Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

SUY NGẪM 35

HAN_8029 Văn hóa Việt Nam lại bị “xâm thực” bởi những yếu tố phi văn hóa:

– Để trùng tu các công trình di sản văn hóa vật thể, cá nhân và một số cơ quan có thẩm quyền về quản lý văn hóa thực hiện bằng việc đập phá những gì ông cha để lại và thay cái mới để trông “giống xưa” hơn!

– Lễ hội Hoa Anh Đào năm 2009 tổ chức  “thành công” bằng việc được tổ chức như “chợ” mang “bản sắc Việt Nam”: Đa phần cây Anh Đào ở lễ hội là giả, mỗi cây có hàng chục người trông giữ, người ta xem hoa dưới sự giám sát của cảnh sát  và biển nhắc nhở rất Việt Nam “thương hoa” xin đừng hái… nhưng vẫn náo nức, chen chúc để xem, để ngắm, để chụp hoa nhưng là hoa giả …

Đất nước ta đã có một nền văn hóa hàng nghìn năm, xin đừng “thử nghiệm”, “thử thách” gì thêm nữa!

CIVILLAWINFOR

Advertisements

BÌNH LUẬN VỀ PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI: BÀN VỀ CHẾ ĐỊNH THỎA THUẬN TRỌNG TÀI

VIAC

Các quy định về Thỏa thuận trọng tài được quy định tại Chương I và II của Pháp lệnh Trọng tài Thương mại 2003 (Pháp lệnh). Pháp lệnh đã làm rõ được khái niệm hình thức và giá trị của Thỏa thuận trọng tài cũng như tính độc lập của điều khoản trọng tài so với hợp đồng. Về cơ bản, những quy định này tương thích với các quy định của Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của UNCITRAL (Luật Mẫu) và pháp luật trọng tài của nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, Pháp lệnh chưa bao quát được một cách đầy đủ về tính đồng bộ và hệ thống các quyđịnh về Thỏa thuận trọng tài. Cụ thể:

Trọng tài có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng hay không?

Trong phần định nghĩa về Thỏa thuận trọng tài (Điều 2 Khoản 2), Pháp lệnh chưa làm rõ được vấn đề tranh chấp phát sinh từ quan hệ ngoài hợp đồng có được giải quyết bằng Trọng tài hay không. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền của Trọng tài cũng như việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài. Theo Điều 2 Khoản 2 của Pháp lệnh thì Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng Trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại. Như chúng ta đều biết, quan hệ thương mại rất đa dạng và phong phú. Nhiều quan hệ có thể xác định bằng hợp đồng cụ thể được ký kết giữa các bên. Tuy nhiên, cũng có nhiều tranh chấp không phát sinh từ quan hệ hợp đồng, ví dụ tranh chấp phát sinh do việc đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như tàu đâm va cầu cảng, tàu đâm va nhau v.v…

Hiểu theo định nghĩa trên thì các tranh chấp không có quan hệ hợp đồng cũng có thể được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài. Do đó, để hạn chế tối đa những rủi ro trong việc áp dụng luật, Pháp lệnh cần cụ thể hóa việc xác định thẩm quyền của Trọng tài tương thích với Luật Mẫu. “Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận mà các bên đưa ra Trọng tài mọi tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng” (Điều 7 Khoản 1). Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài cũng quy định rất rõ về vấn đề này “Mỗi quốc gia thành viên sẽ công nhận một thỏa thuận bằng văn bản, theo đó các bên cam kết đưa ra trọng tài xét xử mọi tranh chấp đã hoặc có thể phát sinh giữa các bên từ một quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không, liên quan đến một đối tượng có khả năng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài” (Điều II). Luật Trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới như Luật Trọng tài Anh, Luật Trọng tài Đức, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tài Nga, Luật Trọng tài Nhật Bản v.v… đều quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng đều được giải quyết bằng Trọng tài.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ, TÍNH ĐẶC THÙ VÀ VẤN ĐỀ Ở VIỆT NAM

TS. HỒ BÁ THÂM – Viện nghiên cứu phát triển TP. HCM

Cái phổ biến bao giờ cũng tồn tại thông qua cái đặc thù, cái đặc thù nào cũng gắn liền với cái phổ biến, không có cái nào tồn tại thuần túy tự nó. Nghiên cứu cái đặc thù bao giờ cũng phức tạp, khó phân định hơn. Điều đó cũng đúng với trường hợp xã hội dân sự (XHDS). XHDS ở Việt Nam cả lý thuyết, đường lối và thực tế đang đặt ra nhiều câu hỏi phải trả lời.

Đúng là ngày nay, XHDS có tính phổ biến, tinh toàn cầu, dù rằng các dân tộc tiến đế nó một cách nhanh chậm khác nhau và phát huy nó khác nhau. XHDS nói chung là sự tự tổ chức của nhân dân để thực hiện quyền làm chủ của mình, vì lợi ích của chính mình, ngoài phương thức nhà nước và thị trường. Trong quan hệ với nhà nước và thị trường, nó có cả hợp tác, đối tác và đối lập biện chứng hay nói đúng hơn là đối trọng, dù có thể mặt nào là chính là tùy theo từng chế độ chính trị và truyền thống văn hóa, tương quan lực lượng. Chủ thể quyền lực không chỉ là nhà nước mà có cả quyền lực xã hội dân sự và quyền lực thị trường.

Nhưng XHDS là sản phẩm cụ thể của từng dân tộc, nó có tính phổ biến và cả tính đặc thù.

XHDS là sản phẩm của cái gì?

Phải chăng XHDS chỉ là sản phẩm của nhà nước pháp quyền? Đúng nhưng không đủ. XHDS ra đời trước hết là do kinh tế thị trường đòi hỏi quyền tự do kinh doanh và được bảo vệ lợi ích của mình. Nhưng thị trường chỉ lo kinh tế, lo lợi nhuận là chính, ít quan tâm và không lo được các vấn đề xã hội, lợi ích dân sinh. Đồng thời, nhà nước cũng chỉ lo được những vấn đề lớn, nguồn lực, năng lực cũng có hạn, nên các tổ chức xã hội do dân lập ra phải tự lo lấy và giải quyết các vấn đề của mình. Xã hội tự nó cũng có nhu cầu tự tổ chức, tự thể hiện và tự vệ. Hơn nữa nhờ có XHDS đó mà tránh được phần nào sự lạm quyền từ cả kinh tế thị trường và nhà nước. Các tổ chức xã hội ở nước ta trước đây, có khi xuất hiện còn do cảc nhu cầu vận động nhân dân chống ngoại xâm, hay tự vệ. Hiến pháp năm 1946 cũng cho phép nhân dân tự lập Hội. Nhưng ngày nay với nền kinh tế mới, nhà nước pháp quyền nên dân chủ của nhân dân, thì dân tự do lập hội, để thể hiện và bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. XHDS vì vậy tạo nên một mạng lưới tổ chức rộng khắp và đa tầng.

Đúng là XHDS không chỉ bị chi phối bởi kinh tế thị trường, mà cả nhà nước pháp quyền. Nhưng chưa đủ, mà nó còn bị chi phố khá mạnh về truyền thống văn hóa nói chung và văn hóa chinh trị nói riêng, và phụ thuộc vào cả sự tương quan lực lượng xã hội của nó.

Continue reading

NHỮNG ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý VỀ CHÍNH SÁCH KINH TẾ TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG

NGUYỄN QUẾ ANH – CSTT (Dịch từ BHF bank)

Từ nửa cuối năm 2008, kinh tế toàn cầu suy giảm nhanh chóng và dự kiến sẽ còn tiếp tục còn suy giảm với quy mô khó lường trước trong năm 2009: Ở ba khu vực kinh tế lớn Mỹ, EU và Nhật, GDP thực tế giảm trên 2% trong năm 2008 – một phần do người tiêu dùng và các công ty giảm chi tiêu trong bối cảnh triển vọng kinh tế ảm đạm, và một phần do thắt chặt tài trợ.

Khủng hoảng cũng đang ảnh hưởng đến các thị trường mới nổi, chẳng hạn như Trung Quốc năm nay tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng chỉ đạt 5%, chỉ bằng một nửa của tốc độ tăng trưởng năm ngoái. Sức cầu yếu từ các nước công nghiệp, giá các hàng hoá suy giảm mạnh và các thị trường chứng khoán khó có khả năng phục hồi đều gây những khó khăn cho các quốc gia mới nổi.

NHTW và các nhà hoạch định chính sách đang cố gắng hành động để ngăn chặn sự sụp đổ kinh tế toàn cầu. Các chính sách được chú trọng trước tiên là các biện pháp để ổn định hệ thống tài chính: Những biện pháp này bao gồm việc mở rộng cho vay của NHTW, tái cơ cấu vốn hoặc thậm chí quốc hữu hoá ngân hàng, bảo lãnh cho các tài sản nợ của ngân hàng và thúc đẩy các cơ chế đảm bảo tiền gửi. Thứ hai, là các biện pháp ổn định hoạt động kinh tế thông qua. Các chương trình chi tiêu thông thường từ trợ cấp bằng tiền và cắt giảm thuế đến viện trợ cho những ngành nhất định, ví dụ như ngành công nghiệp ô tô và xây dựng dân dụng. Cắt giảm lãi suất cũng có thể là một trong các biện pháp ổn định hoạt động kinh tế.

Một số lượng lớn tiền đang được huy động cho các gói cứu trợ: Các phương tiện truyền thông đã nói về những con số khổng lồ hàng tỷ Euro. Vào giữa năm 2008, chính phủ Mỹ đã thông qua gói 150 tỷ USD thuế tiền mặt, vào mùa thu Mỹ tiếp tục đưa ra gói giải cứu các tài sản xấu (TARP) trị giá 700 tỷ USD và tháng 2/09 gói kích thích kinh tế trị giá 800 tỷ USD cũng đã được thông qua. Nhiều nước khác bao gồm Anh, Nhật, Pháp và Trung Quốc cũng đang đưa ra các gói giải pháp với quy mô tương tự. Chính phủ Đức đã đưa ra một gói 500 tỷ Euro để hỗ trợ hệ thống ngân hàng; tháng 11/08, Chính phủ nước này đã công bố 31 tỷ Euro kích thích kinh tế và tháng 1/09 đưa ra gói giải pháp thứ 2 trị giá 50 tỷ Euro.

Cùng thời điểm, các bảng cân đối của các NHTW đang tăng cao. Trong suốt năm 2008, bảng cân đối của ECB đã mở rộng một khoản trên 500 tỷ Euro – tăng hơn 1/3. Điều này chủ yếu do cấp vốn cho các tổ chức tín dụng sau khi thị trường liên ngân hàng gần như cạn kiệt vốn khả dụng và cần cung cấp khẩn cấp thanh khoản. Đối với Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), năm ngoái bảng cân đối đã tăng thêm 1.340 tỷ USD, tương đương gần 150% lên tới 2.266 tỷ USD.

Continue reading

NÊN TĂNG HAY GIẢM LÃI SUẤT CƠ BẢN?

VŨ HẠNH

Câu hỏi đặt ra là có nên tiếp tục giảm lãi suất cơ bản đối với VND hay không, và việc này có ảnh hưởng như thế nào đến gói hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ? Theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các nước hạ lãi suất ở mức thấp, một nước đang phát triển nếu không theo xu hướng như vậy sẽ phải trả một giá rất đắt cho sự ổn định của mình. Khi áp dụng vào Việt Nam, mức độ hạ lãi suất như thế nào thì phải tuỳ thuộc tình hình thực tiễn hiện nay.

Lãi suất lượn như… lươn

Theo Thạc sĩ Phạm Xuân Hoè – Giám đốc Chi nhánh Nam Thăng Long của Vietinbank, nhìn vào sơ đồ lãi suất của các Ngân hàng thương mại (NHTM) trong năm 2008 và những tháng đầu năm 2009 đã có 10 lần điều chỉnh lãi suất (6 tháng đi lên, 6 tháng đi xuống đạt đáy mới). Điều này đã tác động lên toàn bộ bảng cân đối của các ngân hàng. “Có những thời điểm, lãi suất 3 tháng lại cao hơn lãi suất (LS) 12 tháng và thậm chí lãi suất tuần của các NHTM lại rất gần với lãi suất 12 tháng, thậm chí có lúc cao hơn” – ông Phạm Xuân Hoè nói.

Trong giai đoạn này, các NHTM còn vướng vào một cái khó nữa là “LS đầu vào giảm rất chậm vì tất cả kỳ hạn huy động 6-9-12 tháng của dân cư không thể điều chỉnh được, còn với các hợp đồng của các tổ chức kinh tế thì phải trả giá thì mới điều chỉnh được LS”.

Từ thực tế huy động LS như trên, ông Phạm Xuân Hoè cho biết, đã dẫn đến tình trạng “Thu nhập cận biên (là thu nhập của phần lãi cho vay, đầu tư, trừ đi phần chi trả lãi, chia cho tài sản thì ra lãi thực tế-NIM) chi nhánh nào giỏi lắm chỉ còn 1,5-1,8%. Đây là con số rất thấp so với bình quân chung của thế giới và khu vực (ở mức 3-3,5%). NHTM chạy đua lãi suất, rồi chạy giảm lãi suất và đến bây giờ có xu hướng tăng lên”.

Tác động của chính sách tiền tệ và giải pháp tình thế tạo ra những tiền lệ ngược ở Việt Nam. Ví dụ, LS huy động tiền gửi ngắn hạn lại cao hơn huy động dài hạn. Điều này không phù hợp với thông lệ quốc tế và rất khó khăn cho các NHTM trong áp dụng biện pháp chống đỡ rủi ro lãi suất bằng cân đối kỳ hạn bình quân…

Một điều dễ nhận thấy nữa là trong quãng thời gian này các NHTM nhỏ dẫn dắt cuộc chơi chứ không phải là các NH lớn. Vì khi các NHTM nhỏ không đủ khả năng thanh khoản thì đẩy lãi suất huy động lên cao, thậm chí lãi suất tiết kiệm tuần rất cao… để hút vốn của các NHTM lớn.

Continue reading

KINH DOANH CÔNG SẢN

VOV – Vụ việc “kinh doanh công sản” của Viện Nghiên cứu Công nghệ và Phát triển SENA (gọi tắt là Viện SENA) có trụ sở bề thế tại tòa nhà 35 Điện Biên Phủ đang được dư luận đặc biệt quan tâm trong những ngày vừa qua. Ông Viện trưởng Nguyễn Sơn Lộ đã lý giải vụ việc này như thế nào? Cơ quan chức năng của thành phố Hà Nội sẽ xử lý ra sao?

Lý lẽ của ông Viện trưởng

17h00, ngày 17/3/2009, chúng tôi có mặt tại tòa nhà 35 Điện Biên Phủ theo lời hẹn làm việc của Viện trưởng Nguyễn Sơn Lộ. Tại buổi làm việc này, ông Lộ thừa nhận: Viện SENA không có các tổ chức như Chi bộ, Công đoàn, Đoàn Thanh niên… Viện cũng chỉ ký hợp đồng với “khoảng 7 đến 8 người”. Lý giải điều này, ông Lộ cho biết: Viện là một hệ thống bao gồm cơ quan Viện và các đơn vị trực thuộc. Cơ quan Viện có tư cách pháp nhân là viện nghiên cứu ứng dụng. Các đơn vị trực thuộc Viện có tư cách pháp nhân là các Công ty cổ phần.

Lý giải của ông Nguyễn Sơn Lộ rõ ràng là rất cần được làm rõ. Nhưng ông Lộ cho rằng đây là vấn đề nội bộ nên không đồng ý cung cấp cụ thể, kể cả những ai được Viện ký hợp đồng, được hưởng lương, đóng bảo hiểm xã hội (mà theo đơn tố cáo thì chỉ có 5 người là nhân viên kỹ thuật, bảo vệ, lái xe, nhân viên lễ tân và nhân viên tạp vụ) ông Lộ cũng cho rằng không quan trọng mà chỉ nói “khoảng 7 đến 8 người”.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng cho thuê nhà và Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg ngày 27/1/2007 của Thủ tướng Chính phủ về xử lý, sắp sếp cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu Nhà nước, Sở Xây dựng Hà Nội đề nghị UBNDTP. Hà Nội cho phép xử lý thu hồi lại toàn bộ diện tích nhà tại 35 phố Điện Biên Phủ.

Tuy nhiên, theo Điều lệ hoạt động của Viện SENA được ban hành theo Quyết định 134/TC-LHH ngày 3/3/2000 của Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam thì các đơn vị trực thuộc của Viện SENA là: Văn phòng, các phòng ban và các Trung tâm; không hề có hệ thống các Công ty cổ phần. Trong khi đó, theo qui định của pháp luật, cụ thể là theo Điều 77 Luật Doanh nghiệp, thì Công ty cổ phần không phải là đơn vị trực thuộc của bất kỳ tổ chức nào, nếu Viện SENA có góp vốn thì cũng chỉ là một trong những cổ đông thành lập Công ty mà thôi.

Việc ông Lộ tự ý ra quyết định bổ nhiệm bà Thạch Lê Anh làm Phó Viện trưởng SENA mà theo Điều lệ qui định thuộc thẩm quyền của Liên hiệp các hội KHKT, ông Lộ lý giải: Có 2 loại Viện phó, một là “Viện phó vĩnh viễn”, hai là “Viện phó Chương trình”. Bà Thạch Lê Anh thuộc loại thứ hai – Viện phó Chương trình – nên thuộc thẩm quyền ông Lộ bổ nhiệm. Tuy nhiên, trong Điều lệ của SENA lại không hề có chức danh “Viện phó Chương trình”. Thực tế, trong các văn bản mà chúng tôi thu thập được, bà Thạch Lê Anh đều ký với chức danh “Phó Viện trưởng SENA”!..

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: