Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

ĐỂ TRÁNH RỦI RO KHI CHẤM DỨT QUAN HỆ LAO ĐỘNG

NGUYỄN VIỆT CƯỜNG – Luật sư Công ty luật hợp danh Luật Việt

Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã nhanh chóng gây ra cuộc khủng hoảng thị trường lao động trên toàn cầu. Việt Nam không phải là một ngoại lệ, hàng loạt quan hệ lao động bị chấm dứt, người lao động bị mất việc làm, làm cho tranh chấp lao động gia tăng, gây ra không ít khó khăn cho người lao động và doanh nghiệp.

Trong cơ chế thị trường, việc chấm dứt quan hệ lao động là yếu tố khách quan, song điều này phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật. Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp cho nhân viên thôi việc không theo quy định của pháp luật lao động, nên thường bị thua kiện trong các vụ án lao động.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc chấm dứt quan hệ lao động: do hợp đồng lao động (HĐLĐ) hết hạn, do hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ, do người lao động hay người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ, do mất việc làm.

Trong thời kỳ suy giảm kinh tế hiện nay, mất việc làm là nguyên nhân chính khiến các doanh nghiệp phải chấm dứt quan hệ lao động. Song, điều 17 của Bộ luật Lao động và Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18-4-2003 đã quy định cụ thể căn cứ, điều kiện, thủ tục chấm dứt HĐLĐ và các chế độ người lao động được hưởng do mất việc làm, đó là trường hợp do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ bao gồm:

(i) Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn.

(ii) Thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn.

(iii) Thay đổi cơ cấu tổ chức: nếu do sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị mà người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại họ để tiếp tục sử dụng vào những chỗ làm mới; nếu không thể giải quyết được việc làm mới, phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm, cứ mỗi năm làm việc một tháng lương, nhưng không ít hơn hai tháng lương. Doanh nghiệp chỉ được tiến hành cho người lao động thôi việc khi đã báo cáo cho cơ quan quản lý lao động địa phương biết.

Continue reading

Advertisements

VÔ TƯ: MỘT HẬU QUẢ CỦA GIÁO DỤC

BÙI TRỌNG LIỄU – Nguyên Giáo sư Đại học (Paris, Pháp)

Đọc trong từ điển, thì “vô tư” có mấy nghĩa. Ở đây, trước hết, tôi muốn dùng từ này theo nghĩa “thản nhiên, không lo nghĩ” (vô tư lự), chứ chưa dùng nó theo nghĩa “ không nghĩ đến lợi ích riêng tư; không thiên vị ai cả” (chí công vô tư), nghĩa là tôi dùng chữ “vô tư” theo nghĩa thứ nhất, chứ chưa dùng nó theo nghĩa thứ nhì, đẹp hơn. Bởi vì nếu đẹp rồi, thì phụ họa làm gì ! Những kết quả hoành tráng của Giáo dục Đào tạo (cũng như những kết quả đạt được về kinh tế) thì mấy quan chức đã có nhiều dịp để trưng. Nhưng những hậu quả tai hại thì cũng cần phải nêu ra để mà sửa; đó là thiện ý, không phải để mỉa mai chế giễu.

Hiện nay, do khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nói chung là đa số dân chúng mọi nước đều lo lắng, và người ta thận trọng hơn. Nhưng đọc tin từ nước nhà thì hình như ở một số người có một sự thản nhiên, tựa hồ như mình là ngoại lệ : “mặc ai nói ngả nói nghiêng”, ta đây “vẫn vững như kiềng ba chân”. Có lác đác đâu đó những lời than phiền, lo lắng cho thân phận mình, hoặc cho gia đình mình, có ăn hôm nay, nhưng chắc gì ngày mai còn no bụng, nói gì đến chuyện học hành. Nhưng về mặt tập thể, đối với không ít người, kể cả một số người có trách nhiệm chung, hình như là vô tư. Một số người trẻ thì lo vui chơi, ngày nay hưởng thụ, kệ ngày mai, như lời thơ ngụ ngôn của thi hào La Fontaine cảnh báo (Nguyễn Văn Vĩnh có dịch ra tiếng Việt): “Con ve sầu, kêu ve ve suốt mùa hè ; đến ngày gió bấc thổi, nguồn cơn thực bối rối …”. Xưa gọi đó là “ăn xổi ở thì”. Một số người người già thì đành kệ “đời cua cua xáy, đời cáy cáy đào”, hay là “Giời sinh voi, giời sinh cỏ”.

Nếu có tình trạng như vậy, phải chăng một phần cũng là do nền Giáo dục Đào tạo mà ra ? Có “tâm” hay không, là do giáo dục hạ tầng; có “tầm” hay không, là do giáo dục đào tạo thượng tầng. Nói kỹ hơn, học tập sao cho con người biết tôn trọng những giá trị đạo đức cơ bản, đó là từ thuở còn thơ, đâu có phải chỉ có hô khẩu hiệu, báo cáo thành tích và hơn thế nữa, đâu chỉ tập cho quen xỉ vả để đấu tranh giai cấp như một thời đã qua. Khi đã lớn, học tập chuyên môn mà lơ là, chín bỏ làm mười, nhân nhượng về trình độ, thì khi vào đời ở vị trí của mình thì không thể hoàn thành trách nhiệm. Thí dụ như về những đề án kinh tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, hiểu biết khiếm khuyết thì dễ bỏ sót một số tham số, nên quyết định sai. Ở những nước tiên tiến, những đề án như xây dựng nhà máy điện hạt nhân, khai thác quặng mỏ, xây dựng khu vực kinh tế này nọ, đều được nghiên cứu kỹ về mọi mặt, từ vấn đề đào tạo nhân sự, lợi ích cho tập thể, môi trường, thời điểm phù hợp, địa lợi, nhân hòa để giữ được đoàn kết các dân tộc đa và thiểu số cần thiết cho an ninh quốc gia, cho thống nhất, độc lập tự chủ. Vậy mà cũng còn xảy ra những bất trắc. Huống hồ một nước chưa có kinh nghiệm xây dựng, vì bỏ qua một vài tham số nên dễ lấy quyết định nhầm, đó là tại sự “không có tầm”. Còn vì lợi ích cá nhân hay lợi ích của một tập đoàn quyền lợi, mà quyết định bừa, thì đó là tại sự “không có tâm”. Đặc biệt trong lĩnh vực Giáo dục Đào tạo, năng nổ, thăm hỏi nơi này, úy lạo nơi kia, vỗ vai người già, xoa đầu người trẻ, đó là thể hiện sự “có tâm” ; tung ra những đề án bất khả thi, với những con số khổng lồ mà ai ai cũng biết là chẳng đạt nổi, đó là “không có tầm”. Như tôi đã có lần phát biểu : người xung kích dũng cảm, không đương nhiên là người tư lệnh có tài lược thao.

Continue reading

TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI GÂY TAI NẠN – MỘT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG LẠM DỤNG QUĨ BẢO HIỂM XÃ HỘI, BẢO HIỂM Y TẾ

THS. TRẦN CÔNG DŨNG – BHXH Thừa Thiên Huế

Khi người tham gia BHXH, BHYT gặp phải tai nạn, quỹ BHXH hoặc quỹ BHYT đều phải chi ra một khoản trợ cấp nhất định. Nếu là tai nạn thông thường (không phải tai nạn lao động), khoản phải chi là chi phí điều trị BHYT. Nếu là tai nạn lao động (TNLĐ), quỹ BHXH phải chi trả khoản trợ cấp TNLĐ một lần hoặc hàng tháng tùy theo mức độ thương tật (chi phí điều trị từ khi bị TNLĐ cho đến khi ổn định thương tật do chủ sử dụng lao động chịu).

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là: đối với những trường hợp tai nạn gây nên bởi hành vi có lỗi của một cá nhân nào đó, và theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành, những người gây tai nạn (có lỗi) phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ hay một phần nhất định (tùy theo mức độ lỗi) những khoản chi phí mà cơ quan nhận bảo hiểm đã trả cho người bị tai nạn. Thế nhưng cho đến nay, vấn đề này vẫn chưa được quy định trong pháp luật về BHXH, BHYT, giúp quỹ BHXH, BHYT thu hồi một phần hay toàn bộ những khỏan tiền đã chi, hạn chế được một phần tình hình lạm dụng quỹ.

Trước hết, hãy tìm hiểu cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm dân sự đối với người gây ra tai nạn. Hiện nay, việc bồi thường thiệt hại và mối quan hệ giữa người bị thiệt hại, cơ quan bảo hiểm, người gây thiệt hại (người thứ ba trong quan hệ bảo hiểm) đã được Bộ luật dân sự (BLDS) nước ta quy định khá chặt chẽ. Về mặt nguyên tắc:“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”(Khoản 1 Điều 604 BLDS). Khi có tai nạn xảy ra, vấn đề trách nhiệm của người thứ ba đối với cơ quan bảo hiểm được quy định cụ thể: “Trong trường hợp người thứ ba có lỗi mà gây thiệt hại cho bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm đã trả tiền bảo hiểm cho bên được bảo hiểm thì bên bảo hiểm có quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả. Nếu trường hợp bên được bảo hiểm đã nhận đủ số tiền bồi thường thiệt hại do người thứ ba trả, nhưng vẫn ít hơn số tiền mà bên bảo hiểm phải trả thì bên bảo hiểm chỉ phải trả phần chênh lệch giữa số tiền bảo hiểm và số tiền mà người thứ ba trả. Sau đó, bên bảo hiểm có quyền yêu cầu người thứ ba hoàn trả khoản tiền mà mình đã trả cho bên được bảo hiểm.” (Điều 577 BLDS)

Như vậy, người thứ ba gây thiệt hại (gây tai nạn) sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người thiệt hại tùy theo mức độ lỗi của mình. Vì người bị thiệt hại đã được cơ quan bảo hiểm trả tiền bảo hiểm (để bồi thường cho những thiệt hại đó), cho nên người thứ ba phải có nghĩa vụ hoàn lại cho cơ quan bảo hiểm số tiền bảo hiểm đã trả. Tuy nhiên, đây chỉ mới là những nguyên tắc xử sự, điều chỉnh mà BLDS quy định, có áp dụng được với loại hình BHXH hay không và áp dụng như thế nào, đó là vấn đề còn có nhiều ý kiến tranh luận.

Continue reading

GÓP Ý VÀO DỰ THẢO LUẬT THUẾ TÀI SẢN

HUỲNH HUY QUẾ

I. Cơ sở lý luận về thuế tài sản

Lý luận cơ bản

Thuế tài sản là tên gọi để chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là một trong 3 cách phân loại theo nội dung của hệ thống thuế gồm: thuế đánh vào thu nhập; thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập là được tích luỹ và vật chất hoá dưới dạng tài sản). Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản, đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng để có căn cứ xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế, tránh được sự trùng lắp, chồng chéo về nội dung động viên thu nhập của đối tượng chịu thuế.

Thuế tài sản là loại thuế được ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại, vì lúc ấy, đất đai hầu như là tài sản duy nhất thật sự có giá trị và nhà nước có điều kiện thuận lợi để nắm chắc, quản lý và đánh thuế. Khi nền kinh tế-xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, trên thế giới dần xuất hiện nhiều loại của cải khác thuộc đối tượng đánh thuế tài sản. Thông thường, việc đánh thuế vào tài sản không tính đến nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản có từ đâu, lúc nào… mà chỉ quan tâm đến trị giá tài sản của chủ thể có quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) vào thời điểm nhất định.

Thuế tài sản được điều chỉnh theo quyền sở hữu, quyền sử dụng, khai thác hay chuyển nhượng tài sản tại thời điểm nhất định, theo qui định của pháp luật, với nhiều hình thức tên gọi khác nhau, chủ yếu là: thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ, lệ phí trước bạ); thuế thừa kế; thuế quà biếu; thuế nhà đất; thuế tài sản (đánh tổng hợp trên toàn bộ giá trị bất động sản, động sản và tài sản tài chính của một chủ thể); thuế chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, trái phiếu…); thuế khai thác tài nguyên quốc gia.

Thuế tài sản được đánh giá là loại thuế trực thu có thể động viên tương đối sát với khả năng đóng góp thực tế của người chịu thuế vì thuế đánh vào những tài sản cụ thể, nhất là nhà và đất, là những vật thực có, dễ nhận biết hơn các đối tượng đánh thuế thu nhập hay tiêu dùng.

Những quan điểm về đánh thuế tài sản

Thuế tài sản luôn là chủ đề gây tranh cãi tại một số hội thảo quốc tế với 2 quan điểm chủ yếu: Nên  và không nên có thuế tài sản.

Quan điểm phản đối việc đánh thuế tài sản

Quan điểm này được phân tích trên những lập luận chủ yếu là:

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: CHUYỆN MỘT NGƯỜI BỊ OAN

LÊ VĂN NHUNG

“Có bị oan tôi mới biết cuộc sống bế tắc như thế nào. Bao nhiêu năm trời mình khổ, vợ con cũng khổ…”, uống xong hớp nước, ông Trương Thanh Thừa (ngụ TP Pleiku, Gia Lai) lặng đi một lúc rồi mới ngậm ngùi kể tiếp câu chuyện của đời mình với bao cám cảnh.

Nóng vội bắt oan

Chuyện của ông bắt đầu từ 19 năm trước. Năm 1990, đang là giám đốc Công ty Lương thực thị xã Pleiku, trong một chuyến ông đi công tác tại Bình Định thì ở nhà, cơ quan ông bất ngờ bị thanh tra tài chính. Sau đó, ông bị khởi tố về hai tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.

Nguyên nhân tai họa này chỉ xuất phát từ việc ông Thừa thay mặt cơ quan ký hợp đồng vận chuyển 1.000 tấn gạo từ TP.HCM về TP Pleiku với giá 490 ngàn đồng/tấn và chi phí ủy thác vận chuyển 90 ngàn đồng/tấn (giá gạo quy định tại thời điểm đó là 620 ngàn đồng/tấn, giá cước vận chuyển được cho phép là 100 ngàn đồng/tấn). Ngoài ra, công an còn quy chụp ông ký hợp đồng với một đối tác mua 20 ngàn lít dầu diezel nhưng không lấy hết dầu về, dẫn đến thiệt hại cho cơ quan (thực chất việc mua dầu để phục vụ vận chuyển gạo nhưng chưa làm xong thì ông Thừa đã bị bắt).

Đó chỉ là những quan hệ kinh tế đơn thuần nhưng ông Thừa vẫn bị tạm giam gần bảy tháng mới được cho tại ngoại. Sau đó, cả hai phiên tòa sơ, phúc thẩm của TAND thị xã Pleiku và TAND tỉnh Gia Lai đều tuyên ông không phạm tội. Vậy mà từ đó đến nay, ông Thừa chưa hề nhận được một lời xin lỗi nào cho thân phận của một người bị hàm oan, đã mất cả sự nghiệp lại phải cùng vợ con gánh chịu biết bao thiệt thòi, mất mát sau đó.

Nước mắt phận đời

Người đàn ông gầy gò 54 tuổi ấy bây giờ vẫn lầm lũi với cuộc sống đời thường trong gian nhà tối ở một con hẻm sâu hun hút của chợ Phù Đổng.

Lúc ông trong trại thì ở ngoài, gia đình phải chịu nhiều áp lực từ sự đồn thổi, soi mói của dư luận địa phương. Bà Hiệp – vợ ông chịu không nổi đành phải xin nghỉ việc khi đang là cửa hàng trưởng một cửa hàng nông sản thực phẩm. Cậu con trai lớn lúc đó chỉ mới hơn 10 tuổi, khi đến trường cũng thường xuyên bị bạn bè dè bỉu: “Cha mày là thằng tham nhũng đó”…

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO CHIẾM HỮU TÀI SẢN KHÔNG CÓ CĂN CỨ PHÁP LUẬT: HÁM RẺ MUA NHẦM XE GIAN

MINH TRÍ

Công an quận Phú Nhuận vừa chuyển sang cơ quan điều tra Công an TP.HCM thụ lý điều tra vụ lừa đảo qua việc bán xe Mercedes giá rẻ. Tháng 10-2008, anh Thọ (Việt kiều Nhật) được một người bạn giới thiệu có người cần bán chiếc Mercedes E 240 rẻ hơn giá thị trường vài chục ngàn USD. Nghe vậy, anh Thọ tìm gặp người rao bán xe là Phạm Hòa Khánh (ngụ phường 10, quận Phú Nhuận). Hai bên thống nhất với nhau giá chiếc “Mẹc” biển số 52V-6887 là 60.000 USD (rẻ hơn thị trường 20.000 USD). Thấy trên giấy đăng ký xe ghi chủ sở hữu là “Công ty TNHH TM DV Hữu Khánh” nên anh Thọ cứ nghĩ rằng xe của Khánh. Do là Việt kiều, anh Thọ nhờ người đứng tên giùm trên hợp đồng mua bán xe và có nhân chứng xác nhận.

Sau khi mua xe, anh Thọ đem xe về Bình Định sử dụng. Đến ngày 19-3, khi xe anh đang chạy trên đường thì bị cảnh sát giao thông trạm Phú Tài (Bình Định) chặn lại rồi lập biên bản tạm giữ với lý do “bắt giữ theo yêu cầu của Công an quận Phú Nhuận”. Tiếp theo, Công an quận Phú Nhuận đã di lý chiếc “Mẹc” về TP.HCM và cho rằng đây là tang vật có liên quan vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, chủ nhân đích thực của chiếc “Mẹc” là bà Võ Thị Trang Khanh – Giám đốc Công ty TNHH Hữu Khánh, còn Khánh là người thuê xe rồi mang bán.

Khánh hợp đồng thuê chiếc “Mẹc” của công ty với giá 10 triệu đồng/tháng. Cuối năm 2008, do làm ăn thất bại, Khánh bán xe rồi trốn khỏi địa phương. Bà Khanh gửi đơn tố cáo và công an lần ra chiếc xe đang ở Bình Định.

Theo trung tá Nguyễn Thanh Gia, Đội trưởng Đội Điều tra tổng hợp Công an quận Phú Nhuận, thì việc mua bán ôtô phải được chứng nhận của phòng công chứng mới đúng quy định. Mới đây, ngành công an còn quy định nếu xe của công ty thì giám đốc công ty phải xác nhận việc bán xe mới hợp lệ.

Do kết quả giám định chiếc Mercedes E240 trị giá khoảng 700 triệu đồng nên Công an quận Phú Nhuận chuyển đến Công an TP.HCM thụ lý theo đúng thẩm quyền.

Gần đây, tại TP.HCM xảy ra nhiều vụ thuê mướn ôtô rồi đem bán hoặc cầm cố. Người mua hám rẻ nên dễ dàng sập bẫy kẻ gian.

Continue reading

BẢO HIỂM Y TẾ Ở PHÁP – KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

ĐẶNG THẢO

Nhiều người khi được hỏi sợ gì nhất, đều trả lời sợ nhất là bệnh. Không chỉ người nghèo mới sợ bệnh mà người giàu cũng sợ, vì nhiều khi chỉ một người thân mắc phải căn bệnh hiểm nghèo như ung thư là tất cả nhà cửa, tài sản đội nón ra đi trong thoáng chốc. Tôi đã từng chứng kiến hoặc nghe kể về bao nhiêu cảnh đời đau khổ, khi thì mẹ nhìn con chết dần mà không biết làm sao, những gì bán được đã bán hết rồi mà tiền vẫn không đủ để truyền máu cho con, khi thì chồng ôm xác vợ khóc không thành tiếng, mà nghe uất ức đến nghẹn lòng. Nếu người thân ra đi vì y học bất lực trước căn bệnh thì nỗi đau còn dễ chấp nhận, nhưng nếu vì vấn đề chi phí điều trị thì quả thật rất đau lòng.

Thế nhưng, nỗi đau này hoàn toàn có thể tránh được nếu có sự hỗ trợ của Nhà nước và một chế độ BHYT hiệu quả. Tuy nhiên, mở rộng chế độ BHYT đến mọi người dân và vận hành nó như thế nào để đạt được hiệu quả mong muốn là một việc không dễ. Xem xét mô hình an sinh xã hội của Pháp, với những ưu và nhược điểm của nó, cùng với những khó khăn mà nó đang gặp phải, chúng tôi hy vọng Việt Nam có thể rút ra được kinh nghiệm cần thiết để xây dựng một mô hình BHYT hoàn hảo hơn, để người dân không còn canh cánh nỗi lo bệnh tật.

Kinh nghiệm: bắt buộc và độc quyền

Hệ thống an sinh xã hội của Pháp được xây dựng từ những năm 1945 – 1946, ngay sau khi Chiến tranh Thế giới thứ II kết thúc. Mục đích của hệ thống này là bảo đảm cho người dân trong mọi hoàn cảnh đều có thể có những phương tiện cần thiết để tồn tại trong những điều kiện chấp nhận được. Hệ thống an sinh xã hội của Pháp bao gồm các quỹ BHYT (bệnh tật thông thường, bệnh nghề nghiệp và cả trường hợp tai nạn lao động), quỹ dành cho người già, quỹ dành cho trợ cấp gia đình và quỹ cho trợ cấp thất nghiệp. Nghĩa là xã hội đặt ra một mức sống tối thiểu nào đó, nếu khả năng của anh không đạt được mức đó thì Nhà nước sẽ hỗ trợ để anh có quyền được sống với đúng phẩm giá con người và không phải quá lo sợ về một tương lai bấp bênh, mờ mịt.

Chế độ BHYT ở Pháp có tính bắt buộc và độc quyền. Bắt buộc vì toàn dân và cả những người nước ngoài cư trú tại Pháp đều phải đóng góp vào hệ thống BHYT này, không có sự chọn lựa nào khác. Độc quyền vì mặc dù các công ty tư nhân đứng ra phụ trách việc thu, quản lý và phân phát lại quỹ BHYT nhưng họ hoạt động cho Nhà nước và hoàn toàn không có sự cạnh tranh của các công ty khác. Về chi phí khám bệnh thì quỹ sẽ chi từ 35 – 70%, chi phí thuốc men thì từ 15 – 100%, do đó hầu như mọi người vẫn phải mua thêm bảo hiểm sức khỏe ở ngoài để tất cả các chi phí khám chữa bệnh được hoàn lại 100%. Trong lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe thì có sự tự do cạnh tranh, các công ty bảo hiểm thỏa sức đưa ra các sản phẩm hấp dẫn để thu hút khách hàng.

Continue reading

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG: MUA HÀNG HIỆU VẪN PHẢI … KIỆN

BẠCH HOÀN

Không phải cứ bỏ tiền ra mua hàng hiệu, sản phẩm của các công ty uy tín, hay sử dụng những dịch vụ đắt tiền là người tiêu dùng có được những món đồ, dịch vụ xứng đáng “đồng tiền bát gạo”. Mặc dù không phải là phổ biến nhưng ngay cả với những nhãn hiệu đã có tên tuổi trên thị trường, vẫn có những sản phẩm chất lượng kém được bán đến tay người tiêu dùng. Các doanh nghiệp giải thích đó là do sơ suất trong quá trình sản xuất.

Mắt kính 600 USD, chất lượng vẫn kém

Không may mắn khi mua phải hàng hiệu mà chất lượng lại không đảm bảo, anh Nguyễn Hữu Thăng (đường Hoàng Hoa Thám, Q.Tân Bình, TP.HCM) kể mua hai chiếc kính mát hiệu Louis Vuitton tại một cửa hàng ở Q.1, giá mỗi chiếc gần 600 USD. Tuy nhiên, một trong hai chiếc kính có giá cả chục triệu đồng đó lại có chất lượng kém. Khi sử dụng, mắt kính có hiện tượng loang màu, chỗ đậm chỗ nhạt, anh Thăng đề nghị cửa hàng thay mắt kính khác. Nhưng đại diện cửa hàng này từ chối và lấy lý do đây là lỗi của người sử dụng.

Cũng gặp rắc rối với chiếc kính mắt, anh Nguyễn Văn Công (P.Hiệp Phú, Q.9, TP.HCM) kể anh mua một chiếc kính thuốc tại cửa hàng ở đường Điện Biên Phủ, Q.3 của một hãng chuyên về kính thuốc tại TP.HCM. Giá chiếc kính trên 4 triệu đồng, nhưng khi vừa sử dụng đã có vấn đề, gọng kính lỏng lẻo, ốc bị rơi khi nào không hay mặc dù không hề có va chạm. Anh Công cho biết sau khi sửa nhiều lần, sự cố trên vẫn không được khắc phục. Cuối cùng anh đem kính đến nơi bán hàng để nhờ chỉnh lại thì nhân viên cửa hàng khẳng định không thể sửa được.

Tương tự, cũng bỏ ra một khoản tiền không nhỏ để sử dụng dịch vụ điều trị mụn của một trung tâm chăm sóc thẩm mỹ tại Q.Phú Nhuận, chị K.V. ở P.Tân Hưng Thuận, Q.12 đã bị biến chứng khá nặng. Chị V. kể sau khi bôi thuốc trị mụn do trung tâm này cung cấp, chị bị nóng mặt. Ngay trong ngày, khi báo cho nhân viên tư vấn của trung tâm về tình trạng trên thì nhân viên khẳng định đó là phản ứng tốt và yêu cầu tiếp tục bôi thuốc. Nhưng chỉ ba ngày sau, toàn bộ khuôn mặt chị V. bị nổi rộp với các mụn mủ, sưng phù, rịn nước, da mặt đỏ và nóng.

“Tuy nhiên, khi tôi có mặt tại trung tâm để phản ảnh tình trạng của mình thì nhân viên trung tâm lại yêu cầu tự đi bệnh viện da liễu điều trị” – chị V. cho hay.

Khiếu nại để đòi quyền lợi

Theo tìm hiểu của chúng tôi, nơi chị K.V. điều trị mụn là một trung tâm khá lớn. Sau khi xảy ra sự cố, chị V. đã gửi đơn lên Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng TP.HCM để xem xét trách nhiệm của trung tâm điều trị và yêu cầu được đền bù thỏa đáng, gồm cả phí dịch vụ, phí điều trị bác sĩ da liễu và phần tổn thất tài chính do chị phải nghỉ việc để điều trị bệnh. Sau nhiều lần thương thảo, Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng TP.HCM cho biết cuối tháng 3 vừa qua, cơ quan này đã hòa giải thành công trường hợp khiếu nại của chị K.V.. Theo đó, trung tâm điều trị mụn phải thanh toán cho chị toàn bộ tiền thuốc, tiền điều trị, do phải nghỉ việc để khắc phục sự cố, tổng cộng trên 16 triệu đồng.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: