VAI TRÒ CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG KINH TẾ, GHEN TỊ VÀ THIẾU THỐN TƯƠNG ĐỐI TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM

TRẦN NAM BÌNH – Atax, Faculty of Law, UNSW, Sydney, NSW 2052, Australia

1. Dẫn nhập

Tuy khẩu hiệu Đổi Mới đã chính thức xuất hiện tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI tháng 12 năm 1986, đa số các nhà nghiên cứu đồng ý dùng năm 1989 làm mốc bắt đầu cho quá trình xây dựng kinh tế thị trường tại Việt Nam.[1]  Trong trên dưới hai thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể: tăng trưởng cao,[2] xóa đói giảm nghèo nhanh, phát triển hạ tầng cơ sở, mở rộng mậu dịch quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, vv.  Tuy Việt Nam hiện nay đang gặp một số khó khăn kinh tế như lạm phát cao, thâm hụt tài khoản vãng lai, thị trường chứng khoán và bất động sản mất giá, nhưng đây có thể xem là những bất ổn định ngắn hạn mà Việt Nam có thể vượt qua với những chính sách vĩ mô và vi mô thích hợp và đồng bộ.  Thật ra, những khó khăn kinh tế hiện nay có thể xem là động cơ tốt cho Đổi Mới đợt hai cho Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO.  Nói khác đi, vấn đề chính của Việt Nam không phải là những bất ổn vĩ mô ngắn hạn, mà là phát triển bền vững.

Từ quan điểm cung, phát triển bền vững đòi hỏi sự tăng trưởng đồng bộ và hài hòa của các nhân tố sản xuất: vốn con người, vốn nhân tạo, vốn xã hội và vốn môi sinh.  Trong bốn nhân tố sản xuất đó, các nhà kinh tế thường ít chú ý đến vốn xã hội hơn cả.  Lý do chính cho sự sao lãng này là vì vốn xã hội là một ý niệm không cụ thể như các nhân tố sản xuất khác.  Vốn xã hội khó có thể xác định số lượng, và do đó không thể mang vào những mô hình kinh tế nghiêm túc.  Một vài thành phần của vốn xã hội gồm có sự thành thật, lòng tin và tính cộng tác của các tác nhân kinh tế.  Tuy nhiên, những khía cạnh này lại tùy thuộc rất nhiều vào sự phân phối thu nhập, tài sản và tiêu thụ giữa các thành viên trong xã hội.

Nói chung, sự phân bổ nguồn lực giữa các thành viên là một vấn đề hàng đầu cho tất cả xã hội văn minh, bất kỳ thời nào và bất kỳ chỗ nào.  Nó không phải là một vấn đề kinh tế đơn thuần, mà còn có chiều kích xã hội và chính trị quan trọng.  Trong lâu dài, bình đẳng/bất bình đẳng kinh tế có ảnh hưởng lớn lao đến sự ổn định/bất ổn định và ngay cả sự tồn vong của một cơ cấu xã hội hay thể chế chính trị.  Do đó, chúng ta không mấy ngạc nhiên khi thấy rằng sự phân phối các sản phẩm kinh tế giữa các thành viên trong xã hội là một trong bốn câu hỏi cơ bản nhất của bất kỳ nền kinh tế loại nào (truyền thống, thị trường, chỉ huy hay hỗn hợp): sản xuất hàng hóa nào và bao nhiêu, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai và phát triển kinh tế ra sao?  Đây là bốn câu hỏi luôn dược nhấn mạnh trong bài mở đầu của kinh tế học nhập môn.

Bài viết này tập trung vào góc cạnh phân phối thu nhập của phát triển bền vững.  Cụ thể hơn, bài viết xem xét vai trò của chênh lệch/bất bình đẳng kinh tế, lòng ghen tỵ và thiếu thốn tương đối phát triển bền vững tại Việt Nam.  Động cơ thúc đẩy bài tham luận này như sau.  Thứ nhất, như sẽ thảo luận trong phần kế, chênh lệch thu nhập tại Việt Nam có xu hướng tăng lên.  Cho đến nay, vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì xu hướng này sẽ ngừng hay đảo lại.  Thứ hai, các nhà kinh tế, nhất là kinh tế phát triển, tuy quen thuộc với các ý niệm như như biểu đồ Lorenz và chỉ số Gini,[3] nhưng có thể vẫn còn hơi xa lạ với ý niệm thiếu thốn tương đối.  Bài viết này muốn giới thiệu ý niệm thiếu thốn tương đối và những hàm ý chính sách của ý niệm này đến các người đọc quan tâm đến phát triển kinh tế tại Việt Nam.

Continue reading

Advertisements

BÁO CÁO THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ NĂM 2008 CỦA BỘ CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

TỔNG QUAN

Nền kinh tế Việt Nam năm 2008 đã phải trải qua rất nhiều khó khăn thách thức nhưng với sự năng động, tích cực của cộng đồng doanh nghiệp, thương mại điện tử Việt Nam vẫn kế thừa được sự phát triển sôi động của năm 2007 và đang dần đi vào chiều sâu, đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện trong những năm tới.

Báo cáo Thương mại điện tử Việt Nam 2008 được xây dựng trên cơ sở đánh giá kết quả 3 năm triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010, tình hình triển khai một số hoạt động về bảo vệ dữ liệu cá nhân và ứng dụng các tiêu chuẩn công nghệ hỗ trợ thương mại điện tử. Trên cơ sở đó, Báo cáo đề xuất những khuyến nghị nhằm thực hiện thành công Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử giai đoạn 2006 – 2010.

Phần tổng quan này sẽ điểm lại những nét nổi bật nhất của thương mại điện tử Việt Nam năm 2008. Mục tiêu chính là giúp người đọc nắm bắt nhanh tình hình phát triển thương mại điện tử Việt Nam qua những nét lớn này.

1. Thương mại điện tử đã được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp với hiệu quả ngày càng tăng

Kết quả điều tra với 1600 doanh nghiệp trên cả nước của Bộ Công Thương trong năm 2008 cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp đã triển khai ứng dụng thương mại điện tử ở những mức độ khác nhau. Đầu tư cho thương mại điện tử đã được chú trọng và mang lại hiệu quả rõ ràng cho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp đã quan tâm tới việc trang bị máy tính, đến nay hầu như 100% doanh nghiệp đều có máy tính. Tỷ lệ doanh nghiệp có từ 11–20 máy tính tăng dần qua các năm và đến năm 2008 đạt trên 20%. Tỷ lệ doanh nghiệp đã xây dựng mạng nội bộ năm 2008 đạt trên 88% so với 84% của năm 2007. Đến nay, có tới 99% số doanh nghiệp đã kết nối Internet, trong đó kết nối băng thông rộng chiếm 98%. Tỷ lệ doanh nghiệp có website năm 2008 đạt 45%, tăng 7% so với năm 2007. Tỷ lệ website được cập nhật thường xuyên và có chức năng đặt hàng trực tuyến đều tăng nhanh.

Một trong những điểm sáng nhất về ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp là tỷ lệ đầu tư cho phần mềm tăng trưởng nhanh, chiếm 46% trong tổng đầu tư cho công nghệ thông tin của doanh nghiệp năm 2008, tăng gấp 2 lần so với năm 2007. Trong khi đó, đầu tư cho phần cứng giảm từ 55,5% năm 2007 xuống còn 39% vào năm 2008. Sự dịch chuyển cơ cấu đầu tư này cho thấy doanh nghiệp đã bắt đầu chú trọng đầu tư cho các phần mềm ứng dụng để triển khai thương mại điện tử sau khi ổn định hạ tầng công nghệ thông tin. Doanh thu từ thương mại điện tử đã rõ ràng và có xu hướng tăng đều qua các năm. 75% doanh nghiệp có tỷ trọng doanh thu từ thương mại điện tử chiếm trên 5% tổng doanh thu trong năm 2008. Nhiều doanh nghiệp đã quan tâm bố trí cán bộ chuyên trách về thương mại điện tử.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 33/2009/NĐ-CP NGÀY 06/04/2009 CỦA CHÍNH PHỦ QUI ĐỊNH MỨC LƯƠNG TỐI THIỂU CHUNG

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006; Luật sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2007;

Căn cứ Nghị quyết số 56/2006/NQ-QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội khoá XI về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm giai đoạn 2006 – 2010;

Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH :

Điều 1. Quy định mức lương tối thiểu chung thực hiện từ ngày 01 tháng 5 năm 2009 là 650.000 đồng/tháng.

Điều 2.  Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này áp dụng đối với:

1) Cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

2) Đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; đơn vị sự nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; đơn vị sự nghiệp ngoài công lập được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

3) Công ty được thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước;

4) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

Điều 3. Mức lương tối thiểu chung quy định tại Nghị định này được dùng làm cơ sở:

1. Tính các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương, mức phụ cấp lương và thực hiện một số chế độ khác theo quy định của pháp luật ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức quy định tại Điều 2 Nghị định này.

2. Tính trợ cấp kể từ ngày 01 tháng 5 năm 2009 trở đi đối với lao động dôi dư theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lại công ty nhà nước.

Continue reading

MINH BẠCH KHI SỬ DỤNG TỪ “TẬP ĐOÀN”

LÊ VĂN TỨ

Hiện nay cả ở khu vực kinh tế nhà nước lẫn dân doanh, đã có một số doanh nghiệp được gọi là tập đoàn. Tuy nhiên, trong các luật doanh nghiệp chưa thấy ghi nhận loại hình doanh nghiệp tập đoàn, chỉ có doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH một/nhiều thành viên, công ty hợp danh.

Điều đó có nghĩa là chưa có những quy định pháp lý về điều kiện mà một doanh nghiệp phải có để có thể được gọi là tập đoàn.

Như vậy từ “tập đoàn” đã được đặt trong tên gọi một số doanh nghiệp hiện nay chỉ có thể coi là một phần tên riêng của doanh nghiệp đó mà thôi. Vì coi là tên riêng, nên bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể tự đăng ký tên mình là tập đoàn A, tập đoàn B… chỉ cần không trái quy định pháp luật về đặt tên doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo nhận thức chung hiện nay, nói đến “tập đoàn” thì nhiều người nghĩ tới doanh nghiệp rất lớn, tập hợp nhiều đơn vị, kinh doanh đa ngành, địa bàn hoạt động rộng, có thể cả ở nước ngoài. Cho nên thái độ chung của xã hội thường coi trọng và vị nể tập đoàn hơn các loại doanh nghiệp khác.

Với ưu thế tinh thần đó, nhất là trong điều kiện thiếu những tiêu chuẩn pháp lý rõ ràng, hiện tượng tùy tiện sử dụng từ “tập đoàn” để đặt tên doanh nghiệp, có thể kèm theo cả hàm ý lợi dụng, rất dễ xảy ra.

Quan sát những tập đoàn hiện hữu, có thể quy về hai loại. Một là những tập đoàn chỉ gồm một pháp nhân độc lập. Thực chất đó là một doanh nghiệp nhà nước, một công ty cổ phần hay một công ty TNHH, nhưng đặt tên là tập đoàn A, tập đoàn B…

Một loại tập đoàn khác là sự tập hợp nhiều pháp nhân độc lập, có thể thuộc nhiều thành phần kinh tế, tất nhiên trong đó có một doanh nghiệp lớn mạnh hơn, thường được gọi là công ty mẹ, giữ vai trò chủ đạo. Tập đoàn loại này không phải là một pháp nhân thống nhất. Tuy tham gia tập đoàn nhưng mỗi thành viên vẫn giữ pháp nhân độc lập của mình. Ngoài những trách nhiệm và quyền lợi đối với các thành viên khác trong tập đoàn, nhất là đối với công ty mẹ, họ còn có những trách nhiệm và quyền lợi đối với những đối tác bên ngoài.

Continue reading

QUI TRÌNH THỰC HIỆN DỊCH VỤ CUNG CẤP CHỨNG THỰC CHỮ KÝ SỐ

Quy trình thực hiện dịch vụ cung cấp chứng thực chữ ký số gồm các bước sau:

I. Đơn vị chủ trì: Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin

II. Cơ sở pháp lý:

1. Luật giao dịch điện tử 2005;

2. Nghị định số 26/2007/NĐ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số;

3. Quyết định số 40/2008/QĐ-BCT ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Bộ Công Thương về việc ban hành Quy chế quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thực số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của Bộ Công Thương.

III. Đối tượng điều chỉnh:

1. Tổ chức, cá nhân thuộc Bộ Công Thương, Sở Công Thương các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương.

2. Tổ chức, cá nhân khác lực chọn sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số của Bộ Công Thương trong các hoạt động giao dịch điện tử.

IV. Hồ sơ, thủ tục hành chính:

1. Hồ sơ đề nghị cấp chứng thư số

a) Giấy đề nghị cấp chứng thư số theo mẫu Phụ lục số 1 (Quyết định số 40/2008/QĐ-BCT ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương)

b) Bản sao hợp lệ quyết định thành lập của tổ chức quản lý thuê bao (*) đối với hồ sơ đề nghị cấp chứng thư số lần đầu (không áp dụng đối với các đơn vị thuộc Bộ Công Thương)

2. Đề nghị gia hạn chứng thư số

Giấy đề nghị gia hạn chứng thư số của thuê bao, có xác nhận của tổ chức quản lý thuê bao theo mẫu Phụ lục số 2 (Quyết định số 40/2008/QĐ-BCT ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương)

3. Đề nghị tạm dừng chứng thư số

a) Tổ chức quản lý thuê bao, thuê bao đề nghị tạm dừng chứng thư số gửi văn bản có xác nhận của tổ chức theo mẫu Phụ lục số 3 (Quyết định số 40/2008/QĐ-BCT ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương)

b) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền gửi yêu cầu tạm dừng chứng thư số của các thuê bao qua văn bản

4. Đề nghị khôi phục chứng thư số

a) Tổ chức quản lý thuê bao, thuê bao đề nghị khôi phục chứng thư số gửi văn bản có xác nhận của tổ chức theo mẫu Phụ lục số 4 (Quyết định số 40/2008/QĐ-BCT ngày 31 tháng 10 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Công Thương)

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: DÙNG DẰNG MỘT VỤ THI HÀNH ÁN

VĂN ĐOÀN

Viện lẽ cần chờ ý kiến của TAND tối cao, cơ quan thi hành án đã lần lựa hơn hai năm nay. Năm 2005, ông D. có mua một căn nhà tại xã Quang Trung, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai và đã được cấp giấy chủ quyền hợp pháp. Lúc đó, bà P. đang sử dụng nhà do được chủ cũ cho ở nhờ từ năm 1987. Sau nhiều lần đòi nhà không được, ông D. đã kiện bà P. ra tòa.

Tháng 12-2006, bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai đã xử cho ông D. thắng kiện. Theo tòa này, tuy bà P. khai “nhà đất này được chủ cũ cho chứ không phải ở nhờ” nhưng lại không được chủ cũ thừa nhận. Mặt khác, bà P. cũng không có giấy tờ gì thể hiện đã được chủ cũ cho nhà. Trong suốt quá trình sử dụng, bà P. không thực hiện việc đăng ký, kê khai xin cấp giấy chứng nhận để khẳng định quyền lợi hợp pháp của mình. Các nhân chứng do bà P. cung cấp cũng chỉ khai biết bà P. sống trong nhà này từ năm 1987 chứ không ai biết bà P. có được chủ cũ tặng cho hay không. HĐXX phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D., buộc bà P. giao trả căn nhà đang ở cho ông D. Bà P. được quyền lưu cư sáu tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, HĐXX cũng tách và dành cho bà P. quyền khởi kiện về khoản tiền mà bà đã tu bổ, sửa chữa nhà khi có yêu cầu sau khi thực hiện nghĩa vụ giao nhà đất cho ông D.

Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông D. đã nộp đơn yêu cầu thi hành án nhưng đến nay Thi hành án huyện Thống Nhất vẫn chưa chịu thi hành.

Trao đổi với PV Báo Pháp Luật TP.HCM sáng 7-4, ông Trần Anh Dũng, Trưởng Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, cho biết: “Sau khi nghiên cứu hồ sơ và xác minh thực tế, chúng tôi không thể thi hành bản án trên với lý do bà P. đã tu bổ, sửa chữa căn nhà trước khi có bản án nhưng chưa được tòa xem xét đến. Mặc dù bản án có dành quyền khởi kiện cho bà P. về khoản tu bổ, sữa chữa nhà nhưng bà P. đã không khởi kiện mà khiếu nại đến TAND tối cao theo thủ tục giám đốc thẩm. Theo mục 12.1 Công văn 404 ngày 24-2-2005 của Bộ Tư pháp, nếu việc xây dựng, sửa chữa hoặc cải tạo được thực hiện trước khi bản án, quyết định được tuyên thì cơ quan thi hành án cần có công văn yêu cầu tòa án đã ra bản án, quyết định đó giải thích rõ nội dung bản án, quyết định về vấn đề này hoặc đề nghị tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án , quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Căn cứ vào quy định này, chúng tôi đã gửi công văn đề nghị TAND tỉnh Đồng Nai giải thích bản án nhưng tòa tỉnh chỉ trả lời “cứ thi hành theo bản án đã tuyên” mà không giải thích gì. Không còn cách nào khác, chúng tôi đã đề nghị thi hành án tỉnh chỉ đạo nghiệp vụ và thi hành án tỉnh đã hướng dẫn chúng tôi gửi công văn yêu cầu tòa án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án. Chúng tôi đã làm đúng như thế nhưng gần hai năm nay vẫn chưa nhận được phản hồi nào từ TAND tối cao”.

Continue reading

CON ĐƯỜNG CỔ PHẦN HÓA SẼ THAY ĐỔI

HỒNG PHÚC thực hiện

TS. Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Vĩ mô – Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), cho rằng con đường cổ phần hóa sẽ thay đổi. Nhà nước dù vẫn giữ vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) song sẽ đến lúc phải thiết lập một định chế chuyên trách làm nhiệm vụ chủ sở hữu các DNNN, công khai các chiến lược đối với DNNN và cổ phần hóa (CPH) sẽ là một công cụ trong đó.

TBKTSG: Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng thị trường chứng khoán suy giảm mạnh là nguyên nhân gây chậm trễ cho chương trình CPH năm qua?

– Ông NGUYỄN ĐÌNH CUNG: Tôi không quan tâm đến chuyện chậm hay không chậm trong CPH, đặc biệt là việc bán tài sản nhà nước. Vì nếu chúng ta chỉ để ý đến tiến độ thì sẽ tạo ra một áp lực và sẽ phải đánh đổi giữa thời gian và hiệu quả, mà mục tiêu cần đạt phải là hiệu quả.Hiệu quả tùy vào thước đo của mình, có thể đó là việc đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển ổn định, phát triển công nghệ, thị trường, mở mang lao động…

Tôi vẫn phản đối việc đặt ra thời hạn năm này phải bán được từng này doanh nghiệp, cái đó dẫn tới việc lạm dụng hoặc người thực hiện bị thúc ép. Tôi cho rằng kế hoạch và trọng tâm của Nhà nước trong việc sắp xếp lại DNNN là thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước chứ không phải là CPH. CPH là cái đương nhiên phải làm vì không làm thế doanh nghiệp không phát triển được.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung: “CPH là phương tiện, chứ không phải mục tiêu. Có nhiều cách để tái cơ cấu DNNN nhưng phải đặt trong điều kiện cụ thể. Nếu CPH để chuyển độc quyền mà không tạo ra một môi trường cạnh tranh thì CPH chỉ chuyển từ độc quyền nhà nước sang độc quyền tư nhân”.

Cổ phần hóa không nên chịu áp lực bởi bất cứ điều gì, cả về thời gian, mà chỉ nên chịu áp lực bởi cá nhân nhà nước với tư cách chủ sở hữu. Theo tôi, CPH nếu chưa xác định mục tiêu tổng thể thì đừng vội cổ phần hóa. Tôi coi CPH là phương tiện, chứ không phải mục tiêu.

Có nhiều cách để tái cơ cấu DNNN nhưng phải đặt trong điều kiện cụ thể. Nếu CPH để chuyển độc quyền mà không tạo ra một môi trường cạnh tranh thì CPH chỉ chuyển từ độc quyền nhà nước sang độc quyền tư nhân. Khi đó, CPH còn tai hại hơn nhiều so với không làm gì.

Continue reading

KỂ TỪ NGÀY 31 THÁNG 12 NĂM 2009: DỰ KIẾN MỖI CÁ NHÂN CHỈ ĐƯỢC SỞ HỮU TỪ 3 ĐẾN 5 SIM ĐIỆN THOẠI

VƯƠNG TRẦN

Con số giật mình trên vừa được Bộ Thông tin và Truyền thông (TTTT) đưa ra tại Hội nghị sơ kết triển khai Quyết định về quản lý thuê bao di động trả trước vừa diễn ra tại Hà Nội. Theo đó, trên cả nước có khoảng 500.000 người dùng chứng minh thư của mình đăng ký trên 50 sim điện thoại…

Doanh nghiệp “tiếp tay” cho việc này!

Theo Bộ TTTT, với những đối tượng này, Bộ quy định thời gian cho đăng kí lại thông tin là 30 ngày. Sau thời gian này mà chủ thuê bao không đăng kí lại thông tin thì đình chỉ cung cấp dịch vụ. Thời hạn cuối cùng dừng cung cấp dịch vụ đối với các thuê bao nói trên không đăng kí lại thông tin là ngày 30.5. ông Nguyễn Văn Hùng, Phó Chánh Thanh tra Bộ TTTT cho biết, còn khoảng 20, 7 triệu thuê bao điện thoại di động chưa đăng kí, trong đó nhiều nhất là Mobifone có hơn 10 triệu thuê bao, Viettel 5, 6 triệu, Vinaphone 3, 2 triệu, SPT 1, 1 triệu…

Đã có khoảng 69, 3 triệu thuê bao có thông tin đăng kí, chiếm 79% tổng số thuê bao di động trên toàn mạng. Tỉ lệ này trong từng mạng chiếm từ 50 đến 80%. Từ 1.1.2008, gần 100% người bắt đầu sử dụng dịch vụ di động trả trước đã đăng kí thuê bao. Tuy nhiên "hiện nay, số lượng sim được đăng kí thông tin của chủ điểm giao dịch, sim đăng kí thông tin không có thật trước khi bán cho người sử dụng rất lớn. Người sử dụng dễ dàng mua được các sim này ở bất cứ điểm bán sim tự do nào, đặc biệt ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh", ông Hùng thừa nhận.

ông Nguyễn Xuân Trụ, Vụ phó Vụ Viễn thông cho biết thêm, độ chính xác của thông tin chưa cao, kể cả đối với những thuê bao đăng kí mới. Nguyên nhân là do công tác tiền kiểm tại các điểm giao dịch ủy quyền chưa tốt, công tác hậu kiểm chưa được triển khai. Còn có cả hiện tượng các điểm giao dịch sử dụng các bộ kích hoạt sim trước để kích hoạt sim với số lượng lớn. Chính các doanh nghiệp thuê bao di động đã “tiếp tay” cho hành động này bằng cách trả tiền đăng kí thông tin khoảng 12.000 đồng /sim.

Hơn 50% các điểm giao dịch vi phạm

Đó là con số được Thanh tra Bộ TTTT đưa ra và nhận định hầu hết các điểm giao dịch này đều vi phạm quy chế đăng ký thông tin thuê bao. Các vi phạm chủ yếu là không thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu đăng kí thông tin cá nhân mới được mua SIM, hoặc dùng thông tin cá nhân ảo, không chính xác để kích hoạt SIM. Điển hình như Vinaphone đã phát hiện gần 50.000 SIM được kích hoạt trên hệ thống song chỉ có 57% số thuê bao có phát sinh lưu lượng. Như vậy 43% còn lại là thuê bao ảo với thông số nhân thân không chính xác.

Theo Thứ trưởng Bộ TTTT Lê Nam Thắng, để có thể quản lí các thuê bao trả trước và đưa hoạt động đăng kí thông tin cá nhân khách hàng vào nề nếp thì trước hết bản thân các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông cần thực sự nhận thức được việc quản lí thuê bao trả trước là góp phần đảm bảo quyền lợi cho chính nhà cung cấp, từ đó có quyết tâm và biện pháp thực thi hiệu quả.

Continue reading

%d bloggers like this: