SINH VIÊN VỚI KỸ NĂNG

NGUYỄN THÙY DƯƠNG – Giảng viên – Tâm Việt Group

“Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, hiện 37% sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm”. Bà Phạm Thị Mỹ Lệ, Giám đốc Công ty Tư vấn và Đào tạo Nhân lực L&A cho hay: “Chúng ta không thiếu việc làm mà đang thiếu sinh viên làm được việc”.Theo bà Lệ, chương trình đào tạo không theo kịp sự phát triển của xã hội, không đào tạo ra người có thể làm được việc ngay. Do vậy, sinh viên mới ra trường thiếu quá nhiều kỹ năng để làm việc, đặc biệt các kỹ năng “mềm” như tư duy phân tích, tổng hợp, thuyết trình, giao tiếp hay làm việc đồng đội…

Ngoài ra, Bà Nguyễn Thu Giao, Giám đốc Nhân sự Công ty Interfloour Việt Nam nhận xét: “Kỹ năng của sinh viên hiện nay là con số 0. Thiếu kiến thức, yếu kỹ năng, thiếu tự tin hoặc tự tin thái quá, ứng xử ngớ ngẩn, vụng về, mơ hồ về mục tiêu nghề nghiệp đã khiến không ít bạn trẻ đánh mất điểm trước các nhà tuyển dụng”. (Theo Tiền Phong)

Thực tế đó cho thấy thời đại ngày nay không chỉ dừng lại ở kỹ thuật công nghệ mà đang chuyển sang thời đại của kỹ năng nhất là kỹ năng mềm. Kỹ năng là khả năng bạn thực hiện một công việc nhất định trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Vừa qua, Ủy ban lao động Mỹ đã thông qua 13 kỹ năng cơ bản của một người lao động trong thế kỷ 21. Những kỹ năng như: Tư duy sáng tạo, đặt mục tiêu, tạo động cơ, quan hệ giao tiếp ứng xử, lãnh đạo, học hỏi, lắng nghe, thương lượng, thuyết trình và diễn giải ý tưởng, đảm bảo tính hiệu quả, phát triển cá nhân trong công việc, giải quyết nhanh vấn đề, tìm giải pháp, lòng tự tôn về bản thân, làm việc theo đội.

Đó là những kỹ năng cơ bản mà một người lao động bình thường nhất cần có để phát triển bản thân và hòa nhập được với môi trường làm việc thực tế. Thế hệ học sinh, sinh viên Việt Nam được đánh giá là một thế hệ thông minh, cần cù, sáng tạo và tiếp thu rất nhanh các thông tin, kiến thức và công nghệ hiện đại. Đây chính là lực lượng chính, tiên phong trong quá trình xây dựng, phát triển và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, theo nhận xét ở trên thanh niên Việt Nam lại bị đánh giá là những người lao động thiếu kỹ năng làm việc, thiếu quy trình và công cụ để chuyển những kiến thức được học trong trường thành sản phẩm phục vụ xã hội. Chính vì vậy việc rèn luyện kỹ năng cho công việc và cuộc sống hiện nay rất quan trọng nhất là đối với sinh viên đang học trên ghế nhà trường. Đó sẽ là cơ sở cho việc thích nghi với môi trường làm việc cũng như bắt kịp tốc độ phát triển của xã hội.

Tiếp tục đọc

Advertisements

CÁC ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỆ THỐNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ TRANH TỤNG VÀ HỆ THỐNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ THẨM VẤN

THS. LẠI THỊ THU HÀ – Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC

Tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn là hai mô hình tố tụng hình sự rất phố biến trên thế giới. Điển hình của mô hình tố tụng tranh tụng là các nước theo hệ thống luật Anh – Mỹ, điển hình của mô hình tố tụng thẩm vấn là các nước theo mô hình luật lục địa, tiêu biểu là Cộng hòa Pháp.

Mặc dù có những điểm khác nhau cơ bản, thậm chí trái ngược nhau, cả hai hệ thống đều có một đặc điểm chung là nhà nước độc quyền trong việc xác định có hay không có một vụ việc phạm tội và quyết định hình phạt với một mục đích cơ bản và chủ yếu là ngăn ngừa việc trả thù cá nhân. Đồng thời, hai hệ thống cũng đều phải đổi mặt với những khó khăn tương tự. Thứ nhất là số lượng các vụ án về hình sự ngày càng tăng, đặc biệt là ở các vùng đô thị và tội phạm cổ cồn trắng, những giới hạn về nguồn lực đối với tòa án, cơ quan công tố và các nhà chức trách thực thi pháp luật về vấn đề tài chính, ngân sách. Điều đó dẫn đến kết quả chung: thứ nhất là khuynh hướng tùy nghi quyết định không truy tố; thứ hai là việc chậm trễ một cách đáng kể trong xét xử hình sự, dẫn đến sự mất công bằng đối với bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Cả hai hệ thống có sự cố gắng chung để tìm giải pháp cho vấn đề chậm trễ như tăng cường việc áp dụng phiên tòa rút gọn nhiều hơn và cố gắng tìm kiếm sự cân bằng giữa "tùy nghi" và "tính hợp pháp". Và điều này đã dẫn đến một xu hướng về mô hình thứ ba – mô hình pha trộn tức là kết hợp giữa các yếu tố hợp lý của mô hình tranh tụng và mô hình thẩm vấn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi phân tích những nét khác biệt cơ bản giữa hai hệ thống nhằm làm rõ những mặt tích cực và hạn chế của từng hệ thống tố tụng hình sự. 

          Thứ nhất, về vấn đề về chứng cứ

Mặc dù hệ thống tranh tụng có những điều tương phản với hệ thống tố tụng thẩm vấn, trong thực tế, pháp luật của hệ thống tố tụng thẩm vấn cũng ghi nhận quyền của người bị buộc tội chống lại việc buộc tội và chứng minh sự vô tội của mình. Trong hệ thống tranh tụng, các bên tố tụng hành động độc lập và chịu trách nhiệm đưa ra các chứng cứ trước thẩm phán, người có vai trò trung lập và bị động cùng với bồi thẩm đoàn. Còn trong hệ thống tố tụng thẩm vấn, trách nhiệm cuối cùng về việc tìm ra sự thật thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tư pháp, có trách nhiệm thu thập cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt cho người bị buộc tội. Trong hệ thống tố tụng tranh tụng, cả bên buộc tội và bên gỡ tội có vai trò bình đẳng và được coi là hai bên đối lập. Còn trong hệ thống thẩm vấn, người bị buộc tội không được coi là một bên tố tụng của vụ án.

Tiếp tục đọc

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: HẾT SỐNG CHUNG = LY HÔN THỰC TẾ?

HOÀNG LAM

Chồng tự ý bỏ vợ đi “tòm tem” với bà khác, tòa công nhận đã ly hôn trên thực tế? Chuyện tức mình này đã xảy ra với bà N. Vừa chớm qua tuổi 18, bà và ông H. được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới nhưng cả hai không đăng ký kết hôn. Theo luật định, đây là hôn nhân thực tế vì hai bên đã chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1974, tức trước ngày 3-1-1987.

Không sống chung, mất chồng như chơi!

Cuộc sống vợ chồng ban đầu cũng hòa thuận, hạnh phúc. Năm 1982, khi bà N. mang thai con thứ năm thì quan hệ của họ trở nên căng thẳng. Biết chồng mình đang để ý đến người khác nên bà N. ra sức ngăn cản. Khổ nỗi ông H. đã không lắng nghe mà lại còn đánh vợ. Tủi thân, bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống và tần tảo nuôi con, lòng vẫn mong có lúc chồng sẽ quay về với mình.

Nhưng ông H. vẫn quyết đâm đơn ra tòa đòi ly hôn vợ. Tại tòa, ông công khai thừa nhận mình và vợ bé đã có với nhau bốn mặt con. Hội đồng xét xử sơ thẩm hôm ấy bày tỏ thái độ bất mãn thay cho bà N. Họ cho rằng ông H. thiếu trách nhiệm làm chồng, làm cha và quyết định bác yêu cầu ly hôn của ông. Cấp sơ thẩm còn tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông H. với người vợ hai. Sau đó, tuy chống án không thành nhưng ông H. vẫn tiếp tục chung sống với vợ hai.

Năm 1994, ông H. xích mích với bạn nhậu nên bị đánh chết. Chín năm sau, cha ruột của ông kiện đòi con dâu thứ hai trả đất do con trai chết để lại. Ông bảo ngày xưa mình giao đất cho con trai theo kiểu cho sử dụng tạm chứ không cho luôn. Phúc thẩm vụ án hồi tháng 3-2004, TAND tỉnh Bình Dương xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông H., giờ ông H. chết thì phát sinh thừa kế. Nếu muốn thì cha ông H. cần khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.

Lạ lùng ở chỗ TAND tỉnh lại kết luận ông H. và bà N. đã ly hôn trên thực tế. Tòa này cho rằng tuy cả hai cấp tòa không cho ông H. ly hôn với bà N. nhưng quan hệ vợ chồng giữa họ đã không còn tồn tại. Họ không sống chung suốt từ năm 1982 đến khi ông H. bị đánh chết. Hơn nữa, khi ông H. bị đánh chết, bà chẳng thể hiện sự quan tâm, cũng không tố giác kẻ gây án. Trong khi đó, người vợ sau đã chung sống với ông H. từ trước năm 1987 nên đủ tư cách là vợ thực tế của ông H. (!?).

Tiếp tục đọc

PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH TRONG QUI TRÌNH LẬP PHÁP Ở CÁC NƯỚC

THS. NGUYỄN ĐỨC LAM

Chính sách công là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân[1]. Hoạt động của chính quyền có cái nằm trong chuỗi, có cái đơn lẻ, nhưng cái đơn lẻ vẫn gắn với những hoạt động khác.

I- Những vấn đề chung 

1. Khái niệm

Chính sách công là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân[1]. Hoạt động của chính quyền có cái nằm trong chuỗi, có cái đơn lẻ, nhưng cái đơn lẻ vẫn gắn với những hoạt động khác.

Hầu hết các chính sách được thể hiện dưới dạng văn bản pháp luật, mặc dù nhiều khi dưới dạng ẩn. Phân tích chính sách (PTCS) trong quá trình làm luật là một công đoạn hữu cơ, gắn kết trong quá trình đó một cách khoa học, dựa trên các nhóm mục tiêu, cách tiếp cận, các tiêu chí đánh giá, nguồn lực và công cụ bảo đảm thực hiện, sự thống nhất tác động phối hợp của các chính sách khác và dựa trên hoàn cảnh thực tế của các đối tượng điều chỉnh của chính sách nhằm tới. Bởi lẽ, pháp luật là hình thức thể hiện của chính sách công, cho nên, việc PTCS nhằm đảm bảo rằng, pháp luật được ban hành ra sẽ tuân thủ các nguyên tắc căn bản của việc thiết kế chính sách công là: vì lợi ích công cộng; bắt buộc thi hành; có hệ thống; tập hợp các quyết định; liên đới; kế thừa lịch sử; quyết định theo đa số[2].

Về lý thuyết, có thể phân biệt giữa chính sách và pháp luật, giữa hoạt động xây dựng chính sách và soạn thảo luật. Nói một cách đơn giản, chính sách là nội dung, còn văn bản luật là vỏ bọc chứa đựng chính sách đó dưới dạng ngôn ngữ và hình thức pháp lý. Xây dựng chính sách là quá trình quyết định điều gì cần đạt được, cần làm gì để đạt được điều đó, làm thế nào, ai làm[3]. Ví dụ, sau khi có quyết sách thực thi những biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông, việc xây dựng chính sách sẽ bao gồm phân tích những nguyên nhân gây tai nạn; phân bổ tai nạn trên các loại đường, trong các tầng lớp dân cư; những quy định đang có hiệu lực; kinh nghiệm của các nước khác… Tiếp đó, có thể phát triển một số phương án giảm thiểu tai nạn như giảm tốc độ, thực thi tốt hơn các quy định hiện có, điều kiện cấp giấy phép ngặt nghèo hơn, tuyên truyền, giáo dục. Đồng thời, cần phân tích chi phí và lợi ích của từng phương án, trình các phương án để chính phủ quyết định. Tất cả những bước này là xây dựng chính sách. Sau khi đã quyết định lựa chọn phương án, có thể bắt đầu soạn thảo luật về phương án đó trong khuôn khổ pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi không dễ phân biệt hai hoạt động này. Do đó, trước khi soạn thảo cần PTCS, nhưng không nhất thiết phải phân chia quá rạch ròi thành hai bước tiếp nhau.

Tiếp tục đọc

TÌM GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM CHÁY, NỔ BẮT BUỘC THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 130/2006/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ

THANH BÌNH

Để thực hiện chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc (BHCNBB), đã có các văn bản pháp luật như: Luật kinh doanh bảo hiểm (Điều 8 ) số 24/2000/QH10 ngày 09/12/2000, Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 8/11/2006 của Chính phủ quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc; tiếp đó, ngày 24/4/2007, Bộ Tài chính và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên tịch số 41/2007/TTLT-BTC-BCA hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 130/2006/NĐ-CP ngày 08/11/2006 quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc và Biểu phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc .

Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành được hơn một năm, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, số lượng tổ chức, doanh nghiệp và tư nhân tham gia BHCNBB còn rất hạn chế, nhiều doanh nghiệp né tránh hoặc tham gia mang tính chất đối phó. Việc mua bảo hiểm cháy, nổ sẽ giúp doanh nghiệp bảo toàn được vốn và tái sản xuất kinh doanh trong trường hợp không may xảy ra sự cố cháy, nổ. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật về BHCNBB. Trong thực tế các doanh nghiệp bảo hiểm gặp nhiều khó khăn trong quá trình vận động thuyết phục khách hàng tham gia BHCNBB. Bên cạnh đó, cơ chế thông tin, phối hợp kiểm tra giữa doanh nghiệp bảo hiểm với Cơ quan Cảnh sát PCCC và cơ quan chức năng chưa rõ ràng cụ thể nên việc triển khai BHCNBB chưa triệt để và quyết liệt.

Tại buổi tọa đàm nhằm đánh giá thực trạng việc thực hiện Chế độ BHCNBB theo Nghị định 130/2006/NĐ-CP của Chính phủ năm 2007 và bàn phương hướng triển khai năm 2008 do Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt (Bảo hiểm Bảo Việt) – đơn vị thành viên của Tập đoàn Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt phối hợp với Cục Cảnh sát PCCC – Bộ Công an tổ chức tại Hà Nội, ngày 22/2/2008 đã có nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này.

Theo ông Phùng Đắc Lộc – Tổng thư ký Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, ngoài ý thức tham gia BHCNBB của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, cũng như những khó khăn trong việc trích lập nguồn đóng phí BHCNBB của các tổ chức, doanh nghiệp hành chính sự nghiệp, sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng tỏ ra không mấy mặn mà trong việc tham gia bảo hiểm. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài yêu cầu các văn bản pháp luật quy định về chế độ BHCNBB cần phải được dịch sang tiếng Anh để họ có thể đọc, hiểu và thực hiện. Tuy nhiên trên thực tế các cơ quan chức năng của Việt Nam chưa tính đến vấn đề này. Ông Lộc cũng cho rằng, với vai trò là doanh nghiệp dẫn đầu thị trường trên mọi phương diện và cả về doanh thu phí BHCNBB, Bảo hiểm Bảo Việt có đủ trình độ và nên là đầu mối chuyển tải các văn bản quy phạm pháp luật về BHCNBB sang tiếng Anh để trình Bộ Tài chính ban hành.

Tiếp tục đọc

HỦY QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: CHẾ ĐỊNH CÒN NHIỀU ĐIỀU BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp 

Tiếp theo một số bài viết đã đăng phân tích một số tồn tại của Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam (về hình thức và nội dung của Quyết định trọng tài, về tuyên quyết định trọng tài theo nguyên tắc đa số, về công nhận và thi hành quyết định trọng tài…), chúng tôi xin giới thiệu bài viết về huỷ quyết định trọng tài – một chế định đang tồn tại trong pháp luật Việt Nam với rất nhiều điều bất cập. Ngoài việc mổ xẻ, phân tích, lập luận để thấy rõ những quy định vô lý của pháp luật hiện hành về trọng tài, tác giả còn vận dụng và dẫn chiếu kinh nghiệm nước ngoài để đưa ra các đề xuất cụ thể cho việc xây dựng Luật trọng tài thương mại hiện nay.

Sự thành công của trọng tài quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định trọng tài có được thi hành hay không. Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một quyết định trọng tài không được thi hành. Điều mà các bên mong muốn trong giải quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không phải là một tờ giấy ghi phán quyết. Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa chọn trọng tài một khi họ không tin tưởng vào tính thi hành của quyết định trọng tài. Ngược lại, giao lưu thương mại sẽ trở nên trôi chảy nếu các thương gia biết rõ rằng tranh chấp của họ có thể được giải quyết một cách hiệu quả. Việc xác định được tính thi hành của quyết định trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong sự lựa chọn có nên giải quyết tranh chấp hay không, bằng trọng tài hay Toà án, chọn trọng tài ở đâu và trong một số trường hợp có thể dẫn cả tới quyết định quan trọng của họ là có nên kinh doanh nữa hay không.

Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của phán quyết trọng tài là các quy định về huỷ quyết định trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh trường hợp quyết định trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ tiện.

So với quy tắc tố tụng của các thiết chế trọng tài quốc tế, cũng như pháp luật về trọng tài của các nước, thì Pháp lệnh trọng tài thương mại của Việt Nam dành một số lượng điều khoản nhiều hơn cả[i] để quy định về vấn đề huỷ quyết định trọng tài, từ các nguyên tắc huỷ quyết định trọng tài, cho đến thủ tục, trình tự huỷ quyết định trọng tài.

Cần phải nhấn mạnh một điều rằng, trong Chương về huỷ quyết định trọng tài, Pháp lệnh không làm rõ quyết định trọng tài thuộc đối tượng được các bên yêu cầu huỷ là quyết định gì. Theo Điều 37 và một số điều khác của Pháp lệnh, thì có rất nhiều loại quyết định trọng tài.[ii] Tuy nhiên, để làm rõ vấn đề này, điểm 5 Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ngày 31 tháng 7 năm 2003 hướng dẫn thi hành một số quyết định của Pháp lệnh trọng tài thương mại (Nghị quyết) đã xác định rõ quyết định trọng tài thuộc đối tượng bị các bên yêu cầu huỷ là quyết định trọng tài nêu tại Điều 44.[iii]

Tiếp tục đọc

CHẾ ĐỊNH THU HỒI TÀI SẢN TRONG CÔNG ƯỚC LIÊN HỢP QUỐC VỀ CHỐNG THAM NHŨNG VÀ KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA VIỆT NAM

THS. NGUYỄN QUỐC VĂN – Vụ Hợp tác quốc tế, Thanh tra Chính phủ

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế.

Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (sau đây gọi tắt là Công ước) là một điều ước quốc tế đa phương do các quốc gia và tổ chức quốc tế thoả thuận xây dựng nên, với mục tiêu là hình thành một khuôn khổ pháp lý toàn cầu cho sự hợp tác giữa các quốc gia nhằm phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình trạng tham nhũng đang trở thành vấn đề bức xúc của cộng đồng quốc tế. Công ước đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/10/2003 trong phiên họp lần thứ 58 tại Niu -oóc. Việt Nam đã tham gia đầy đủ 07 vòng đàm phán xây dựng Công ước trong thời gian từ tháng 3 năm 2002 đến tháng 10 năm 2003. Ngày 10/12/2003, tại Hội nghị cấp cao để ký Công ước được tổ chức tại Mê -hi-cô, thừa uỷ quyền của Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra nhà nước đã cùng đại diện của 95 quốc gia khác tham gia ký Công ước. Theo quy định của Luật Quốc tế, việc mỗi quốc gia ký Công ước chủ yếu là biểu đạt thiện chí chính trị mà chưa ràng buộc về mặt pháp lý với Công ước. Để trở thành thành viên chính thức của Công ước, các quốc gia phải thực hiện việc phê chuẩn hay gia nhập Công ước.

Trong quá trình nghiên cứu, chuẩn bị đề xuất cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phê chuẩn Công ước được tiến hành từ năm 2004 đến nay, thì vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng được quy định tại Công ước đã thu hút sự quan tâm chú ý đặc biệt của các bộ, ngành, các chuyên gia nghiên cứu và các cán bộ công tác thực tiễn, nhất là khi đánh giá các yêu cầu của Công ước đối với các quốc gia thành viên về vấn đề này và bàn về khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam.

Việc nghiên cứu, tìm hiểu các quy định của Công ước về vấn đề thu hồi tài sản tham nhũng, đồng thời rà soát, đánh giá thực trạng và khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, đồng thời tham chiếu kinh nghiệm của nước ngoài là sự cần thiết khách quan đối với các cơ quan chức năng của Việt Nam trong quá trình chuẩn bị đề xuất phê chuẩn thực thi Công ước. Những vấn đề cụ thể đã và đang đặt ra trong quá trình nghiên cứu là: (1) nhận thức đúng và thống nhất về chế định thu hồi tài sản tham nhũng và các quy định có liên quan; (2) đánh giá khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam ở thời điểm hiện tại và trong tương lai; (3) khẳng định việc Việt Nam có bảo lưu hay không bảo lưu chế định này khi phê chuẩn Công ước; (4) nhận định những khó khăn của Việt Nam khi thực hiện chế định này sau khi phê chuẩn Công ước; (5) đề xuất nội luật hoá để thực thi các quy định này phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi xung quanh các vấn đề trên.

Tiếp tục đọc

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN: 22 NĂM ĐI KIỆN CHƯA XONG

SONG AN

Đến khi hai bên đương sự thỏa thuận được thì vụ án lại bị tắc do tòa sai sót! Sau bốn năm khiếu nại, đương sự mới được tòa giải thích vì sao không ra quyết định công nhận hòa giải thành. Năm 1987, bà L. được hóa giá một căn nhà ở quận Phú Nhuận (TP.HCM). Sau khi đã đóng tiền mua, trong lúc chờ được cấp chủ quyền, bà bán lại nhà cho ông T. với giá năm lượng vàng. Hai bên thỏa thuận sau khi giao đủ vàng, bà L. sẽ giao nhà, sang tên cho ông T.

Hủy hợp đồng sai

Tháng 11 cùng năm, bà L. đã bảo lãnh cho gia đình ông T. vào ở dài hạn trong căn nhà này. Tuy nhiên sau đó, cho rằng ông T. chưa giao đủ vàng nên bà chưa giao toàn bộ căn nhà cho ông. Hai bên lục đục và ông T. khởi kiện ra TAND quận Phú Nhuận.

Đầu năm 1992, tòa quận xử sơ thẩm, tuyên hủy hợp đồng giữa hai bên, giao nhà lại cho phòng xây dựng quận giải quyết vì nhận định căn nhà đang thuộc sở hữu nhà nước, bà L. chưa làm thủ tục hóa giá. Ngay sau đó, cả hai bên đương sự đều kháng cáo rằng án sơ thẩm xử chưa đúng bởi bà L. đã ký hợp đồng mua hóa giá nhà từ giữa năm 1987, chỉ chờ cấp chủ quyền nữa là xong. Điểm khác nhau giữa hai bên là bà L. không muốn bán nhà nữa, còn ông T. vẫn muốn được giao nhà.

Giữa năm 1992, TAND TP xử phúc thẩm, kết luận tòa sơ thẩm hủy hợp đồng mua bán nhà là đúng. Ông T. khiếu nại. Giữa năm 1993, phó chánh án TAND tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, nhận định cấp phúc thẩm xử hủy hợp đồng là thiếu căn cứ. Trong trường hợp này, cần phải điều tra làm rõ vì sao ông T. chưa nộp đủ vàng cho người bán mà người bán lại làm giấy bảo lãnh cho ông cư trú dài hạn và cho ông được sửa chữa nhà. Trên cơ sở đó, nếu có đủ căn cứ ông T. đã giao đủ vàng mua nhà thì tòa chấp nhận hợp đồng mua bán.

Cuối năm, TAND tối cao đã chấp nhận kháng nghị, hủy cả hai bản án sơ, phúc thẩm để TAND TP xử lại theo hướng mà phó chánh án TAND tối cao kháng nghị.

Quên mời đại diện ủy ban

Một năm sau, TAND TP ra quyết định tạm đình chỉ vụ án vì bà L. bị xử lý hình sự trong một vụ khác. Căn nhà tranh chấp cũng chưa được cấp chủ quyền bởi bà L. phải đi thụ án tù.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: