐKT lớn trên thế giới như Công ty Bảo hiểm AIA, Prudential… đã có mặt tại Việt Nam.

Tiếp tục đọc

DỌA KIỆN CHỦ ĐẦU TƯ NHÀ VÌ BỒI THƯỜNG THEO LÃI SUẤT USD

VŨ LÊ

Khách hàng mua căn hộ Ruby, dự án Saigon Pearl (quận Bình Thạnh, TP HCM) đang chuẩn bị hồ sơ khởi kiện chủ đầu tư vì giao nhà chậm 12 tháng nhưng bồi thường theo lãi suất tiền USD thay vì bằng tiền đồng. Cách làm này khiến người mua nhà bị mất vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng.

Bà Ngô Thị Nguyệt Minh, chủ căn hộ số 3104 Ruby Tower 1, dự án Saigon Pearl (quận Bình Thạnh) dự định sẽ kiện Công ty Saigon Land vì giao nhà chậm 12 tháng nhưng chủ đầu tư thông báo chỉ bồi thường theo lãi suất USD thay vì phải nộp phạt bằng tiền đồng.

Cụ thể, đối với trường hợp của bà Minh, Saigon Land chốt giá bồi thường 1.900 USD theo lãi suất tiền USD, trong khi nếu phải trả lãi suất Việt Nam đồng số tiền nộp phạt phải hơn 420 triệu đồng, chưa tính khoản tiền bồi thường thiệt hại phát sinh. Bởi bà Minh tính toán, nếu theo lãi suất tiền USD thì chỉ 4% một năm, còn lãi tiền đồng 18%, vào thời điểm năm 2008.

Bà Minh cho rằng, như vậy việc bồi thường của Saigon Land không rõ ràng, theo luật, chủ đầu tư phải trả lãi suất tiền đồng thì họ nộp lãi suất tiền USD. Hai hình thức này lãi vênh nhau những 14% một năm nên khách hàng bức xúc cho rằng mình bị thiệt hại ít nhất vài trăm triệu đồng.

Theo hợp đồng hứa mua bán khách hàng ký với Công ty Saigon Land vào năm 2005, giá trị hợp đồng tính bằng USD và quy đổi ra tiền Việt Nam đồng để thanh toán. Nếu chủ đầu tư chậm giao nhà sẽ nộp phạt khoản tiền bồi thường theo lãi suất ngân hàng tại thời điểm chậm giao nhà. Tuy nhiên, hợp đồng mua bán ký lại với khách hàng đã loại bỏ phần phụ lục về việc bồi thường, đổi lại giá trị hợp đồng là tiền Việt Nam đồng nhưng chủ đầu tư chỉ chấp nhận nộp phạt theo lãi suất tiền USD.

Cho rằng chủ đầu tư từ chối bồi thường theo lãi suất tiền Việt Nam đồng là vi phạm luật và đi ngược lại với những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng, bà Minh ủy quyền cho luật sư sẵn sàng kiện tới cùng nếu không đạt được thỏa thuận về việc này.

Tiếp tục đọc

TRẺ EM BỊ ẢNH HƯỞNG BỞI BẠO HÀNH GIA ĐÌNH: GỠ CHẤN THƯƠNG TÂM THẦN BẰNG CÁCH NÀO

QUẾ NGÂN

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vừa công bố kết quả khảo sát tình trạng bạo lực gia đình ở 8 tỉnh, thành như sau: 23% gia đình có hành vi bạo hành về thể chất; 25% gia đình có hành vi bạo hành tinh thần; 40% phụ nữ được hỏi thừa nhận phải chịu cảnh bị chồng ngược đãi, lạm dụng, cưỡng bức dưới nhiều hình thức.

Nạn nhân của tình trạng bạo hành gia đình là trẻ em và quan trọng hơn là nó đã gây chấn thương tâm thần cho trẻ ở mức trầm trọng. Điều đó thật dễ hiểu và dễ lý giải, vì sao những trẻ em sinh ra, lớn lên ở những gia đình diễn ra tình trạng bạo hành thì dễ bị trầm cảm, mặc cảm, tự ti, thậm chí hoảng hốt, sợ khi thấy người đàn ông lạ xuất hiện… Tiến sỹ tâm lý học Trần Minh Thu khẳng định: bạo hành gia đình sẽ gây chấn thương tâm thần ở trẻ, chấn thương đó có thể kéo dài suốt đời, gây ra những vết hằn sâu trong tâm trí của trẻ.

Thực tế, nếu bạn trực đường dây nóng tư vấn 18001567 chỉ một giờ đồng hồ thôi, chắc chắn bạn sẽ không thể cầm lòng bởi những câu hỏi, những lời kể thấm đẫm nước mặt của các bé gái, bé trai tuổi nhi đồng, thiếu niên. Em Nguyễn Thị Hoà (12 tuổi) ở Hà Nam, vừa nói chuyện vừa khóc trong điện thoại như sau: "Tuổi thơ của 4 chị em cháu là những ngày tháng liên tục phải chứng kiến cảnh cha đánh mẹ. Chẳng có lý do gì cha cũng đánh mẹ. Vui cũng đánh, buồn, khổ, tức giận… cũng đánh. Cha cháu là người vũ phu, gia trưởng và độc đoán. Anh trai cháu 16 tuổi, thấy cha đánh mẹ, vào can liền bị cha đánh cho một trận, lột quần áo và đuổi đi khỏi nhà. Vì thương mẹ, thương các em, anh không bỏ đi nhưng ngày càng lầm lỳ, khó hiểu. Đi làm thì không sao, về đến nhà là anh không nói gì hết. Vui, buồn, tức giận… anh đều không thể hiện cảm xúc. Cháu sợ lắm. Cha đã vậy, không thể nhờ vả được, giờ anh trai lớn bị làm sao nữa thì chắc chắn mẹ và 3 chị em cháu không sống nổi…". Rồi thì "cô ơi, sao bố cháu hà tiện đến thế. Cháu sợ đến phát hoảng vì cái sự hà tiện của bố. Tối mẹ phải làm thêm, chúng cháu học, cần đèn sáng. Vậy mà bố chỉ cho bật mỗi một cái bóng đèn tuýp 40 oát. Mắt mẹ mờ gần, 3 anh em cháu thì cận. Mẹ bật thêm đèn là bị bố đánh cho thừa sống thiếu chết, đến mức sáng ra không lết được chân trên sàn nhà. Chúng cháu được mẹ mua cho cái áo mới hay quần mới, bố đánh mẹ vì dám mua sắm đồ diện cho con cái đua đòi, hỏng người. ông bà nội cháu mắt kém, cứ chập tối phải bật đèn sáng ở trong nhà, ngoài hiên, ngoài nhà vệ sinh. Bố mắng ông là sống không biết tiết kiệm, đánh mẹ vì tội, thấy bật nhiều đèn điện thế, sao không đi tắt bớt nó đi cho đỡ tốn"… Tâm sự của một em trai 14 tuổi: "Những lúc bố cháu say rượu đánh đập, hành hạ mẹ con cháu thì nom ông chẳng khác gì một tên cồn đồ hung hãn. Cứ thấy bố bắt đầu nổi "cơn điên" là mẹ con cháu phải bảo nhau chạy thật nhanh, thật xa cái ngôi nhà mà người ta vẫn cho là tổ ấm ấy. Đứa em gái của cháu sợ đến mức, cứ thấy đàn ông, bất kỳ người thân, hộ hàng hay người lạ đến nhà là nó giật mình và chạy ra ngoài. Cháu sợ, nay mai, em cháu sẽ không dám lấy chồng hoặc không thể lấy được một tấm chồng tử tế, đoàng hoàng ở cái vùng quê đầy khắc nghiệt trong quan niệm này".

Tiếp tục đọc

HÀNG HẢI VIỆT NAM ĐỨNG NGOÀI NHIỀU CÔNG ƯỚC

VŨ ĐẶNG DƯƠNG

Sự chậm trễ gia nhập các công ước sẽ đặt những dấu hỏi của cộng đồng quốc tế lên không chỉ trình độ phát triển của ngành hàng hải Việt Nam, một đất nước có rất nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành, mà còn khiến dư luận thế giới tự hỏi Việt Nam quan tâm như thế nào và có khả năng xử lý đến đâu trong các vấn đề môi trường và sinh thái biển.

Từ một công ước

Sơn chống hà là loại sơn được sơn định kỳ lên vỏ ngoài tàu, để đảm bảo cho vỏ tàu không bị các sinh vật biển như các loại tảo và các loài động vật thân mềm, bám vào vỏ tàu, làm cho tàu bị giảm tốc độ và tăng mức hao tổn nhiên liệu. Ở buổi bình minh của ngành hàng hải, người ta dùng nước vôi và arsenic, một loại hóa chất rất độc cho mục đích này.

Về sau, nhờ thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật, ngành hàng hải và ngành công nghiệp hóa chất đã phát triển mạnh mẽ, nhờ đó mà các nhà khoa học đã tìm ra các hợp chất hữu cơ khác hiệu quả hơn để bổ sung cho các loại hóa chất truyền thống. Trong thành phần các loại sơn chống hà mới có một số kim loại như kẽm, đồng, chì, thủy ngân và các hóa chất như tributyl tin (TBT), tributyl tin chloride (TBTCl).

Điều đáng nói là đây vẫn là các hóa chất rất độc ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái biển, TBT đã được chứng minh là làm biến dạng hàu, trai sò và thay đổi giới tính các loài ốc biển.

Một số nhà nghiên cứu chứng minh rằng có sự liên hệ giữa việc cá heo chết lần lượt ở vùng bờ biển Nhật Bản và Mỹ với hàm lượng TBT ở các khu vực này cao hơn hẳn ở các khu vực tương tự. Các nước EU đã cấm sử dụng các loại hóa chất này từ 20 năm trước.

Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) đã thông qua Công ước quốc tế về kiểm soát các hệ thống chống hà độc hại trên tàu biển (Antifouling System Convention – AFS) vào tháng 10-2001.

Công ước này đã chính thức có hiệu lực từ ngày 17-9-2008. Theo nội dung Công ước, các nước thành viên IMO phải cấm hoặc hạn chế việc dùng hệ thống chống hà có hại trên các tàu mang cờ cũng như các tàu không mang cờ nước mình nhưng hoạt động trên vùng biển thuộc quyền kiểm soát của mình và tất cả những tàu vào cảng, cơ sở sửa chữa hoặc các cảng ngoài khơi của mình. Tính đến nay, đã có 36 quốc gia thành viên IMO gia nhập và phê chuẩn công ước này.

Tiếp tục đọc

TRUNG THỰC KHI THỐNG KÊ

TS. NGUYỄN QUÂN – Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế – xã hội quốc gia (NCEIF)

Theo điều 4, Luật Thống kê thì những nguyên tắc cơ bản của hoạt động thống kê là “Bảo đảm tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời trong hoạt động thống kê”.

Tính trung thực đòi hỏi không chỉ đối với tổ chức và người làm công tác thống kê, mà còn rất cần với các tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin thống kê.

Riêng với các tổ chức và người làm công tác thống kê, sự trung thực còn thể hiện qua việc công bố các kết quả thu thập thông tin thống kê và dũng cảm đính chính những sai sót và điều chỉnh những con số thống kê đã công bố. Như việc cần thiết phải điều chỉnh con số thống kê sai của Tổng cục Thống kê, đó là từ kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 1-4-1999, số dân nước ta chỉ có: 76 triệu 327,9 ngàn người, nhưng trong Niên giám Thống kê năm 1998, xuất bản năm 1999, dân số trung bình cả nước là: 78 triệu 059,1 ngàn người.

Con số nào đúng? Tại sao có sự khác biệt lớn như vậy? Tổng cục Thống kê cho rằng tính dân số trung bình hàng năm từ kết quả Tổng điều tra dân số năm 1989 kết hợp với số liệu điều tra mẫu về sự biến động dân số được tiến hành hàng năm là đúng về phương pháp, nhưng số liệu biến động dân số hàng năm sau tổng điều tra dân số thấp (chủ yếu do cỡ mẫu nhỏ khoảng 3%).

Tổng cục Thống kê, trên cơ sở các nguồn thông tin bổ sung khác, đã điều chỉnh lại dân số trung bình: 75 triệu 456,3 ngàn người, nghĩa là dân số Việt Nam giảm bớt hơn 2,6 triệu người. Từ điều chỉnh này, nhiều số liệu thống kê khác phải thay đổi theo (xem bảng bên dưới).

Nhân đây, xin nhắc lại một thông tin đã được đăng tải không dưới một lần trên TBKTSG là nhiều chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của cả nước sẽ “đạt” được ở mức rất cao nếu như thực hiện phép cộng từ các báo cáo của 63 tỉnh, thành phố. Chẳng hạn, tăng trưởng GDP năm 2008 sẽ đạt xấp xỉ 8%, chứ đâu phải 6,23% như Tổng cục Thống kê đã công bố, và nếu “đúng” như vậy (tức xấp xỉ 8%) thì Việt Nam đâu có bị ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Còn năm 2007, tốc độ tăng GDP cũng là hai con số (không dưới 11%) nếu “cộng” số liệu các báo cáo từ các tỉnh, thành phố, chứ đâu phải là 8,48% như Tổng cục Thống kê chính thức công bố.

Tiếp tục đọc

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: MỘT BẢN ÁN 12 NĂM CHƯA THỂ THI HÀNH

HỒNG TÚ

Đất đã bán cho người khác, tòa vẫn đem ra chia, lại không chỉ cụ thể địa điểm, vị trí, tứ cận… nên cơ quan thi hành án lúng túng. Mới đây, Cục Thi hành án Bộ Tư pháp (Cục THA) đã có công văn gửi THA TP.HCM yêu cầu cơ quan này sớm kiểm tra, giải quyết khiếu nại của ông H. đối với THA quận 3. Theo đó, THA TP phải chỉ đạo THA quận 3 tiến hành các biện pháp nghiệp vụ để đảm bảo quyền lợi cho ông H. theo bản án ly hôn mà TAND TP đã xử phúc thẩm từ năm 1996.

Tòa sơ sót

Theo hồ sơ, năm 1996, vợ chồng ông H. nộp đơn ra TAND quận 3 xin ly hôn. Xử sơ thẩm, tòa chấp thuận cho cả hai được đường ai nấy đi. Về phần con chung, tòa giao cho người vợ chăm sóc, ông H. phải đóng góp nuôi dưỡng. Về phần tài sản, ngoài những vật dụng sử dụng chung, tòa yêu cầu người vợ hoàn trả cho ông H. một nửa giá trị căn nhà mà cả hai đang sống chung ở đường Võ Văn Tần (tương đương 150 lượng vàng). Ngược lại, ông H. phải giao cho người vợ một nửa mảnh đất ở ấp 3, xã Bình Hưng (Bình Chánh) với diện tích 5 x 45 m.

Ông H. không đồng ý nên kháng cáo. Xử phúc thẩm, TAND TP đã tuyên y án sơ thẩm về phần trách nhiệm đối với con chung và chia tài sản. Tuy nhiên, tòa lại không “nhìn ra” sơ hở của tòa sơ thẩm đối với việc yêu cầu ông H. phải chia cho người vợ thửa đất ở Bình Chánh.

Nguyên trước đây ông H. mua giấy tay mảnh đất này cùng ba người bạn. Năm 1995 (trước khi ly hôn), ông đã chuyển nhượng xong xuôi cho người khác nhưng tòa sơ thẩm vẫn đem ra chia. Cạnh đó, bản án sơ thẩm chỉ nêu là mảnh đất ở ấp 3, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh, còn địa điểm, vị trí chính xác ở đâu thì tòa… bỏ lửng.

hThi hành án rối

Sau khi đã ly hôn, ông H. và người vợ lại quay về sống chung và không ai nghĩ đến việc yêu cầu THA. Nhưng chỉ được khoảng một năm, hai bên tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn. Khi tình trạng “cơm không lành, canh không ngọt” cứ kéo dài, đến năm 2007, cả hai mới sực nhớ ra bản án ly hôn trước kia của mình nên yêu cầu THA quận 3 can thiệp.

Trước đó, TAND TP gửi bản án cho họ qua đường bưu điện nhưng không hiểu sao cả hai người đều không nhận được. Sau đó, tòa đã cấp sao lục bản án lần đầu cho người vợ vào tháng 5-2001 và cấp cho ông H. vào tháng 4-2005. Việc này đã được tòa xác nhận bằng văn bản.

Tiếp tục đọc

SUY NGẪM 33

image UBNDTP Hà Nội vừa quyết định không tiếp tục xây dựng khách sạn SAS trên đất của công viên Lê Nin. Trước đó, dưới sự phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, UBNDTP Hà Nội đã chuyển việc xây dựng trung tâm thương mại tại chợ 19/12 (Chợ Âm phủ cũ) thành con đường mang tên 19/12…

Việc chính quyền lắng ghe dư luận và điều chỉnh quyết định, chính sách theo dư luận là đáng hoan nghênh về tính cầu thị. Tuy nhiên, dưới góc độ thẩm quyền và quản lý, tại sao trong nhiều trường hợp cứ phải thông qua dư luận mới thấy được những bất hợp lý từ các quyết sách đã có hiệu lực?

CIVILLAWINFOR

%d bloggers like this: