Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

LÀM LUẬT SAI – XỬ LÝ THẾ NÀO?

Đ.H

Các quy định của các cơ quan công quyền nếu sai trái và bất hợp lý sẽ dẫn đến những hậu quả xấu cho xã hội. Hàng loạt các văn bản pháp luật của nhiều cấp, nhiều ngành có dấu hiệu vi phạm bị phát hiện và thu hồi trong thời gian qua đã góp phần làm hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả mà xã hội phải gánh chịu.

Trong các vụ việc như thế, người làm luật – tác giả của những qui phạm pháp luật sai trái, tất nhiên sẽ phải chịu trách nhiệm về những sai lầm của mình. Nhưng các biện pháp xử lý liệu đã đủ mạnh, đủ nghiêm?

Những quy định cười ra nước mắt

Quyết định (QĐ) số 33, 34 về tiêu chuẩn sức khỏe của người tham gia giao thông của Bộ Y tế được coi là một sự kiện phản cảm của năm 2007. Đến nỗi nó không chỉ bị đưa vào Chương trình “Gặp nhau cuối năm” (một chương trình truyền hình chuyên tổng kết các sự kiện phản cảm của năm bằng các màn trình diễn hài hước) mà còn bị đưa với thời lượng đáng kể trong màn thi Hoa táo khiến khán giả cười lăn lộn.

Đây là một văn bản pháp luật có nhiều vi phạm cả về hình thức lẫn nội dung. Trong đó, điểm bất hợp lý dễ thấy nhất và bị dư luận phản bác nhiều nhất đó là quy định những người thấp bé nhẹ cân (cao chưa  đủ 1,45m, nặng chưa tới 40kg) hoặc ngực lép (vòng ngực trung bình dưới 72cm)… không đủ điều kiện lái xe gắn máy từ 50 đến 175cm3.

Cũng bởi vậy mà dư luận hài hước gọi đây là “Quyết định ngực lép” và ngay khi nó được ban hành, đã có nhiều người đặt câu hỏi rằng, nếu cứ lấy vòng ngực làm căn cứ ngực lép dưới 72 cm không được đi xe gắn máy thì vòng ngực cỡ “hàng khủng” như T. “top”, một hotgirl nổi tiếng về ngực bự phải đủ tiêu chuẩn lái… xe tăng hay sao(!).

May thay, quyết định này vừa được ban hành, chưa kịp gây hậu quả thì đã bị Cục Kiểm tra văn bản pháp luật Bộ Tư pháp kịp thời phát hiện những sai sót và “tuýt còi” yêu cầu đình chỉ ngay. Là cơ quan hậu kiểm, tức là kiểm tra các văn bản pháp luật sau khi đã ban hành, Cục đã phát hiện ra những nội dung trái pháp luật của quyết định này.

Thứ nhất, việc đưa ra quá nhiều tiêu chuẩn lái xe đối với những người có thể hình nhỏ bé khiêm tốn làm hạn chế quyền Hiến định của công dân trong việc sử dụng tài sản, phương tiện giao thông. Mặt khác, tạo ra sự phân biệt đối xử không cần thiết đối với những công dân có thể hình nhỏ bé. Hơn nữa, việc đặt ra quá nhiều tiêu chuẩn là không bảo đảm yêu cầu về cải cách hành chính. Từ đó có thể gây phiền hà cho người dân cũng như dễ dẫn đến tiêu cực trong việc khám, chứng nhận sức khỏe để cấp bằng lái xe.

Thứ hai, căn cứ Luật Giao thông đường bộ cũng như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì việc Bộ Y tế tự ban hành Quyết định 33, 34 là không đúng thẩm quyền. Điều 55 của Luật Giao thông đường bộ quy định: Bộ trưởng Bộ GTVT thống nhất với Bộ trưởng Bộ Y tế quy định cụ thể về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe và quy định việc khám sức khỏe định kỳ đối với người lái xe ôtô.

Continue reading

Advertisements

SỬ DỤNG HỢP LÝ CÔNG CỤ LÃI SUẤT CƠ BẢN

TS. ĐOÀN THỊ HỒNG

Nhìn lại khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, mặc dù chưa đầy một năm nhưng mọi ngành trong nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều thời điểm biến động ngoài dự tính. Xét riêng trong lĩnh vực tiền tệ, ngành ngân hàng đang ở vị trí cao trong danh mục đầu tư thì cũng đã lùi lại trước tác động của yếu tố lạm phát. 

Sự vận hành của thị trường đã đến lúc phải có sự can thiệp của nhà nước. Với chủ trương thắt chặt tiền tệ, kiểm soát lạm phát của Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt thông qua các công cụ vĩ mô. Trong đó, lãi suất cơ bản được phát huy tác dụng bởi Quyết định 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 của Thống đốc NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam. Theo đó, các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong bối cảnh nền kinh tế xoay chiều đi theo hướng không thuận lợi, việc xác định nhân tố trọng yếu và tìm đối sách thích ứng kìm hãm lại chiều hướng đi xuống của nền kinh tế là vô cùng quan trọng. Một quyết định đúng đắn, đúng thời điểm sẽ mang lại hiệu quả vượt trội.

Sự cần thiết của việc điều hành chính sách tiền tệ bằng lãi suất cơ bản

Cuối năm 2007, lạm phát trong nước đã có dấu hiệu gia tăng, nếu để cho thị trường tiếp tục tự vận hành thì dẫn đến thất bại của thị trường. Do đó, cần phải có sự can thiệp của nhà nước để đưa thị trường đi đúng hướng. Việc điều hành lãi suất theo sát tín hiệu thị trường, có thể giúp các NHTM định hướng được mức lãi suất hợp lý, tạo nên mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đảm bảo hài hoà lợi ích giữa người gửi, TCTD và người đi vay. Công cụ được NHNN chú trọng là lãi suất cơ bản, vốn tồn tại sau một thời gian dài mờ nhạt.   

Lãi suất cơ bản trước đây chỉ mang tính định hướng và tham khảo nhưng khi lạm phát tăng đột biến, cơn bão giá đã tác động đến mọi ngành trong nền kinh tế, an sinh xã hội bị ảnh hưởng càng làm tăng sức ép lên các nhà điều hành trong chính sách quản lý. Lãi suất cơ bản giờ đã được sử dụng như một thông điệp có tác động nhanh, mạnh đến cả nền kinh tế, là cơ sở để ấn định lãi suất kinh doanh, tính toán trong hoạt động của các TCTD. Sau những giải pháp mạnh của chính sách thắt chặt tiền tệ thì việc điều hành bằng công cụ lãi suất cơ bản ấn định trần lãi suất cho vay thay đổi linh hoạt theo tín hiệu thị trường, đã góp phần hạ nhiệt lãi suất huy động lúc đầu, giúp nền kinh tế dần trở lại nhịp độ phát triển.

Continue reading

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2006 ĐẾN THÁNG 6 NĂM 2006

THS. CAO MINH NGHĨA

1. Tổng quan kết quả quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn thành phố giai đoạn 2006 đến tháng 06/2008:

– Qua hai năm rưỡi triển khai thực hiện, Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố đã góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành phố theo hướng tích cực, đúng theo định hướng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII đề ra; kinh tế thành phố tiếp tục giữ vững tốc độ tăng trưởng. GDP tiếp tục tăng trưởng cao: năm 2006, tổng sản phẩm nội địa (GDP) trên địa bàn thành phố tăng 12,2% (bằng với mức tăng năm 2005 là 12,2%); năm 2007, GDP tăng 12,6% (cao hơn mức tăng cả 2 năm 2005, 2006 là 12,2%). Đây là mức tăng cao nhất trong 4 năm qua (năm 2004 tăng 11,7%, năm 2005 tăng 12,2%, năm 2006 tăng 12,2%). Trong đó, khu vực dịch vụ năm 2006 tăng 13,8% (cao hơn mức tăng năm 2005 là 12,8%); năm 2007 tăng 14,3% (cao hơn mức tăng năm 2006 là 13,8%). Khu vực công nghiệp và xây dựng năm 2006 tăng 10,5% (thấp hơn mức tăng năm 2005 là 11,8%); năm  2007 tăng 10,8% (cao hơn mức tăng năm 2006 là 10,5%). Khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản năm 2006 tăng 5,6% (cao hơn mức tăng năm 2005 là 1,6%); năm 2007 tăng 5,1% (thấp hơn mức tăng năm 2006 là 5,6%). Trong 6 tháng đầu năm 2008, do những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới, kinh tế – xã hội thành phố gặp nhiều khó khăn thách thức mới như lạm phát tăng, chỉ số giá tiêu dùng tăng cao, thị trường tài chính – ngân hàng diễn biến phức tạp, thị trường chứng khoán và bất động sản suy giảm mạnh, giá xăng dầu, giá vàng tăng cao, tỷ giá USD biến động bất thường… đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng kinh tế có biểu hiện chậm lại và chỉ đạt 10,5%; trong đó, khu vực dịch vụ tăng 10,8%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,3%, khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%.     

– Cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển biến theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ; giảm dần tỷ trọng các ngành nông – lâm – ngư nghiệp để dần đưa thành phố trở thành trung tâm thương mại – dịch vụ, công nghiệp công nghệ cao của cả nước, ngay cả trong điều kiện kinh tế thành phố gặp nhiều khó khăn như trong 6 tháng đầu năm 2008. Bên cạnh đó, nội bộ các ngành kinh tế cũng đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực: tăng tỷ trọng các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có giá trị gia tăng cao, hàm lượng khoa học – kỹ thuật cao; giảm các ngành nghề thâm dụng lao động, gây ô nhiễm môi trường, dần dần hình thành các loại hình dịch vụ chất lượng cao. Điều này chứng tỏ nền kinh tế thành phố đã chuyển dịch cơ cấu đúng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII. Cụ thể như:

Continue reading

BÌNH LUẬN PHÁP LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ KIẾN NGHỊ SỬA ĐỔI – BÀN VỀ KHÁI NIỆM THƯƠNG MẠI VÀ PHẠM VI GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA TRỌNG TÀI

VIAC

Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003 là văn bản pháp luật đầu tiên của pháp luật Việt Nam đưa ra một khái niệm tương đối đầy đủ về trọng tài thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” được giải thích như sau: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. (Điều 3).

Trong bối cảnh Pháp lệnh được ban hành vào thời điểm Luật Thương mại 1997 vẫn đang có hiệu lực nhưng các nhà lập pháp đã mạnh dạn đưa khái niệm thương mại theo hướng mở, tương thích với Luật mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của Uỷ ban Pháp luật Thương mại Quốc tế của Liên hợp quốc, mà không “bó buộc” trong 14 hành vi quy định trong Luật Thương mại 1997. Đây được coi là bước “đột phá” trong công tác lập pháp vào thời điểm đó. Tuy nhiên, qua hơn 4 năm áp dụng và thi hành trên thực tế cho thấy Pháp lệnh đã bộ lộ một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất, đã có cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “thương mại” trong Pháp lệnh. Điều này dẫn đến tranh cãi trong việc xác định phạm vi giải quyết tranh chấp của trọng tài.

Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, mỗi năm tại Việt Nam có thêm hàng nghìn doanh nghiệp mới thuộc các loại hình khác nhau được thành lập. Điều đó cũng có nghĩa là sẽ có rất nhiều tranh chấp phát sinh liên quan đến việc góp vốn, quản lý và điều hành các doanh nghiệp này. Vấn đề đặt ra là những tranh chấp nội bộ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu có được giải quyết bằng trọng tài không? Có ý kiến cho rằng các loại tranh chấp này đương nhiên thuộc thẩm quyền của trọng tài bởi vì việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu cũng như việc góp vốn chính là hoạt động đầu tư, tài chính vì có bản chất kinh doanh thu lợi nhuận. Hơn nữa, cần phải hiểu tính “mở” của khái niệm thuật ngữ thương mại trong Pháp lệnh. Theo đó, ngoài việc liệt kê các hành vi thương mại, Pháp lệnh còn quy định các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật. Do vậy, bất kỳ quy định nào của pháp luật xác định lĩnh vực hoạt động là thương mại thì trọng tài đều có thẩm quyền giải quyết.

Continue reading

ĐẤT “BỜ XÔI RUỘNG MẬT” NÊN BỒI THƯỜNG NHƯ THẾ NÀO?

TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Ngoại ô các đô thị ở nước ta đã giảm diện tích đất canh tác từ 20-45% mỗi năm. Mỗi năm Việt Nam thu hồi gần 80.000 ha đất nông nghiệp, bằng 0,85% tổng quỹ đất nông nghiệp, trong đó đất “bờ xôi ruộng mật” chiếm 50%. Tuy nhiên, để tạo đất công nghiệp, dịch vụ chỉ cần dưới 1 năm, nhưng tạo đất nông nghiệp thì đến 1.000 năm. hơn thế nữa, đất công nghiệp sẽ không bao giờ trở lại thành đất nông nghiệp. Hơn thế nữa, nông dân mất đất đang dần thất nghiệp.

Việt Nam hiện đã sớm vượt xa 1.000 điểm được coi là đô thị… Bên cạnh đó, xu hướng đô thị hoá toàn cầu, tương lai gần dân số đô thị sẽ chiếm trên 50% dân số ở nhiều quốc gia đã đặt ra nhiều áp lực.

Từ áp đặt hành chính, cưa đứt đục suốt

Đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp dưới nhiều hình thức: nhà nước thu hồi có bồi thường để giao đất, cho thuê đất đối với các doanh nghiệp được duyệt dự án phi nông nghiệp. Một số hộ đã bán đất thổ cư có hoa màu, cây lâu năm, chuyển nhượng quyền sử dụng đất canh tác cho doanh nghiệp, cơ quan, trang trại… Thậm chí, có hộ dân bán chui đất thổ canh có giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân và cả cho dự án có đất liền kề.

Không những vậy, hiện đang xuất hiện đầu cơ đất đai, lấn chiếm đất đai. Một số dự án đã chuyển đất được thuê, được giao sang mục đích khác như phân lô làm nhà ở, chuyển đất dự án sản xuất kinh doanh sang đất nhà ở, cho thuê lại nhằm đoạt chênh lệch giá, "ăn trên lưng" những hộ dân được bồi thường (sau 6 tháng 60 m2 đất phân lô đầu tư hết 60 triệu đồng bán gấp 6 lần). Vòng chu chuyển giá trị trên đất đai gây áp lực lớn cho thị trường bất động sản, nhiều dự án chung cư, dự án công nghiệp, dịch vụ, khu dân cư chiếm đất giữ phần, bán nhượng dự án làm cho nền kinh tế "quá nóng"; có đến 70% các vụ khiếu kiện liên quan đến đất đai.

Chuyển sang thoả thuận gắn kết lâu dài 

Việc bồi thường đất bằng tiền, sau bán, giao khu đất tái định cư chỉ là một biện pháp tình thế đứt đoạn, đẩy những người bị thu hồi đất vào tình thế khó khăn về công ăn việc làm và ổn định lâu dài cuộc sống. Nhiều người than thở: "mỗi sào đất cho lợi nhuận 500.000 đồng/năm nhưng có công ăn việc làm ổn định; mất đất, thất nghiệp sinh nhiều khó khăn, tệ nạn xã hội". Từ thực tế đó, tôi đề xuất một số giải pháp cùng có lợi:

Chúng ta nên hướng dẫn dân chúng thành lập hợp tác xã, doanh nghiệp xây dựng dự án kinh doanh trên chính vùng đất bị chuyển đổi. Người dân có đất có thể góp một phần hoặc toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất vào dự án bằng cam kết mà không nhất thiết phải nộp Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất. Đặc biệt, xã viên hợp tác xã nông nghiệp vùng ven đô, vùng quy hoạch nhà ở có thể góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Kêu gọi vốn đầu tư, thành lập hợp tác xã nhà ở, một phần để ở, một phần cho thuê tạo việc làm dịch vụ ở khu chung cư; đầu tư phát triển hạ tầng các dịch vụ nhà cho thuê, cụm thương mại, du lịch… giữ đất và sử dụng đất là hướng phát triển bền vững.

Continue reading

XÃ HỘI DÂN SỰ ĐÂU CÓ ĐÁNG SỢ

NGUYỄN QUANG A

Hơn hai chục năm trở về trước ít người dám nói đến cơ chế thị trường, đến khu vực kinh tế tư nhân: những điều cấm kỵ và đáng sợ. Số ít người dám nói và dám (liều) làm, thì bị loại bỏ, bị sa cơ lỡ vận. Rồi người ta hiểu dần, chấp nhận và ngày nay chúng không những không đáng sợ mà còn được coi trọng.

Những người tiên phong trở thành những anh hùng thật sự. Mươi năm trước ít ai dám nói đến xã hội dân sự: điều cấm kỵ và đáng sợ. Người viết về nó có thể bị cấm không được xuất cảnh. Nay xã hội dân sự không còn là điều cấm kỵ. Người ta đã bắt đầu viết và nói đến nó. Các nhà chức trách nhiều khi ủng hộ, có lúc e dè và đôi khi lo sợ. Rồi người ta sẽ hiểu, xã hội dân sự đâu có đáng sợ mà rất có ích và cần được coi trọng.

Thời kinh tế kế hoạch hoá tập trung người ta đã muốn xoá bỏ thị trường, triệt tiêu khu vực kinh tế tư nhân bằng các cuộc cải tạo nông nghiệp, công thương nghiệp. Nhưng thị trường và kinh tế tư nhân chưa bao giờ bị triệt tiêu, ngay cả những lúc bị xua đuổi gay gắt nhất. Nó bị què quặt và khiến cho nền kinh tế héo hon, người dân khổ sở.
Vì sự tồn tại, vì sự sống còn của mình mà người dân phải xé rào, bất tuân các chính sách có thể phản ánh những ước mong rất tốt đẹp nhưng chưa hợp với bản chất cuộc sống. Cũng vì sự tồn tại của chính mình nhà cầm quyền chấp nhận sự xé rào đó, để cho cuộc sống kinh tế dần trở lại hoạt động theo quy luật tự nhiên của nó. Kinh tế tư nhân và thị trường dần dần hồi phục.Đời sống của người dân được cải thiện. Nhà nước ngày càng hiểu hơn và có chính sách ủng hộ khu vực tư nhân và kinh tế thị trường hơn.
Đó, đại thể, là quá trình đổi mới vừa qua của chúng ta. Đặc trưng cơ bản của nó là giải phóng tiềm năng kinh tế đã bị ức chế, kìm kẹp từ lâu trong mỗi người dân. Cái tiềm năng sẵn có và được giải phóng đó cũng chỉ có hạn và, theo tôi, nó đã được dùng hết. Muốn có các pha phát triển mới, bền vững cần phải xây dựng, nâng cao năng lực cho mọi người, mọi tổ chức trong xã hội (kể cả các tổ chức nhà nước), chứ không chỉ cốt ở giải phóng cái tiềm năng sẵn có. Đây là việc khó hơn việc "giải phóng" nêu trên rất nhiều.
Nó đòi hỏi trí tuệ, sự hiểu biết, việc học hỏi, giao tiếp, quản trị, lập kế hoạch, đổi mới thực sự. Chúng ta đã làm được không ít theo hướng này, nhưng so với yêu cầu thì vẫn chưa thấm vào đâu. Và trong quá trình này xã hội dân sự có vai trò to lớn.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: VỤ TRANH CHẤP TẠI PHỐ CAO THẮNG – TP. THANH HÓA, UBND TỈNH THANH HÓA GIẢI QUYẾT ĐÚNG HAY THANH TRA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO SAI?

NGUYỄN QUÂN

Việc giải quyết khiếu nại của gia đình bà Phạm Thị Dâu, trú tại 35 Thôi Hữu, phường Ngọc Trạo, TP Thanh Hoá và gia đình bà Trần Thị Kim Nương, liên quan đến việc tranh chấp quyền sử dụng đất tại số 1, phố Cao Thắng, TP Thanh Hóa, tưởng chừng như đã được chính quyền địa phương giải quyết xong, thì lại có Kết luận thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trưòng. Và chính Kết luận này đã đẩy địa phương vào thế khó xử còn việc giải quyết càng thêm phức tạp.

UBND tỉnh Thanh Hoá: Bà Nương đòi 35 m2 đất là không có cơ sở!

Việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa gia đình bà  Phạm Thị Dâu và gia đình bà Trần Thị Kim Nương diễn ra 15 năm qua. Nguồn gốc và lịch sử sử dụng thửa đất 35m2 như sau:

Từ trước năm 1959, diện tích 35m2 này nằm trong thổ đất của gia đình bà Trần Thị Kim Nương. Năm 1959, gia đình bà Trần Thị Kim Nương đã chuyển nhượng cho gia đình ông Nguyễn Viết Tuyến phần ngoài thổ đất của mình. Việc chuyển nhượng đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Diện tích 35m2, ông Nguyễn Viết Tuyến cũng đã được đăng ký và cấp quyền sử dụng, số 1112; Địa chỉ nhà 16A Cao Thắng, Thị xã Thanh Hoá.

Năm 1964, ông Nguyễn Viết Tuyến chuyển nhượng cho gia đình Phạm Thị Dâu cả nhà và diện tích đất 35m2. Sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình bà Dâu đã về sống tại địa chỉ 16A, Cao Thắng.  Từ năm 1973 đến năm 1993, bà Phạm Thị Dâu không ở trên nền đất mua của ông Nguyễn Viết Tuyến nhưng vẫn quản lý, chăm sóc. Năm 1993, khi bà Dâu về xây dựng nhà trên diện tích đất vẫn bỏ trống này thì gia đình bà Nương đã tranh chấp, ngăn cản việc sử dụng đất của gia đình Dâu.

Sau khi UBND tỉnh Thanh Hoá giải quyết tranh chấp và khiếu nại của bà Nương và ra quyết định giải quyết cuối cùng, bà Dâu đã chuyển nhượng mảnh đất cho ông Nguyễn Văn Nho. Từ năm 2001 đến nay, gia đình ông Nguyễn Văn Nho đã sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất .

Trong quá trình tranh chấp, gia đình bà Trần Thị Kim Nương đã có đơn gửi đến các cơ quan có thẩm quyền tỉnh Thanh Hoá. UBND tỉnh Thanh Hoá đã chỉ đạo các cơ quan, gồm: Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Nhà nước tỉnh Thanh Hoá, Cơ quan điều tra Công an tỉnh, UBND thành phố Thanh Hóa điều tra xác minh. Sau một thời gian dài điều tra, xác minh, các cơ quan này đã kết luận: Gia đình bà Trần Thị Kim Nương đang sử dụng đất hợp pháp tại số 16B, phố Cao Thắng, TP Thanh Hoá, diện tích 90m2, được cấp năm 1964. Diện tích này không bao gồm diện tích đất tranh chấp. Bà Trần Thị Kim Nương đã chuyển nhượng diện tích 35m2 cho ông Nguyễn Viết Tuyến. Gia đình ông Nguyễn Viết Tuyến cũng đã được cấp giấy sở hữu số 1112 ngày 30/5/1964.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NÔNG SẢN: BỊ QUỴT NỢ HÀNG TRĂM TRIỆU ĐỒNG

THÁI HIẾU

Hay giao dịch theo kiểu “đưa hàng trước, nhận tiền sau” nên các hộ nông dân đã bị rủi ro. Gần chục hộ nông dân cư trú ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã kéo nhau đến trụ sở doanh nghiệp tư nhân Nam Phát nằm trên địa bàn huyện (KP Cầu Xéo, xã Hậu Thành) để ngăn cản chủ doanh nghiệp bán máy móc, thiết bị trả nợ cho ngân hàng. Thì ra chủ doanh nghiệp này vẫn còn mắc nợ của các hộ hàng trăm triệu đồng.

Chỉ hứa hẹn suông

Đầu tháng 6-2008, nhiều hộ nông dân đã tin tưởng bán gạo cho doanh nghiệp Nam Phát với số tiền hơn 760 triệu đồng. Sau khi bán, các hộ đã tới lui nhiều lần để yêu cầu doanh nghiệp trả tiền nhưng họ chỉ nhận được những lời hứa suông. Tức mình, các hộ đã kéo đến nhà máy của doanh nghiệp để đòi lại số gạo đã bán. Chủ doanh nghiệp liền tìm cách thương lượng cho qua, rồi sau đó chở số gạo trong kho đi nơi khác. Đến ngày 25-6-2008, vợ chồng chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn khỏi địa phương.

Không còn cách nào khác, một số bà con đã khởi kiện chủ doanh nghiệp ra Tòa án huyện Cái Bè. Ngày 16-7-2008, TAND huyện đã có phiếu chuyển hồ sơ vụ án sang công an huyện vì nhận thấy chủ doanh nghiệp có dấu hiệu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Nhưng sau đó, công an huyện đã chuyển trả hồ sơ cho tòa án với lý do chỉ là tranh chấp dân sự. Lại nữa, khi được triệu tập thì vợ chồng chủ doanh nghiệp đều đến trình diện đầy đủ và cam kết sẽ trả nợ. Cuối năm 2008, TAND huyện Cái Bè đã lần lượt xét xử các vụ án đòi nợ nêu trên theo hướng buộc chủ doanh nghiệp phải trả nợ cho bà con.

Âm thầm bán tài sản để “xù” nợ

Bà Huỳnh Thị Thúy, một trong những nông dân đã bán lúa, than thở: “Vì tin tưởng doanh nghiệp nên tôi đã nhận bán gạo giúp cho ba người khác với số tiền gần 155 triệu đồng. Đến nay tôi chỉ mới thu hồi được hơn 55 triệu đồng!”. Bà Trần Thị Hồng Hạnh phản ánh: “Trước đó, chủ doanh nghiệp đã lén lút bán máy móc trong nhà xưởng để trả nợ ngân hàng khi chưa đáo hạn. Tiếp nữa, sau khi chủ doanh nghiệp bỏ trốn, ngân hàng đã đến tháo máy móc của doanh nghiệp để cấn trừ nợ. Biết đến bao giờ bà con tụi tui mới được trả hết tiền?”. Một người dân khác nói: “Trước khi Thi hành án huyện đến kê biên tài sản của doanh nghiệp để đảm bảo việc thi hành án thì chủ doanh nghiệp đã âm thầm sang nhượng một lô đất ở huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long nhằm tránh né nghĩa vụ trả nợ”.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: