GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN: NÉT ĐẶC THÙ CỦA PHÁP LÝ Á ĐÔNG

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

I. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI NHẬT BẢN

1. Những đặc thù của xã hội Nhật bản và phương thức giải quyết tranh chấp thương mại truyền thống.

Nhật bản có ảnh hưởng từ nền pháp luật đương đại và hệ thống tư pháp  của Châu Âu hàng thế kỷ trước. Đất nước này cũng đã tiến hành tự do hoá hệ thống tư pháp nhằm tăng cường nhà nước pháp quyền trong quá trình dân chủ hoá hàng nửa thế kỷ trước đây. Tuy nhiên, người dân thường tại Nhật bản coi  pháp luật không hẳn là công cụ để giải quyết tranh chấp, mà là công cụ của Chính phủ, hoặc thậm chí là công cụ của nhà cầm quyền sử dụng để trừng phạt, như pháp luật của Trung quốc trước đây mà Nhật bản đã du nhập từ hồi cổ xưa. Nhật bản là đất nước thuần nhất về văn hoá, chủng tộc và chịu ảnh hưởng của đạo Khổng từ hơn một nghìn năm trước đây. Người dân Nhật bản chia sẻ cho nhau nhiều giá trị và hiểu nhau dễ dàng hơn người Mỹ – một đất nước được mô tả như một cái hũ chứa đựng mọi chủng tộc khác nhau.  Giá trị đạo đức được đặc biệt chú trọng tại Nhật bản hơn bất kỳ quốc gia  nào. Một lời xin lỗi cá nhân,  hay sự thể hiện lòng thông cảm,  thay bằng sự khẳng định độc đoán rằng vấn đề này là đúng, có thể ngăn được một tranh chấp thực sự, hoặc có thể làm đơn giản hoá việc giải quyết tranh chấp.   Pháp luật, vì thế  chỉ là hình thức[1], được coi là  “tatemae” (ý tưởng không thực tế, không tưởng) trong việc thiết lập những chuẩn mực và nguyên tắc pháp lý.[2]Đặc trưng của việc giải quyết tranh chấp thương mại một cách hoàn toàn không hình thức tại Nhật bản là ở chỗ, người dân nước này thường cố tránh  hình thức giải quyết tranh chấp tại Toà án và thay vào đó là giải quyết bằng hoà giải, hay bằng một phương thức không có sự can thiệp của bên thứ ba. [3]Điều này thể hiện ở tỉ lệ rất thấp các vụ kiện tụng, đặc biệt là trong các vụ tranh chấp hành chính mà Chính phủ là bị đơn,[4]và một mặt, theo đó, là quan điểm tự kiềm chế của Toà án, đối với các vụ kiện hành chính. Nói một cách khác,  quan niệm về pháp quyền của các cơ quan tư pháp còn hạn chế cả về số lượng cũng như chất lượng, và Toà án thông thường là rất hạn chế trong việc can thiệp vào các nhánh hành pháp và lập pháp. Ví dụ, năm 1997, tỉ lệ các vụ giải quyết tranh chấp tại Toà án của Nhật bản chỉ bằng 1/6 của nước Anh hoặc xứ Wales.Còn trước đó, năm 1990, tỉ lệ này còn thấp hơn, chỉ bằng 1/10 tại nước Anh và 1/15 của nước Đức. 

Tiếp tục đọc

Advertisements

CÔNG NHÂN NỮ NGOẠI TỈNH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI HÀ NỘI

THS. PHẠM THU HIỀN – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Quá trình hội nhập kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và dân chủ hóa đời sống xã hội là điều kiện và động lực quan trọng tác động đến sự di cư của người lao động nông thôn ra thành thị. Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp và tâm lý muốn thoát ly khỏi lao động nông nghiệp vất vả là tác nhân cuốn hút người lao động nông thôn ra thành thị, trong số đó có nhiều lao động nữ.

Việc làm và đời sống của nữ công nhân ngoại tỉnh

Khảo sát thực tế công nhân nữ ngoại tỉnh trong các doanh nghiệp liên doanh tại Hà Nội cho thấy, phần lớn công nhân nữ được ký hợp đồng một năm. Hợp đồng lao động ngắn hạn, công việc không ổn định đã tạo tâm lý lo mất việc làm đối với họ trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hà Nội. Có tới 77,78% số người được hỏi cho rằng, công việc không ổn định và 67,92% công nhân nữ cho biết họ rất lo bị mất việc làm. Ngoài ra, công nhân phải tăng số giờ làm việc, tăng ca nhiều hơn: 76,36% số công nhân nữ ngoại tỉnh được hỏi đang làm việc tại Khu Công nghiệp Thăng Long thường xuyên phải làm việc ngoài giờ; thậm chí một bộ phận công nhân phải làm tăng ca triền miên từ 10 – 12 giờ/ngày và 7 ngày/tuần.
Người sử dụng lao động muốn tăng thêm giờ làm việc nhằm tăng sản lượng nhưng không phải đầu tư thêm cơ sở vật chất, không phải tuyển dụng thêm lao động. Không có thỏa ước lao động là tình trạng phổ biến trong các doanh nghiệp liên doanh, mặc dù hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể là một trong những công cụ quan trọng bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Nhiều doanh nghiệp xây dựng và ký kết thỏa ước lao động tập thể nhưng nó chỉ mang tính hình thức. Có 66,67% số công nhân nữ ngoại tỉnh được hỏi khẳng định, Công đoàn ở doanh nghiệp của mình không ký thỏa ước lao động tập thể.

Phần lớn (83%) nhận được mức lương từ 1 – 1,5 triệu đồng/tháng. Với thu nhập như vậy công nhân nữ ngoại tỉnh gặp nhiều khó khăn vì họ phải trả tiền thuê nhà, điện, nước và tiền ăn, nhất là trong bối cảnh "bão giá" hiện nay. Thực tế cho thấy, công nhân nữ ngoại tỉnh hiện đang sống trong những điều kiện hết sức kham khổ. Thu nhập thấp không chỉ làm cho công nhân nữ ngoại tỉnh khó khăn về cuộc sống vật chất mà còn ảnh hưởng lớn đến đời sống tinh thần của họ.

Đời sống tinh thần của một lực lượng xã hội như nữ công nhân ngoại tỉnh trong các doanh nghiệp liên doanh tại Hà Nội là sự phản ánh điều kiện sống và làm việc, sự hưởng thụ văn hóa, tiếp cận với phúc lợi và dịch vụ xã hội.

Tiếp tục đọc

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC VÀ PHÂN BIỆT VỚI ĐỀN BÙ NHÀ NƯỚC

TS. TRẦN THÁI DƯƠNG – Đại học Luật Hà Nội

“Xã hội hiện đại của chúng ta ngày càng đòi hỏi sự an toàn. Đòi hỏi đó làm phát sinh tư tưởng cho rằng mọi rủi ro đều phải được bảo hiểm, rằng mọi thiệt hại phải được bồi thường nhanh chóng và toàn bộ, rằng xã hội không chỉ phải bồi thường những thiệt hại do chính xã hội gây ra mà còn phải bồi thường những thiệt hại mà xã hội đã không ngăn ngừa được” (1).

Theo xu hướng đó, ở Việt Nam hiện nay, thực tế yêu cầu phát triển nền dân chủ, tăng cường kỷ cương trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước đang đặt ra vấn đề bức thiết là phải thể chế hoá và nghiêm chỉnh thực hiện thể chế bồi thường nhà nước, trước tiên là việc xây dựng Luật Bồi thường nhà nước. Tuy nhiên, khi Luật Bồi thường nhà nước đang được bàn thảo thì một số vấn đề liên quan đến luật này như khái niệm trách nhiệm bồi thường nhà nước, phân biệt bồi thường nhà nước với đền bù nhà nước vẫn chưa được hiểu rõ ràng.

1. Trách nhiệm và trách nhiệm bồi thường nhà nước

Nhà nước pháp quyền là nhà nước phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình, đó chính là nguyên tắc đạo lí của nhà nước trước xã hội công dân. Xã hội càng hiện đại, văn minh càng đòi hỏi tính trách nhiệm cao hơn, đầy đủ và toàn diện hơn đối với các chủ thể, trong đó có nhà nước. Nhà nước phải là hiện thân, là mẫu hình của tính trách nhiệm toàn vẹn nhất trong xã hội. Trách nhiệm của nhà nước là khái niệm có phạm vi rộng lớn, nhiều cấp độ và phức tạp, bởi nhà nước vốn là một trong những phạm trù chính trị – xã hội và pháp lí thuộc loại phức tạp nhất. Vì vậy, đến nay câu chuyện về nhà nước, trách nhiệm của nhà nước chưa bao giờ đạt đến sự thống nhất trong toàn bộ các vấn đề có liên quan.

Trách nhiệm của nhà nước trước hết bắt nguồn từ khái niệm trách nhiệm trong đời sống xã hội. Trách nhiệm được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả; thứ hai là sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai thì phải gánh chịu phần hậu quả (2). Còn theo Bách khoa Toàn thư Việt Nam, thì trách nhiệm là: “khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc trưng của nhân cách trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra. Nếu nghĩa vụ đặt ra cho con người vấn đề nhận thức và thực hiện những yêu cầu của xã hội, thì vấn đề trách nhiệm là ở chỗ con người hoàn thành và hoàn thành đến mức nào hoặc không hoàn thành những yêu cầu ấy. Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hoạt động với nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý thức của con người. Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội. Khi năng lực chi phối tự nhiên, xã hội của con người lớn lên thì trách nhiệm của con người đối với hành vi của mình cũng lớn lên. Về mặt pháp lí, việc xem xét trách nhiệm cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ: quyền càng rộng thì trách nhiệm càng lớn” (3).

Tiếp tục đọc

NĂNG LỰC CHẤP HÀNH VIÊN – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. ĐẶNG ĐÌNH QUYỀN – Trưởng Thi hành án dân sự thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

Trong thời gian gần đây, công tác thi hành án dân sự (THADS) ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Đội ngũ chấp hành viên (CHV) được tăng cường về số lượng và cả chất lượng. Tuy nhiên, đến nay, THADS vẫn là một vấn đề bức xúc trong lĩnh vực tư pháp bởi lượng án tồn đọng chưa được thi hành còn nhiều, số lượng đơn thư khiếu nại vượt cấp còn lớn. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là do năng lực của CHV trong THADS còn hạn chế. Bởi vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, nâng cao năng lực của CHV trong THADS, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra là một vấn đề rất đáng quan tâm.

1. Khái niệm năng lực của chấp hành viên trong thi hành án dân sự

Để hoàn thành một nhiệm vụ, phải có một năng lực nhất định. “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” (1); hay “năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lý của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân)”(2).

Như vậy, năng lực được đánh giá không chỉ căn cứ vào khả năng hoạt động của con người mà còn dựa vào kết quả, thành tích công tác, sự đóng góp và cống hiến của họ cho sự phát triển của xã hội. Do đó, khái niệm năng lực luôn chứa đựng hàm ý và là tiêu chí so sánh giữa người với người trong công việc.

Năng lực không phải là tư chất bẩm sinh thuần túy, tự động bảo đảm cho con người đạt kết quả tốt trong hoạt động nào đó, mà nó là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh với những khả năng mà con người có được thông qua trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, tự giáo dục và tự đào tạo để đáp ứng yêu cầu của công việc.

Tiếp tục đọc

QUYỀN BIỂU QUYẾT

PGS, TS  KIM VĂN CHÍNH

Trong một xã hội dân chủ, quyền biểu quyết được sử dụng rất rộng rãi. Quyền biểu quyết chính là phương thức thể hiện ý chí chính trị của một cá nhân đối với những quyết định mang tính tập thể. Tuy nhiên, cách hiểu và phương pháp thực thi quyền biểu quyết ở nước ta còn có nhiều khác biệt. Điều đó dẫn đến nhiều tình huống khó xử, thậm chí đôi lúc bế tắc trong lãnh đạo, quản lý.

Việc Quốc hội thận trọng trong biểu quyết phương án mở rộng địa giới hành chính Hà Nội là một ví dụ điển hình. Ở các công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty đại chúng, nhiều quyết định đã được thông qua bất chấp ý kiến của các cổ đông nhỏ đã dẫn đến hậu quả các cổ đông nhỏ tẩy chay công ty làm cổ phiếu công ty sụt giảm nhanh chóng.

Những quyết định cần phải được thông qua bằng phương thức biểu quyết được gọi là quyết định tập thể – Loại quyết định này khác hẳn với quyết định cá nhân là chỉ do một người thông qua. Xen kẽ giữa 2 loại quyết định đó, có những quyết định mang tính kết hợp đòi hỏi sự đồng thuận của cả tập thể và cá nhân. Ngay trong quyết định tập thể, ranh giới để thông qua quyết định cũng không phải như nhau: Có quyết định chỉ cần 51% phiếu tán thành, có quyết định cần một tỷ lệ cao hơn (2/3 hoặc 3/4 số phiếu có mặt hoặc số phiếu có quyền biểu quyết), có quyết định cần sự nhất trí tuyệt đối (mọi thành viên hoặc một số thành viên quan trọng có quyền phủ quyết). Hình thức, thể thức biểu quyết cũng có 3 loại: phiếu kín không ghi danh, phiếu kin có ghi danh và giơ tay biểu quyết công khai. Trong một số định chế tổ chức, phiếu biểu quyết cần phải ghi danh người biểu quyết (phiếu biểu quyết ghi danh, phiếu này cũng có thể không công khai hoặc công khai cho mọi người biết).

Như vậy, về mặt kỹ thuật và thể chế, đã có sự tiến bộ to lớn cho phép các định chế tổ chức vận dụng các hình thức, phương pháp biểu quyết trong thực tiễn phát triển tổ chức, định hướng cho người lãnh đạo, quản lý và mọi thành viên trong tổ chức thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.

Thực tiễn phát triển các tổ chức, doanh nghiệp ở nước ta đã chứng tỏ quá trình phát triển, vận dụng năng động, sáng tạo và thực hiện khá hiệu quả quyền biểu quyết trong các định chế ra quyết định. Điều đó đã góp phần không nhỏ làm nâng cao hiệu quả hoạt động của các định chế ra quyết định như Quốc hội, Hội thẩm nhân dân, Hội đồng nhân dân, các định chế Hội đồng, Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị… Tuy nhiên, còn rất nhiều việc phải làm trong thực thi quyền biểu quyết. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra hai việc sau:

Tiếp tục đọc

LUẬN LÝ CỦA LUẬT SƯ

LS. PHAN TRUNG HOÀI

Suốt cả buổi chiều tối ngày thứ Năm (26.3.2009), tôi liên tục nhận được những cú điện thoại gọi vào từ Mũi Né (Phan Thiết). Họ là những người nông dân miệt biển đầy nắng gió của dải đất miền Trung vừa từ Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Thuận trở về với đời thường sau quyết định trả tự do của Hội đồng xét xử Toà án Nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Trong giọng nói của họ, và cả những người vợ từng khóc hết nước mắt khi chồng bị bắt, vẫn còn thảng thốt, vì dường như họ vẫn chưa tin được đó là sự thật. Những ngày tháng trong tù cho họ thấy một thế giới khác và lúc này, họ hiểu hơn ai hết ranh giới của tù tội và giá trị của tự do.

Khi phiên toà đã diễn ra được hơn ba ngày, ngay cả khi đã trình bày quan điểm bào chữa trước toà, đêm về tôi vẫn thao thức, không sao ngủ được. Nhận trách nhiệm bào chữa cho 4 người nông dân bị quy buộc tội “lừa đảo”, tôi mang theo cả gánh nặng trách nhiệm trước những người vợ và con cái họ Suốt những ngày diễn ra phiên toà, trong mỗi bữa trưa và tối về tôi không nuốt nổi hạt cơm khi nhìn thấy những khuôn mặt buồn bã, những lo lắng khôn nguôi vì người thân của họ đang ở trong tình trạng suy sụp vì sức khoẻ.

Có những khi, tôi không đủ tự tin để nói lại với thân nhân gia đình họ, bởi đằng sau những tiếng vỗ tay của người dân khi nghe luật sư tranh tụng tại phiên toà không đủ át đi một sự thật các bị cáo đang đối diện với bản án tù giam theo đề nghị của công tố viên. Còn có một sự lo lắng không nói lên thành lời, chính là tình trạng “thỉnh thị án”, “án bỏ túi” mà dư luận râm ran bấy lâu nay. Hơn hai mươi năm va đập trong các vụ án hình sự, tôi thấu hiểu thứ vũ khí duy nhất làm nên sức mạnh của một luật sư đó chính là luận lý chưa chắc đã được hiển hiện nhiều trong thực tế.

Bây giờ ngẫm nghĩ lại, thấy đôi khi mình cũng cố chấp, hay bi kịch hoá đời sống tố tụng. Những người cầm cán cân công lý đã có một quyết định dũng cảm khi “xử nghiêm với quan, khoan hồng với dân”, bởi suy cho cùng, cả một thiết chế nhà nước trong một phạm vi địa phương là chính quyền tỉnh Bình Thuận không thể là “người bị lừa” được!

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: