Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NĂNG LỰC CHẤP HÀNH VIÊN – YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THS. ĐẶNG ĐÌNH QUYỀN – Trưởng Thi hành án dân sự thị xã Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên

Trong thời gian gần đây, công tác thi hành án dân sự (THADS) ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Đội ngũ chấp hành viên (CHV) được tăng cường về số lượng và cả chất lượng. Tuy nhiên, đến nay, THADS vẫn là một vấn đề bức xúc trong lĩnh vực tư pháp bởi lượng án tồn đọng chưa được thi hành còn nhiều, số lượng đơn thư khiếu nại vượt cấp còn lớn. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân cơ bản là do năng lực của CHV trong THADS còn hạn chế. Bởi vậy, trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay, nâng cao năng lực của CHV trong THADS, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra là một vấn đề rất đáng quan tâm.

1. Khái niệm năng lực của chấp hành viên trong thi hành án dân sự

Để hoàn thành một nhiệm vụ, phải có một năng lực nhất định. “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” (1); hay “năng lực là đặc điểm cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lý của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân)”(2).

Như vậy, năng lực được đánh giá không chỉ căn cứ vào khả năng hoạt động của con người mà còn dựa vào kết quả, thành tích công tác, sự đóng góp và cống hiến của họ cho sự phát triển của xã hội. Do đó, khái niệm năng lực luôn chứa đựng hàm ý và là tiêu chí so sánh giữa người với người trong công việc.

Năng lực không phải là tư chất bẩm sinh thuần túy, tự động bảo đảm cho con người đạt kết quả tốt trong hoạt động nào đó, mà nó là kết quả của sự phối hợp những tư chất bẩm sinh với những khả năng mà con người có được thông qua trau dồi học vấn, hoạt động thực tiễn, tích lũy kinh nghiệm, tự giáo dục và tự đào tạo để đáp ứng yêu cầu của công việc.

Cũng như bất kỳ cán bộ, công chức nào trong bộ máy nhà nước, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, CHV THADS cũng phải có năng lực nhất định. Với trách nhiệm là người được Nhà nước trao quyền tổ chức THA và do tính chất công việc, năng lực của CHV trong THADS được cấu thành bởi tổ hợp những khả năng như: khả năng nhận thức, khả năng áp dụng pháp luật, khả năng làm việc độc lập, tính quyết đoán cao, khả năng kiềm chế và kiên nhẫn, khả năng làm việc với nhiều người và khả năng sáng tạo, khả năng kiểm tra và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn… Tất cả những khả năng đó tạo nên hai yếu tố mà mỗi CHV cần phải có khi tổ chức THA là năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ chức hoạt động thực tiễn. Đây cũng là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên tài năng của mỗi CHV, làm cho CHV này khác CHV kia.

Như vậy, năng lực của CHV trong THADS là tổ hợp những khả năng tạo nên năng lực tư duy lý luận và năng lực hoạt động thực tiễn của người CHV, giúp họ thực thi pháp luật đúng đắn và đạt được kết quả cao trong việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án và các bản án, quyết định khác theo quy định của pháp luật.

2. Đặc điểm năng lực của chấp hành viên trong thi hành án dân sự

Như tất cả mọi người, CHV cũng có những năng lực chung như năng lực sống, năng lực hoạt động, năng lực học tập, năng lực sáng tạo, năng lực nghỉ ngơi, vui chơi… Nhưng do đặc thù của công tác THA, năng lực của CHV cũng có những điểm khác biệt là:

Đó là năng lực chuyên biệt về thi hành án

Mỗi cử nhân luật khi đã tốt nghiệp phải có năng lực chung của người làm nghề luật. Nhưng khi công tác tại một lĩnh vực cụ thể, dần dần trong họ hình thành nên một loại năng lực chuyên biệt về ngành, nghề mà mình đang làm việc như năng lực xét xử của thẩm phán, năng lực thực hiện chức năng công tố của kiểm sát viên hay năng lực bào chữa của luật sư. Năng lực tổ chức THA mà CHV có được trong quá trình công tác, tạo cho họ những khả năng, kỹ năng riêng biệt phục vụ công tác THA như khả năng phân tích bản án, quyết định của tòa án để ra quyết định THA và lập phương án tổ chức thi hành; năng lực đôn đốc, giáo dục, thuyết phục đương sự tự nguyện THA; năng lực điều tra, xác minh và truy tìm tài sản của người phải THA; năng lực tổ chức và chỉ huy cưỡng chế THA… Những năng lực này nếu đem áp dụng vào lĩnh vực khác sẽ không phát huy được tác dụng vì nội dung, tính chất của các hoạt động đó khác với hoạt động THA. Vì vậy, năng lực của CHV trong THADS là loại năng lực chuyên biệt, có tính nghề nghiệp gắn liền với hoạt động THA.

Gắn liền với niềm tin nội tâm nghề nghiệp của chấp hành viên

Với hoạt động đặc thù của một chức danh tư pháp, niềm tin nội tâm nghề nghiệp là yếu tố không thể thiếu đối với CHV khi tổ chức THA. Hiện nay, trên thực tế, trong hoạt động CHV phải chịu sự kiểm tra, chỉ đạo của rất nhiều các cơ quan khác nhau. Ví dụ: một CHV cấp huyện phải chịu sự kiểm tra, chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp của: cấp trung ương là Cục THADS, Thanh tra Bộ Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; ở cấp tỉnh là HĐND, UBND tỉnh, Sở Tư pháp, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, THADS tỉnh, Thanh tra Sở Tư pháp; ở cùng cấp là cấp ủy, HĐND, UBND, Viện Kiểm sát nhân dân, Phòng Tư pháp. Mỗi cấp, mỗi cơ quan đều có những thẩm quyền nhất định chi phối đến hoạt động THA. Không hiếm trường hợp ngành dọc cấp trên của cơ quan THA và các cơ quan ở địa phương chỉ đạo việc THA trái ngược nhau. Cũng không ít trường hợp một mình CHV “đơn thương độc mã” bảo vệ quan điểm của mình vì không nhất trí với ý kiến chỉ đạo của cấp trên. Và thực tế, cũng không ít sự can thiệp trái pháp luật vào việc tổ chức THA của CHV. Bên cạnh đó, nhiều đương sự còn lợi dụng sự chưa đồng bộ của pháp luật để gửi đơn thư khiếu nại vượt cấp với mục đích tạo ra sự nghi ngờ của các cấp đối với hoạt động của CHV nhằm cản trở, trốn tránh việc THA. Với tất cả những trở ngại đó nhưng nếu có sai phạm xảy ra trong tổ chức THA, thì chỉ CHV tổ chức thi hành vụ việc là người chịu trách nhiệm chính về sai phạm. Vì vậy, CHV có năng lực phải là người có niềm tin nội tâm nghề nghiệp vững chắc định hướng cho hoạt động của mình. Niềm tin nội tâm là sự tin tưởng, sự khẳng định mình đã tư duy đúng đắn, lựa chọn đúng đắn phương thức hành động phù hợp với nội dung, bản chất thật của vụ việc, bảo đảm việc THA được thực thi đúng pháp luật, công bằng, dân chủ, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Đó là yếu tố cơ bản tạo nên bản lĩnh nghề nghiệp của CHV. Niềm tin nội tâm không phải là niềm tin cảm tính, mù quáng, niềm tin dựa trên ý kiến của cấp trên, của số đông mà là niềm tin khoa học xuất phát từ việc thấm nhuần chủ trương, đường lối của Đảng, sự am hiểu chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự tinh thông nghề nghiệp, kiến thức xã hội phong phú, sự nhạy cảm của năng lực trực giác, khả năng phân tích, tổng hợp và nắm chắc tính chất, nội dung, các tình tiết, các yếu tố tác động khách quan và chủ quan… của vụ việc đang phải giải quyết.

Gắn liền với việc thực hiện có hiệu quả quyền lực nhà nước trong việc tổ chức thi hành án

CHV là người được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức THA. Khi tổ chức THA, CHV là người thực hiện công vụ, nhân danh công quyền và phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về các quyết định của mình. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền lực nhà nước để tổ chức THA có hiệu quả phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của CHV. Một CHV có năng lực sẽ biết sử dụng quyền lực nhà nước hợp lý, đúng pháp luật như: biết tuyên truyền, phối hợp, kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với những vụ việc có tính chất điển hình, phức tạp, tạo được dư luận tốt ở địa phương thì không những vụ việc đó được thi hành mà việc THA ở địa phương sau đó sẽ thuận lợi. Ngược lại, CHV không biết sử dụng hiệu quả quyền lực Nhà nước trao cho mình như không kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về THADS, không quyết đoán tổ chức cưỡng chế khi đương sự không tự nguyện THA… sẽ dẫn tới tình trạng các đương sự coi thường pháp luật, coi thường hiệu lực của bản án, thậm chí ngay cả chính quyền cơ sở cũng coi thường CHV làm cho việc THA bị kéo dài hoặc không thi hành được.

Gắn liền với việc bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, dân chủ và tiết kiệm trong thi hành án

Sự công bằng, bình đẳng trong THA thể hiện ở chỗ mọi đối tượng phải THA không phân biệt địa vị xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện phán quyết của tòa án. Dân chủ là việc THA được tổ chức theo đúng trình tự do pháp luật quy định và được thực hiện công khai, minh bạch; bảo đảm cho người được THA, người phải THA và những người có liên quan đến việc THA được tham gia vào quá trình THA để bảo vệ quyền lợi của họ; các bên đương sự được trình bày ý kiến, nguyện vọng với cơ quan THA, được tiến hành hòa giải, thỏa thuận phương thức THA với nhau trên cơ sở quy định của pháp luật. Đồng thời, năng lực của CHV còn được thể hiện ở việc THA được tổ chức một cách tiết kiệm nhất cho cả Nhà nước và đương sự. CHV phải luôn tích cực, chủ động tìm biện pháp trong khuôn khổ của pháp luật để thi hành nhanh chóng, kịp thời vụ việc; biết cách giải thích, hướng dẫn, thuyết phục đương sự để họ hiểu nghĩa vụ của mình và tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ của đó, biện pháp cưỡng chế THA chỉ được áp dụng nếu thực sự cần thiết và không còn biện pháp nào khác. Điều này vừa có tính giáo dục pháp luật, vừa hạn chế được những thiệt hại, ảnh hưởng xấu về vật chất, tinh thần cho đương sự và hạn chế đến mức thấp nhất những chi phí không cần thiết cho Nhà nước và đương sự.

3. Các yếu tố cấu thành năng lực của chấp hành viên trong thi hành án dân sự

3.1. Năng lực tư duy lý luận

Năng lực tư duy lý luận là tổng thể các phẩm chất trí tuệ của CHV có thể đáp ứng yêu cầu phát hiện, nhận thức nhanh nhạy một cách khoa học và đúng đắn những vấn đề phát sinh trong thực tiễn ở cấp độ lý luận, giúp cho CHV có những tư duy sắc bén, quyết định chính xác, vận dụng sáng tạo, linh hoạt góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc tổ chức THA. Năng lực tư duy lý luận có giá trị định hướng đúng đắn hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của CHV. Có năng lực tư duy lý luận, CHV sẽ có những suy nghĩ chín chắn, sâu sắc đi đến nhận thức mới về đối tượng, xác lập được quan điểm độc lập trước những vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau để tìm ra những phương cách mới cho việc hoàn thành nhiệm vụ thực tiễn. Năng lực tư duy lý luận còn biểu hiện ở văn hóa nghĩ, văn hóa nói, văn hóa viết; chúng trực tiếp giúp CHV có thể chuyển những “nguyên liệu” của tư duy thành sản phẩm tư tưởng bằng sự phong phú của ngôn ngữ, chất lượng của diễn đạt, trình bày, lập luận.

Để có năng lực tư duy lý luận, CHV phải có thế giới quan khoa học và hệ phương pháp luận vững chắc về hoạt động chuyên biệt của mình trên cơ sở tự tiếp thu những tri thức lý luận từ chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; từ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; từ những tinh hoa tri thức của dân tộc, của nhân loại và chính từ sự trải nghiệm trong quá trình công tác của mình.

3.2. Năng lực hoạt động thực tiễn

Đó là những khả năng, kỹ năng của CHV bảo đảm cho việc hoạt động thực tiễn trong THADS đạt hiệu quả. Năng lực hoạt động thực tiễn của CHV được biểu hiện thông qua cách thức, phương pháp, biện pháp mà CHV sử dụng để triển khai thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo thẩm quyền và được đánh giá thông qua hiệu quả công việc đạt được trên thực tế. Một CHV có năng lực thực sự phải là người có khả năng tổ chức thực hiện công việc đạt được mục tiêu đề ra có hiệu quả. Năng lực đó có thể được nhận diện bề ngoài thông qua các chỉ số lượng hóa như tuổi tác, bằng cấp… nhưng không thể đo đầy đủ bằng các chỉ số đó, mà chỉ có thể thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của CHV.

Năng lực hoạt động thực tiễn của CHV được cấu thành bởi những yếu tố cơ bản sau:

Một là, năng lực áp dụng pháp luật

Đó là những khả năng, kỹ năng giúp cho CHV trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể trong khi tổ chức THA. Năng lực áp dụng pháp luật của CHV được tạo nên bởi:

– Năng lực phân tích, đánh giá đúng, chính xác mọi tình tiết, hoàn cảnh, điều kiện, làm rõ những đặc trưng pháp lý của vụ việc để làm cơ sở cho việc có hay không việc ra quyết định nghiệp vụ THA, xác định biện pháp THA phù hợp. Để làm được việc này, CHV phải tiến hành thụ lý hồ sơ, nghiên cứu kỹ bản án, quyết định của tòa án, đơn yêu cầu THA của bên được THA; đánh giá và xác minh chính xác khả năng, điều kiện THA của người phải THA. Những công việc này đòi hỏi phải nghiên cứu khách quan, toàn diện, làm rõ đặc trưng pháp lý, tuân thủ tất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với từng loại vụ việc.

– Năng lực lựa chọn quy phạm pháp luật phù hợp. Sau khi xác định xong điều kiện THA của người phải THA, làm xong các thủ tục cần thiết như hòa giải, định thời gian tự nguyện THA, CHV phải nghiên cứu toàn diện các tình tiết, các yếu tố ảnh hưởng đến việc THA… và lựa chọn trong số các quy phạm pháp luật về THA và pháp luật có liên quan để xác định biện pháp THA phù hợp và đạt hiệu quả cao.

– Năng lực ra quyết định áp dụng các biện pháp THA. Sau khi đã nắm chắc được thái độ, điều kiện về tài sản, nghĩa vụ mà người phải THA phải thực hiện, CHV phải nghiên cứu, xem xét để ra quyết định áp dụng các biện pháp THA theo quy định của pháp luật. Khi ra quyết định áp dụng các biện pháp THA, CHV phải xác định được biện pháp nào sẽ áp dụng bảo đảm đúng với tính chất, nội dung của vụ việc. Quyết định áp dụng biện pháp THA phải được thể hiện bằng văn bản, được ban hành đúng hình thức, đúng thẩm quyền, đúng thời hạn, bảo đảm chất lượng kỹ thuật và phải rõ ràng, dễ hiểu.

– Năng lực tổ chức cưỡng chế THA. Đây là công việc quan trọng, khó khăn và phức tạp nhất trong THADS mà hầu hết các CHV đều phải thực hiện. Thực tế cho thấy, có nhiều vụ cưỡng chế THA, mặc dù CHV đã làm tốt các bước chuẩn bị cho việc cưỡng chế, nhưng do không có năng lực tổ chức cưỡng chế nên việc cưỡng chế bị thất bại.

Năng lực tổ chức cưỡng chế THA của CHV được biểu hiện qua:

Giai đoạn chuẩn bị cưỡng chế: nếu giai đoạn này được chuẩn bị tốt thì việc cưỡng chế sẽ thuận lợi, thành công và ngược lại. ở giai đoạn này, CHV phải có khả năng làm tốt các công việc:

+ Nắm vững được thái độ của người phải THA và gia đình họ, nắm bắt dư luận trong nhân dân địa phương, những đối tượng có khả năng chống đối, từ đó đề ra được những phương án cưỡng chế, khống chế đối tượng có khả năng chống đối. Đây là giai đoạn cần phải có sự giáo dục, tuyên truyền, giải thích cặn kẽ pháp luật cũng như nội dung vụ việc trong cộng đồng dân cư nhằm tạo dư luận ủng hộ cơ quan THA thực hiện quyết định cưỡng chế.

+ Phối hợp với cơ quan công an, kiểm sát, đại diện chính quyền địa phương cùng các lực lượng khác trong việc bảo đảm trật tự nơi thực hiện quyết định áp dụng pháp luật cưỡng chế THADS;

+ Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ để sử dụng vào công việc cưỡng chế;

+ Thông báo, tống đạt quyết định cưỡng chế đến các cơ quan có liên quan và các đương sự theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Đồng thời, tiếp tục theo dõi diễn biến của người THA và người nhà của họ để có phương án bổ sung.

Giai đoạn tổ chức thực hiện cưỡng chế: trong tổ chức thực hiện cưỡng chế, CHV là người chủ trì, chịu trách nhiệm điều hành các thành viên tham gia Hội đồng cưỡng chế thực hiện nhiệm vụ cưỡng chế THA. Vì vậy, CHV phải có khả năng điều hành, phối hợp các lực lượng tham gia cưỡng chế để thực hiện nghiêm chỉnh, chính xác kế hoạch cưỡng chế, bảo đảm nguyên tắc công khai. Nhìn chung, các vụ cưỡng chế thường diễn biến hết sức phức tạp và khó lường. Vì thế, người chủ trì phải có khả năng xử lý khéo léo, đồng thời cũng phải hết sức kiên quyết, ứng phó kịp thời với các tình huống.

Hai là, khả năng làm việc độc lập, tính quyết đoán

Do phải chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả THA của mình và do tính phức tạp của công tác THA, CHV phải có khả năng làm việc độc lập, có tính quyết đoán. CHV chủ động trong công việc, có thể tự hoạch định chương trình và trù tính kế hoạch hành động cho mình để thực hiện mục tiêu đã định mà không trông chờ hay ỷ lại vào người khác. Để có khả năng đó, CHV không chỉ lao động bền bỉ, cần mẫn tìm tòi, học hỏi với tinh thần trách nhiệm cao, có kỷ luật tự giác mà còn phải say mê, năng động và tâm huyết với nghề nghiệp. Tính quyết đoán là khả năng phán đoán chính xác tình hình, đưa ra được quyết định nhanh chóng, dứt khoát nhiều khi là ngay lập tức khi có những tình huống bất ngờ, cấp bách phát sinh không cho phép chờ đợi để phân tích dữ kiện cũng như không đủ dữ kiện cần thiết để phân tích nhằm kịp thời xử lý tình huống (thường gặp trong khi tổ chức cưỡng chế THA), hoặc trong trường hợp tập thể và các cá nhân còn nhiều bất đồng về con đường, biện pháp và hình thức tổ chức thực hiện. Tính quyết đoán là sản phẩm của tính kiên quyết, tính chủ động, sự thận trọng và niềm tin nội tâm nghề nghiệp dựa trên khả năng nhận biết trước được sự vận động của thực tiễn, biết lắng nghe và sự tinh thông nghề nghiệp. Nó khác hẳn với bệnh hách dịch, cửa quyền, phiêu lưu, liều lĩnh. Nhờ có tính quyết đoán, CHV dám chịu trách nhiệm về quyết định của mình, không đùn đẩy, thoái thác trách nhiệm, không sợ va chạm.

Ba là, năng lực giáo dục, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành

Một yêu cầu hết sức cơ bản đối với CHV trong khi tổ chức THA là phải lựa chọn phương thức THA ít làm tổn hại nhất đến các lợi ích của đương sự và lợi ích chung của xã hội, lấy giáo dục, thuyết phục là chính để đương sự tự nguyện thực hiện nghĩa vụ của mình. Đây là yêu cầu và là chủ trương phù hợp với bản chất chính trị của Nhà nước ta là lấy giáo dục, thuyết phục là chính, cưỡng chế chỉ là hạn hữu, bất đắc dĩ. Vì vậy, CHV phải có năng lực giáo dục, thuyết phục người phải THA tự nguyện THA. Đó là khả năng phân tích, giải thích cho người phải THA thấy được lợi ích của việc tự nguyện thi hành, những thiệt hại mà họ phải gánh chịu nếu bị cưỡng chế THA. Để thực hiện tốt công việc này, CHV phải nắm vững pháp luật; hoàn cảnh kinh tế và các đặc điểm về nhân thân người phải THA như trình độ, nghề nghiệp, độ tuổi…, các đặc điểm tâm lý, tình cảm, thái độ của họ đối với việc THA như thiện chí hay coi thường, phớt lờ, chống đối; hoàn cảnh gia đình, dòng họ, phong tục, tập quán, tôn giáo của họ… Việc động viên, thuyết phục, giáo dục phải kiên trì, bền bỉ; nói và giải thích nhẹ nhàng, mềm mỏng nhưng dứt khoát, nghiêm túc, kiên quyết, có tính thuyết phục; đúng pháp luật, đúng bản án, quyết định và phù hợp với đạo lý của người Việt Nam.

Bốn là, khả năng giao tiếp xã hội, làm việc với tập thể, với nhiều người

Khi tổ chức THA, CHV phải thường xuyên giao tiếp, làm việc với rất nhiều cá nhân, tổ chức như người được THA, người phải THA, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tới việc THA, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhân dân có nhiệm vụ phối hợp trong việc THA. Vì vậy, CHV phải có khả năng giao tiếp xã hội, làm việc với tập thể, với nhiều người. Đó là khả năng hiểu biết con người, nhận biết được khả năng của người khác và có thể khai thác được lợi thế của họ cho yêu cầu nhiệm vụ của mình; biết xây dựng mối quan hệ, biết cách làm việc với từng tập thể, từng con người, ứng xử đúng mực với từng mối quan hệ; biết “đối nhân xử thế”. Đồng thời, biết học tập, tiếp thu, vận dụng những cái hay, cái tốt của người khác cho sự hoàn thiện của chính mình và đặc biệt là phải biết cách xử lý khéo léo nhưng đúng pháp luật những mối quan hệ phức tạp, tế nhị. Nhờ năng lực giao tiếp, làm việc mà CHV có thể nắm bắt được diễn biến tâm lý, nguyện vọng, dự đoán được hành vi sắp xảy ra của các đương sự để có những biện pháp THA phù hợp. Có nhiều vụ việc, qua nghệ thuật giao tiếp của CHV mà người phải THA đang từ chống đối việc THA chuyển sang tự nguyện THA. Cũng nhờ năng lực giao tiếp xã hội, làm việc với tập thể, với nhiều người mà CHV có thể thuyết phục và lôi cuốn, thu hút được mọi người tham gia vào công việc chung, nhất là đối với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhân dân có nhiệm vụ phối hợp trong việc THA.

Năm là, khả năng kiềm chế và kiên nhẫn

Kiềm chế và kiên nhẫn giúp cho CHV có thể tránh được những phản ứng bồng bột nhất thời và bình tĩnh kìm nén những xúc động, sự tức tối, sự giận dữ trước kích thích tâm lý bất thường bởi những hành vi khiêu khích, chọc tức, thậm chí là “lăng mạ” của đối phương. Trong quá trình tố tụng trước đó, các đương sự chỉ mới quan tâm đến việc tìm những cơ sở pháp lý để thắng kiện. ở giai đoạn này, quyền, lợi ích hợp pháp của họ chưa bị đụng chạm tới một cách thực sự. Nhưng ở giai đoạn tổ chức THA, cho dù đương sự có đồng ý hay không đồng ý với kết quả xét xử của Tòa án, họ vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành phán quyết của Tòa án. Nếu không, họ sẽ bị cơ quan THA áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành. Chính lúc này, quyền lợi của họ đã thực sự bị đụng chạm trên thực tế. Vì vậy, phản ứng của họ trở nên quyết liệt hơn, đặc biệt là trong trường hợp họ cho là bản án, quyết định của Tòa án không khách quan, không đúng với thực tế. Hành vi chống đối mà các CHV thường gặp là đương sự tranh cãi với CHV về sự đúng, sai của bản án, dùng những lời lẽ kích động xúc phạm, đe dọa, mạt sát CHV. Sự thiếu kiên nhẫn, thiếu kiềm chế của CHV khi gặp phải những hành vi cản trở, chống đối của đương sự dễ dẫn đến những sai sót trong các quyết định. Vì vậy, CHV cần phải biết kiềm chế, bình tĩnh, thận trọng, mềm mỏng, có phương thức tiếp cận tâm lý thích hợp với đương sự nhằm giải thích, thuyết phục đương sự tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ THA.

Sáu là, năng lực sáng tạo, khả năng kiểm tra và tổng kết kinh nghiệm thực tiễn

Các vụ việc mà CHV phải tổ chức thi hành rất đa dạng, phức tạp… nên không thể dập khuôn máy móc những biện pháp đã áp dụng ở vụ việc này vào việc giải quyết vụ việc khác. Vì vậy, thông qua quá trình suy lý, lập luận chân thực, CHV phải tìm ra cách làm mới, biện pháp mới để giải quyết các vụ việc khác nhau trên cơ sở quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, CHV phải có khả năng kiểm tra các đương sự, các cơ quan, tổ chức, cá nhân và tự kiểm tra lại quá trình tác nghiệp của mình trong việc thực hiện pháp luật về THA để kịp thời điều chỉnh những sai lệch, vi phạm pháp luật. Đồng thời, CHV phải có khả năng tổng kết, đánh giá hiệu quả việc thực hiện nhiệm vụ của mình, rút ra những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị để vận dụng vào việc giải quyết những vụ việc tiếp theo.

Tuy nhiên, để năng lực của CHV phát huy được tốt trong thực tế, thì cần có những yếu tố bảo đảm trong THADS như: một nền chính trị – xã hội ổn định; hệ thống pháp luật chất lượng cao, phù hợp với cuộc sống và mức lương CHV được hưởng phải tương xứng với công sức họ bỏ ra. Khi có đầy đủ các bảo đảm trên, CHV sẽ thể hiện và phát huy tốt năng lực của mình trong công việc.

Chú thích:

(1) Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 2005, tr. 660.

(2) Từ điển Luật học, Nxb. Từ điển Bách khoa – Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr. 41.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/nang-luc-chap-hanh-vien-yeu-to-quyet-111inh-thanh-cong-trong-thi-hanh-an-dan-su

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: