Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

GÓP Ý VÀO DỰ THẢO LUẬT THUẾ TÀI SẢN

HUỲNH HUY QUẾ

I. Cơ sở lý luận về thuế tài sản

Lý luận cơ bản

Thuế tài sản là tên gọi để chỉ sắc thuế lấy tài sản làm đối tượng đánh thuế. Đây là một trong 3 cách phân loại theo nội dung của hệ thống thuế gồm: thuế đánh vào thu nhập; thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) và thuế đánh vào tài sản (thu nhập là được tích luỹ và vật chất hoá dưới dạng tài sản). Việc phân biệt rõ đối tượng đánh thuế tài sản, đối tượng đánh thuế thu nhập và thuế tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng để có căn cứ xác định chính xác thời điểm cũng như cơ sở đánh thuế, tránh được sự trùng lắp, chồng chéo về nội dung động viên thu nhập của đối tượng chịu thuế.

Thuế tài sản là loại thuế được ra đời rất sớm trong lịch sử nhân loại với hình thức đầu tiên là thuế đất được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các xã hội cổ đại, vì lúc ấy, đất đai hầu như là tài sản duy nhất thật sự có giá trị và nhà nước có điều kiện thuận lợi để nắm chắc, quản lý và đánh thuế. Khi nền kinh tế-xã hội của các quốc gia ngày càng phát triển, trên thế giới dần xuất hiện nhiều loại của cải khác thuộc đối tượng đánh thuế tài sản. Thông thường, việc đánh thuế vào tài sản không tính đến nguồn gốc thu nhập tạo ra tài sản có từ đâu, lúc nào… mà chỉ quan tâm đến trị giá tài sản của chủ thể có quyền sở hữu (hoặc quyền sử dụng) vào thời điểm nhất định.

Thuế tài sản được điều chỉnh theo quyền sở hữu, quyền sử dụng, khai thác hay chuyển nhượng tài sản tại thời điểm nhất định, theo qui định của pháp luật, với nhiều hình thức tên gọi khác nhau, chủ yếu là: thuế đăng ký tài sản (thuế trước bạ, lệ phí trước bạ); thuế thừa kế; thuế quà biếu; thuế nhà đất; thuế tài sản (đánh tổng hợp trên toàn bộ giá trị bất động sản, động sản và tài sản tài chính của một chủ thể); thuế chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, trái phiếu…); thuế khai thác tài nguyên quốc gia.

Thuế tài sản được đánh giá là loại thuế trực thu có thể động viên tương đối sát với khả năng đóng góp thực tế của người chịu thuế vì thuế đánh vào những tài sản cụ thể, nhất là nhà và đất, là những vật thực có, dễ nhận biết hơn các đối tượng đánh thuế thu nhập hay tiêu dùng.

Những quan điểm về đánh thuế tài sản

Thuế tài sản luôn là chủ đề gây tranh cãi tại một số hội thảo quốc tế với 2 quan điểm chủ yếu: Nên  và không nên có thuế tài sản.

Quan điểm phản đối việc đánh thuế tài sản

Quan điểm này được phân tích trên những lập luận chủ yếu là:

Tài sản được hình thành trong quá trình tích luỹ thu nhập đã từng bị đánh thuế thu nhập; khi mua sắm tài sản, người mua đã phải chịu thuế tiêu dùng nằm trong giá trị (như thuế GTGT, thuế TTĐB hoạc thuế nhập khẩu) của toàn bộ tài sản hoặc trong một bộ phận cấu thành tài sản. Vì vậy, nếu thu thuế tài sản thì người sở hữu sẽ phải chịu 2 lần thuế, tức là thuế bị đánh trùng lắp.

Việc đánh thuế trên tài sản cất giữ, không tạo ra thu nhập mới, vô hình chung đã mang tính tước đoạt một phần tài sản của chủ sở hữu. Nếu xây dựng thuế suất cao thì sau một thời gian dài, có thể coi như chủ sở hữu không còn nắm giữ được tài sản đã có (ví dụ với thuế suất 50% thì trong 20 năm, tài sản của cá nhân được chuyển toàn bộ sang tài sản của nhà nước).

Thuế tài sản có thể gây ra những tác động không tốt về hiệu quả kinh tế. Nếu thuế suất không hợp lý sẽ làm nản lòng các chủ sở hữu trong việc mạnh dạn, hăng hái lao động, tạo ra nhiều thu nhập để mua sắm tài sản.

Quản lý thuế tài sản gặp nhiều khó khăn, phức tạp vì khả năng che giấu tài sản và che giấu giá trị thực của tài sản là rất lớn và phổ biến (trừ bất động sản có phần thuận lợi hơn). Điều này sẽ tạo ra tình trạng động viên thiếu công bằng giữa những người có giá trị tài sản như nhau, nhưng thái độ nộp thuế khác nhau.

Quan điểm tán thành việc đánh thuế tài sản

Thứ nhất, về lý thuyết, chỉ cần đánh thuế trên thu nhập là đủ vì tất cả các khoản thuế, suy cho cùng đều động viên từ thu nhập dân cư. Song nếu chỉ có một loại thuế thì mức thuế này phải rất cao mới đảm bảo nguồn thu cần thiết cho NSNN. Từ đó sẽ cản trở đến tinh thần hăng say lao động để có nhiều thu nhập vì phải nộp thuế cao. Hơn nữa, nếu chỉ có thuế thu nhập thì khả năng rủi ro về thất thu sẽ rất lớn. Việc đánh thuế vào tài sản vừa tạo điều kiện giảm bớt số thuế đánh vào thu nhập, vừa cho phép động viên thêm phần thu nhập đã trốn hoặc tránh thuế.

Thứ hai, việc đánh thuế tài sản xuất phát từ nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích. Những người được hưởng lợi ích từ Nhà nước nhiều phải nộp thuế cao. Nhà, đất và các tài sản khác được bảo tồn, phát triển và sinh lời là nhờ được thừa hưởng rất nhiều lợi ích từ các dịch vụ công cộng của Nhà nước để làm tăng thêm giá trị của một số tài sản. Chẳng hạn, giá trị nhà, đất có thể tăng lên nhiều do Nhà nước cải tạo, mở rộng điện, đường, trường, trạm không cần có sự đầu tư của chủ sở hữu. Từ đó, người có tài sản, đặc biệt với tài sản có giá trị cần phải có trách nhiệm đóng góp để Nhà nước có thêm nguồn trang trải các khoản chi này.

Thứ ba, thuế tài sản mang tính chất là khoản thu bổ sung vào thuế đánh vào thu nhập, đặc biệt ở các nước mà thuế thu nhập cá nhân còn bị hạn chế và trình độ quản lý còn yếu kém. Thuế tài sản cho phép tính đến khả năng lớn lao của người nộp thuế, được thể hiện bằng lượng của cải hơn là lượng tiền họ bỏ ra để tiêu dùng. Thuế tài sản còn góp phần hướng dẫn, khuyến khích sử dụng tài sản có hiệu quả thông qua đầu tư vào vốn kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế hơn là cất giữ tài sản. loại thuế này thường động viên vào một số tầng lớp dân cư giàu có nên dễ được sự đồng tình, ủng hộ của đại bộ phận quần chúng nhân dân.

Thứ tư, thuế tài sản là một công cụ có hiệu lực phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước trong hoàn cảnh sở hữu tài sản còn quá chênh lệch giữa các tầng lớp dân cư. Qua thuế tài sản, Nhà nước có thể thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý những loại tài sản quan trọng trong xã hội và động viên một phần đóng góp của chủ sở hữu tài sản có giá trị lớn, có nhiều thu nhập từ tiền cho thuê, chuyển nhượng, góp phần điều hoà thu nhập xã hội, thực hiện nghĩa vụ đóng góp công bằng, khuyến khích sử dụng tài sản hợp lý, có hiệu quả.

Thứ năm, thuế tài sản thường dễ thu do người chủ tài sản thường muốn công khai đăng ký để được Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu hay quyền sử dụng hợp pháp của mình khi có tranh chấp, kiện tụng… Vấn đề cần được quan tâm là mức đóng góp của chủ tài sản phải được xây dựng hợp lý, phù hợp, nhất là với tài sản đã qua nhiều lần luân chuyển và với tài sản có giá trị lớn khiến người nộp thuế phải bỏ ra khoản tiền nhiều.   

Thứ sáu, với tài nguyên thiên nhiên thuộc quyền sở hữu quốc gia, thì việc đánh thuế mang tính chất chuyển nhượng tài nguyên cho người khai thác là một việc cần thiết. Ngoài ra, việc đánh thuế vào việc sử dụng đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân cũng là hợp lý và bảo đảm được sự công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân với NSNN, kể cả trường hợp nộp thuế vào nhà đất để ở, không có thu nhập.

Thứ bảy, thuế tài sản còn phục vụ yêu cầu điều chỉnh mối quan hệ hợp lý giữa tiêu dùng, đầu tư và tiết kiệm trong đời sống xã hội. Việc đánh thuế vào tài sản sẽ góp phần hạn chế ý thích muốn tích luỹ bằng tài sản cất giữ, khuyến khích tăng tiêu dùng hoặc đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Qua đó, góp phần thực hiện tốt chủ trương kích cầu, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Với những lý lẽ đó, việc nghiên cứu ban hành thuế tài sản là cần thiết, nhằm phát huy tác dụng bổ sung cho thuế đánh vào thu nhập, đánh vào tiêu dùng trong hệ thống chính sách thuế.

Do bản chất của thuế tài sản là bổ sung cho thuế thu nhập nên cần được phân tích, xem xét thận trọng, trong mối quan hệ với các loại thuế trực thu để khắc phục được tình trạng đánh thuế trùng lặp, chồng chéo, không kìm hãm phát triển sản xuất kinh doanh, không làm nhạt ý chí làm giàu chính đáng của các tầng lớp dân cư. Về mặt quản lý, thuế tài sản cũng có những đặc điểm  phức tạp riêng do khả năng che giấu tài sản (trừ nhà, đất), đặc biệt là trốn tránh khai báo chuẩn xác giá trị tài sản vốn là căn cứ tính thuế cơ bản của sắc thuế này, tạo nên tình trạng thực hiện thiếu công bằng. Vì vậy, cần phải tính toán, xây dựng các biện pháp quản lý, thu thuế sát đúng, mang tính khả thi, hạn chế thất thu đến mức thấp nhất.

II. Quá trình phát triển thuế tài sản trên thế giới

Thuế tài sản (TS) là loại thuế có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới. Sắc thuế này được hình thành đầu tiên vào thời cổ đại ở Hy Lạp (năm 596 trước Công nguyên) và đến thời Trung cổ được áp dụng tại Anh và một số nước châu Âu, Bộ luật Saladin năm 1188 có ghi rõ: thuế ra đời để phục vụ cuộc Thập tự chinh Thiên chúa giáo lần thứ 3 với thuế suất 10% áp dụng đối với tiền cho thuê bất động sản (BĐS) và động sản.

Lịch sử phát triển của thuế TS

Thuế TS được áp dụng sớm và rộng rãi, trước hết vì vào thời kỳ đó, xã hội dựa chủ yếu vào kinh tế nông nghiệp mà đất đai gần như là tài sản duy nhất có giá trị để đánh thuế. Dần dần, cùng với sự phát triển kinh tế, các động sản khác ngày càng tăng và đất đai mất dần vị trí độc tôn ban đầu với tư cách là nguồn thu chủ yếu của mỗi quốc gia.

Về lịch sử phát triển của thuế TS, có thể lấy Thuỵ Điển là một ví dụ điển hình. Thuế BĐS đánh vào đất đã là nguồn thu chủ yếu để Nhà Vua và Hoàng tộc thoả mãn các nhu cầu chi tiêu, kể cả việc duy trì quân đội, bộ máy hành chính ngay từ đầu thời kỳ trung cổ. Nhà Vua ban đất cho giới quý tộc, nên họ phải cống nạp cho triều đình bằng sự phục vụ của chính bản thân và những sản phẩm do nông nô trong các trang trại sản xuất ra. Đây cũng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm quan trọng và là một trong những hình thức nộp thuế TS bằng hiện vật đầu tiên.

Vào thế kỷ thứ 13, các hình thức quản lý hành chính mới được hình thành. Mỗi khu vực hành chính do một lãnh chúa đứng đầu. Lãnh chúa giao đất cho nông dân và nông dân phải nộp thuế bằng nông sản. Quy định về thuế năm 1280 đã phân biệt nghĩa vụ thuế của các lãnh chúa nhận đất của vua khác với nghĩa vụ thuế của nông dân bình thường. Những nhà giàu trong xã hội hình thành lớp quý tộc và họ được miễn thuế. Nhà thờ đóng vai trò quan trọng trong đời sống của châu Âu, thời kỳ đó cũng có nhiều đất nhưng được miễn thuế. Ngược lại, giai cấp nông dân nhận đất của Vua hay của lãnh chúa phải chịu gánh nặng về thuế để đáp ứng mọi nhu cầu tiêu dùng của Vua.

Loại thuế đất ra đời vào thế kỷ 13 được duy trì lâu dài và là nguồn thuế chủ yếu đánh trên TS. Thuế TS, đặc biệt đánh trên đất nông nghiệp, được áp dụng phổ biến ở các nước trong khu vực châu á – Thái Bình Dương là thuế đánh vào nông dân. Phân tích thuế đất nông nghiệp ở ấn Độ, Pakistan, Băngladesh…, thì thấy, ngân sách các nước này có lúc đã dựa hoàn toàn vào nguồn thu từ đất nông nghiệp.

ở ấn Độ, thuế đất được áp dụng theo mô hình cổ điển của Anh, đã được sửa lại theo lý thuyết của Ricardo và là loại thuế đánh trên khoản lợi nhuận mà người nông dân có được từ quyền sở hữu hay quyền sử dụng đất. Các loại thuế này rất nặng, có khi chiếm đến hơn một nửa số hoa lợi mà nông dân thu hoạch được vì trước đây, thuế đất đã tạo ra được số thu rất lớn cho chính quyền ấn Độ. Trên thực tế, các chủ đất còn tăng tỷ lệ động viên để dành phần riêng cho họ. Từ đầu thế kỷ 20, tầm quan trọng của thuế đất ở ấn Độ đã giảm dần từ 36% tổng số thu ngân sách trong các năm 1891 – 1892 xuống còn khoảng 16% năm 1938 – 1939 và đến nay chỉ còn khoảng 1%.

Vai trò của thuế đất ở nhiều nước châu á cũng trong hoàn cảnh tương tự. ở Đài Loan, tỷ trọng thuế đất nông nghiệp chiếm 2,7% tổng số thuế năm 1975 và đã giảm còn 3,3% vào năm 1987. ở Indonesia, mặc dù đã tăng giá tính thuế BĐS lên nhiều nhưng hiện nay, thuế đất cũng chỉ chiếm khoảng 0,1% tổng số thu ngân sách của Nhà nước. Các nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng, nguyên nhân chủ yếu không phải thuế đất giảm sút mà chính là vì GDP được tạo ra trong các khu vực kinh tế và nông nghiệp đã tăng lên nhanh chóng. Việc điều chỉnh thuế đất lên vài ba phần trăm trong thuế suất không gây được ảnh hưởng đáng kể đến số thu của ngân sách. Yêu cầu đặt ra là phải nghiên cứu, cải tiến toàn bộ hệ thống chính sách thuế TS.

Một trong những xu hướng cải cách chính sách thuế đang diễn ra trên thế giới liên quan đến TS là mở rộng diện đánh thuế trên TS thuộc quyền sở hữu tư nhân bao gồm nhà đất, TS thừa kế, quà tặng, TS chuyển nhượng. Việc thu thuế tem (gần như lệ phí trước bạ, công chứng ở Việt Nam) cũng đang được mở rộng qua việc hợp pháp hoá quyền sở hữu, quyền sử dụng nhiều TS có giá trị lớn trong việc chuyển nhượng ở các nước thuộc liên minh châu Âu và nhiều nước khác. Thuế quà tặng cũng đang phát triển ở một số nước. Thuế này thường chiếm đến 3% tổng số thu về thuế ở Thuỵ Điển, 10% ở Nhật, Anh, Mỹ. Nếu xét trên số thuế thu cho địa phương thì các loại thuế đánh vào TS đóng vai trò khá lớn. Tại úc, Ireland và Anh, tỷ lệ số thu từ thuế đánh trên BĐS chiếm gần 100% số thuế thu cho địa phương; ở New Zealand khoảng trên 90%, ở Mỹ, Canada, Hà Lan trên 70%.

Những ưu điểm rõ rệt của thuế TS

Thực tế áp dụng tại các quốc gia đã cho thấy những ưu điểm rõ rệt của thuế đánh vào TS là:

Thứ nhất, BĐS nằm cố định, không thể di chuyển nên có căn cứ tính thuế ổn định, bảo đảm chống thất thu có hiệu quả;

Thứ hai, thuế suất có thể thay đổi trong phạm vi nhất định, không sợ bị ảnh hưởng đến giá cả, tiền vốn, đời sống tuyệt đại bộ phận tầng lớp dân cư;

Thứ ba, việc tổ chức quản lý thu thuế tương đối đơn giản;

Thứ tư, số thuế tương đối ổn định mặc dù có biến động về việc định giá TS;

Theo kinh nghiệm phổ biến trên thế giới, thuế TS được áp dụng chủ yếu đối với BĐS, đối với đất đặc biệt đối với TS có giá trị lớn.

Đối với BĐS: thuế được thu hàng năm chủ yếu đánh vào quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu nhà và đất. Về thuế đất, trước tiên là phải quản lý được quỹ đất, nói cách khác là quản lý được diện tích đất sử dụng vào canh tác nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hay đất ở, đất xây dựng công trình.

Một trong những nước có nhiều kinh nghiệm quản lý đất đai là Đài Loan. Nước này đã thực hiện được việc quy hoạch đất đai trong cả nước và từng địa phương qua quá trình điều tra, khảo sát, tổng hợp, phân tích khá thận trọng, công phu; từ đó, có đầy đủ thông tin để cung cấp cho các nhà đầu tư, quy hoạch về những vùng đất có thể mở mang, phát triển. Nhờ vậy, đã tạo được môi trường rõ ràng cho việc sử dụng hợp lý đất đai, khắc phục được khó khăn trong quan hệ xin – cho giữa các cơ quan chức năng với nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài khi xin phép sử dụng các vùng có đất canh tác để xây dựng các nhà máy, xí nghiệp… Việc quy định kế hoạch sử dụng đất đai được thực hiện một cách hoàn chỉnh cho từng cấp với nội dung chủ yếu là xây dựng được các kế hoạch phát triển tổng hợp kết hợp với cụ thể, lâu dài và trước mắt, được thông báo công khai, rộng rãi có sự chỉ đạo thực hiện chặt chẽ từ kế hoạch chung của vnước đến kế hoạch của từng địa phương, bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa các loại đất phục vụ các mục đích khác nhau như: bảo vệ môi sinh môi trường, thúc đẩy sự phát triển hợp lý giữa thành thị với nông thôn, bảo toàn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm cho dân chúng có đất sản xuất và sinh hoạt vui chơi giải trí…

Thông qua thuế đánh trên BĐS chung của cả nước, có thể thấy được chính sách khuyến khích hay không khuyến khích việc sử dụng đất cho những mục tiêu nhất định, vào những thời kỳ nhất định của mỗi Nhà nước. Muốn hoàn chỉnh thuế TS đối với đất, phải quan tâm đến việc xác định được giá đất và mức thuế suất phù hợp, nhằm động viên được sự đóng góp hợp lý đối với từng vùng, trên cơ sở có quy hoạch tổng thể về phương hướng phát triển kinh tế chung của cả nước, của từng vùng để việc sử dụng đất đai được hợp lý, hiệu quả.

Thứ năm, thuế BĐS bảo đảm chống thất thu thuận lợi, với số thu tương đối ổn định. Vấn đề thường được đặt ra trong việc đánh thuế BĐS là cách xử lý về thuế đối với nhà và đất: tính gộp chung hay tính riêng. Có những nước đưa toàn bộ đất đai và các vật thể kiến trúc trên đất vào diện đánh thuế chung với đất. ở Malaysia, bộ luật đất đai nêu khái niệm: “đất bao gồm cả đất đai, nhà cửa, cây cối, đầm ao… gắn liền với đất”. Do đó, giá trị đất làm căn cứ tính thuế bao gồm cả giá trị các vật thể gắn liền với đất. Đa số các nước trên thế giới lại quy định việc đánh thuế riêng trên giá trị đất, giá trị nhà, như ở các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); các nước châu á như Đài Loan, Philippin… cũng áp dụng chế độ thuế đánh riêng trên giá trị nhà, giá trị đất. Tuy nhiên, Trung Quốc lại không đánh thuế đất thuộc tài sản quốc gia mà chỉ đánh thuế TS đối với nhà cửa, vật kiến trúc thuộc sở hữu tư nhân. Căn cứ tính thuế là giá trị nhà hoặc tiền cho thuê nhà.

Kinh nghiệm xây dựng thuế TS của mỗi quốc gia

Cơ cấu thuế suất thuế BĐS tuỳ thuộc vào căn cứ tính thuế là thu nhập hàng năm do BĐS tạo ra hay giá trị BĐS. ở những trường hợp đánh thuế trên giá trị TS thường có thuế suất thấp (0,5 – 1,5%). Đài Loan áp dụng thuế suất 0,2% đối với giá trị đất ở và 1,5% giá trị đất sử dụng vào sản xuất công nghiệp, các loại đất khác áp dụng thuế suất từ 1% đến 4,5%. Thuế suất đánh trên tiền cho thuê BĐS chung ở các nước là cao. Trung Quốc áp dụng thuế suất chung là 18% trên tiền cho thuê TS. Ngoài ra, thuế suất còn phụ thuộc vào cách xác định giá tính thuế. Thuỵ Điển quy định thuế suất là 1,5% trên giá tính thuế, vốn được xác định bằng 1,13% giá thị trường), Indonesia quy định thuế suất là 0,5% trên giá tính thuế chỉ bằng 20% giá thị trường (trên thực tế chỉ bằng 0,1% giá thị trường).

Đối với đất đặc biệt, thuế đất được áp dụng phổ biến nhằm bù đắp chi phí của nhà nước bỏ ra xây dựng các công trình công cộng, tạo điều kiện cho BĐS ở quanh các công trình được tăng giá trị một cách nhanh chóng. Các công trình này có thể là cơ sở hạ tầng, đường sá, hệ thống cấp điện, nước, thoát nước… Các BĐS ở đó do được hưởng những lợi ích này nên giá trị tăng lên, do đó chủ sở hữu phải đóng góp để giảm bớt gánh nặng chi phí mà ngân sách đã bỏ ra.

Mức động viên thường phụ thuộc vào mức giá trị tăng lên của BĐS. Ở Đài Loan, thuế được tính theo tỷ lệ (%) trên giá trị tăng thêm của BĐS với biểu thuế luỹ tiến từng phần: Nếu giá trị tăng thêm dưới 100%, áp dụng thuế suất 4%; tăng từ 100% đến 200%, thuế suất là 50%; trên 200% thuế suất là 60%. Thuế này chỉ áp dụng khi BĐS được chuyển nhượng và do người có TS bán ra nộp (riêng nhà ở, áp dụng thống nhất 10% trên giá trị tăng thêm).

Thuế đánh trên sự gia tăng giá trị BĐS nhờ có sự can thiệp của nhà nước (mở mang đường sá, xây dựng công trình công cộng…) là loại thuế được nhiều nước áp dụng, đặc biệt ở những nước đang trong thời kỳ phát triển, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu công nghiệp mới, nhằm bù đắp phần nào những khoản chi do chính phủ bỏ ra. Về đạo lý, thuế phát sinh từ sự tăng giá trị do yếu tố khách quan nên việc điều tiết thu nhập là hợp lý, được nhiều người đồng tình ủng hộ.

Đối với một số TS có giá trị lớn, việc đánh thuế mang ý nghĩa góp phần bù đắp chi phí mà nhà nước phải bỏ ra để bảo đảm trật tự, an ninh, an toàn xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ quyền lợi của tập thể, cá nhân có TS quý giá. Đối tượng đánh thuế ở một số nước thường là đồ trang sức (bằng kim cương, vàng, bạc), ôtô, xe máy, tàu thuyền, vật sưu tầm, tác phẩm nghệ thuật, TS tài chính (tiền mặt, chứng khoán…).

Thuế có thể đánh trên toàn bộ giá trị TS hay giá trị tinh (chênh lệch giữa tổng giá trị tài sản với tổng giá trị các khoản nợ). Loại thuế này thường khó quản lý, đặc biệt với hàng trang sức quý giá nên thường được thực hiện khi đăng ký sở hữu hoặc tại thời điểm có chuyển nhượng TS, phải đăng ký kê khai. Thuế suất cho nhóm này thường là thấp (từ 0,5% – 1,8%).

Việc xác minh giá trị TS là vấn đề khá phức tạp, do đó, khi xây dựng chính sách thuế đánh trên TS có giá trị lớn phải nghiên cứu, xác định mức khởi điểm, giá trị TS thuộc diện đánh thuế, phù hợp đặc điểm kinh tế – xã hội của từng thời kỳ, với từng mức, khắc phục đánh thuế tràn lan trên danh nghĩa, chi phí tốn kém, hiệu quả thấp.

Về chế độ miễn giảm thuế TS, hầu như các nước đều không thu thuế TS thuộc sở hữu nhà nước như đất làm đường cao tốc, đường sắt, đường bộ… Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều miễn thuế đối với TS được sử dụng vào lợi ích công cộng (nhà đất của các khu thể thao, trường học, bệnh viện, tôn giáo, đền chùa, hoặc có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá).

III. Thuế tài sản ở Việt Nam nên xây dựng theo hướng nào?

Đến nay, ở nước ta tuy chưa có sắc thuế nào có tên là thuế tài sản, nhưng đối chiếu với cơ sở lý luận về tài sản và thuế tài sản ở một số nước thì có một số sắc thuế và lệ phí hiện hành mang tính chất của thuế tài sản như thuế sử dụng đất nông nghiệp đánh vào tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp; thuế đất đánh vào tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước giao quyền sử dụng đất để xây dựng nhà ở, công trình.

Hai sắc thuế trên đều thuộc loại thu hàng năm, nhằm động viên một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân được giao quyền sử dụng đất thuộc sở hữu quốc gia vào các mục đích khác nhau.

Tương tự như vậy, lệ phí trước bạ là khoản thu một lần đánh vào tổ chức, cá nhân có tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý khi thực hiện thủ tục để công nhận tính pháp lý về quyền sử dụng hay quyền sở hữu tài sản đó. Đây là một khoản thu nhằm động viên sự đóng góp của chủ tài sản và mang rõ nét tính chất của thuế tài sản.

Ngoài ra, còn có một số khoản thuế hoặc thu khác có liên quan đến đất đai, tài sản nhưng không mang tính chất của thuế tài sản như: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là khoản thu mang tính chất của tiền thuê đất trong một thời gian nhất định đối với tổ chức, cá nhân cần dùng một số diện tích đất để xây dựng nhà ở, xây dựng công trình hoặc hoạt động kinh doanh; Thuế chuyển quyền sử dụng đất là khoản thu mang tính chất của thuế thu nhập đánh vào tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất khi thực hiện việc chuyển nhượng quyền đó cho người khác; Thuế tài nguyên là khoản mang tính chất chuyển nhượng tài nguyên thiên nhiên của quốc gia do Nhà nước quản lý sang tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên, giống như các cơ sở sản xuất, kinh doanh bán các loại nguyên nhiên vật liệu để sản xuất, kinh doanh.

Nhìn tổng quát, từ đặc thù về đất đai thuộc sở hữu toàn dân của Việt Nam, các sắc thuế liên quan đến tài sản hiện nay của nước ta có nhiều điểm chưa rõ nét, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế, trong một số trường hợp, có sự lẫn lộn giữa thuế và lệ phí. Nguồn thu từ các khoản thuế liên quan đến tài sản chỉ chiếm khoảng 3-4% tổng số thuế của NSNN và chưa chiếm vị trí quan trọng trong ngân sách địa phương như hầu hết ở các nước khác… Đó là những điểm cơ bản cần lưu ý khi xây dựng thuế tài sản ở Việt Nam trong những năm sắp tới.

Sự cần thiết phải ban hành thuế tài sản

Cùng với thành tựu trên 20 năm đổi mới của đất nước, thu nhập, đời sống tuyệt đại bộ phận nhân dân ngày càng tăng lên nhanh chóng. Việc xây dựng nhà cửa khang trang, mua sắm tài sản có giá trị lớn đang phát triển mạnh từ thành thị đến nông thôn. Theo đó, chênh lệch giàu nghèo cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, cần có chính sách thuế liên quan đến tài sản phù hợp tình hình mới, vừa khai thác thêm nguồn thu cho NSNN, vừa đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội trong chính sách động viên.

Mặt khác, thực hiện các cam kết trong quá trình hội nhập, nguồn thu về thuế nhập khẩu của nước ta giảm nhiều; các sắc thuế nội địa, trong đó có các sắc thuế liên quan đến tài sản cần được cải cách để bù đắp khoản thu bị giảm sút, đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng, bảo đảm mối quan hệ hữu cơ trong hệ thống chính sách thuế mới.

Trước thực tế các quan hệ tài sản, nhà, đất đang biến động khá phức tạp, đa dạng cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế, chính sách thuế liên quan đến tài sản cần phải có những chế tài rõ ràng hơn để góp phần tích cực vào yêu cầu kiểm kê, kiểm soát vừa phù hợp cơ chế thị trường định hướng XHCN và vừa phù hợp với thông lệ quốc tế.

Một số định hướng cơ bản  trong nghiên cứu xây dựng chính sách thuế tài sản

Từ kinh nghiệm thế giới và thực trạng chính sách thuế hiện nay, việc xây dựng chính sách liên quan đến tài sản, cần được phân tích thấu đáo theo 3 phương án:

Phương án 1: Nghiên cứu ban hành Luật Thuế tài sản điều chỉnh với tất cả các loại tài sản có giá trị lớn.

Phương án 2: Nghiên cứu ban hành Luật Thuế tài sản điều chỉnh với tất cả các loại tài sản Nhà nước cần quản lý.

Phương án 3: Nghiên cứu, kế thừa một số sắc thuế có liên quan đến tài sản với một số cải tiến cần thiết (thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, lệ phí trước bạ). Cân nhắc giữa việc ban hành 2 sắc thuế riêng là “thuế sử dụng đất” áp dụng riêng với các loại đất (đã nằm trong chương trình xây dựng luật mới từ năm 2003) và “thuế nhà” hay nâng Pháp lệnh thuế nhà, đất (mới chỉ đánh thuế với đất ở, đất xây dựng công trình) thành Luật Thuế nhà, đất gồm 2 phần: thuế đánh vào các loại nhà cùng vật kiến trúc và thuế đánh vào tất cả các loại đất sử dụng vào mục đích khác nhau như thuế thổ trạch hoặc thuế nhà, đất mà các nước và Việt Nam đã thực hiện. Đồng thời nâng lệ phí trước bạ thành “thuế trước bạ” (tên gọi đã quen thuộc) phù hợp với bản chất và nâng cao tính pháp lý của khoản thu này.

Việc xây dựng Luật Thuế tài sản theo phương án 1 và phương án 2 là đúng với Nghị quyết của Quốc hội đề ra về chương trình xây dựng các luật thuế mới. Tuy vậy, trên thực tiễn, có phần chưa thật phù hợp với hoàn cảnh số tài sản có giá trị lớn ở ta chưa nhiều, đặc biệt là khả năng quản lý còn yếu kém. Nếu ban hành Luật Thuế tài sản thì hầu như chỉ để thay thế lệ phí trước bạ, thu một lần khi có chuyển nhượng hoặc mua sắm, hoặc xây dựng tài sản, không đáp ứng được các mục tiêu, yêu cầu đề ra. Mặt khác, sẽ phát sinh thêm một sắc thuế có tên mới, lại phải tuyên truyền, giải thích kỹ lưỡng, khá phức tạp.

Thực hiện phương án 3 là phù hợp với yêu cầu trước mắt về cải cách hệ thống chính sách thuế, chủ yếu nhằm từng bước hoàn thiện các sắc thuế, bao quát được các tài sản cần quản lý, khai thác động viên (nhà, đất, tài sản có giá trị lớn, thu nhập phát sinh từ tài sản). Tuy vậy, khi thực hiện hướng nghiên cứu theo phương án 3 cũng phát sinh một số vấn đề cần được xác định rõ ràng, chủ yếu là:

Thuế đánh vào tài sản có áp dụng với quyền sử dụng không?

Về lý thuyết, thuế đánh vào tài sản là nhằm động viên đóng góp của các chủ sở hữu tài sản để bảo đảm công bằng xã hội, hạn chế chênh lệch quá xa giữa người giàu và người nghèo. Tuy vậy, với đặc thù của nước ta, đất đai thuộc sở hữu quốc gia và Nhà nước giao đất cho nhân dân chỉ là giao quyền sử dụng với số lượng và mục đích sử dụng rất khác nhau. Do đó, thuế đánh trên quyền sử dụng đất cũng là cần thiết, nhằm bảo đảm yêu cầu công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ đóng góp của các chủ sở hữu đất đai, tạo được nguồn thu quan trọng với ngân sách địa phương.  

Thuế nên đánh trên quyền sở hữu tài sản của mọi thành phần kinh tế hay chỉ đánh trên quyền sở hữu của tư nhân, hay tập thể

Việc đánh thuế trên quyền sở hữu tài sản của mọi thành phần kinh tế, bao gồm cả sở hữu của Nhà nước (như trụ sở cơ quan, đoàn thể, tàu xe…) có thể phát huy tác dụng khuyến khích sử dụng hợp lý, tiết kiệm những khối lượng công việc rất lớn, công tác quản lý rất phức tạp. Do đó, trước mắt chỉ nên áp dụng với chủ sở hữu tư nhân, tập thể. Ngoài ra, cần có qui định khởi điểm giá trị tài sản đánh thuế phù hợp với từng loại tài sản để giảm bớt số đối tượng nộp thuế, phù hợp khả năng quản lý của cơ quan thuế và tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của đại bộ phận tầng lớp dân cư.

Thuế với việc chuyển dịch tài sản nên xử lý thế nào?

Về lý thuyết, khi có hành vi chuyển dịch tài sản, có thể đánh thuế đồng thời với cả 2 đối tượng: giao và nhận tài sản. Với người giao tài sản mà có thu nhập thì phải nộp thuế thu nhập trên phần chuyển giao; với người nhận tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý phải nộp thuế trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu hay quyền sử dụng tài sản.

Thuế chuyển quyền sử dụng đất của Việt Nam hiện nay đánh dồng loạt trên toàn bộ giá trị tài sản, vừa không đúng tính chất của một loại thuế đánh trên thu nhập tạo ra từ chuyển nhượng đất, vừa không công bằng và trùng lắp về mặt giá trị tài sản phải tính lệ phí trước bạ. Vì thế, nên điều chỉnh vào diện nộp thuế thu nhập (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trong trường hợp có thu nhập (nếu có). Theo đó, thuế liên quan đến tài sản chỉ điều chỉnh trên toàn bộ giá trị chuyển nhượng với người chủ mới nhận tài sản phải làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản, như với lệ phí trước bạ hiện nay.

Về tài sản đánh thuế thường xuyên hàng năm

Nên áp dụng với bất động sản (đất, nhà và vật kiến trúc) tương tự như thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhà, đất ở nước ta và phân cấp nguồn thu ngân sách cho địa phương.

Theo qui định trong Hiến pháp, đất đai của nước ta thuộc sở hữu toàn dân. Thuế đối với đất mang tính chất là loại thuế đánh trên quyền sở dụng tài sản công cộng, nhằm tăng cường quản lý nhà nước với việc sử dụng các loại đất, khuyến khích sử dụng các loại đất, khuyến khích sử dụng tiết kiệm, hợp lý đạt hiệu quả cao, phù hợp với những qui định trong Luật Đất đai và động viên đóng góp của người sử dụng đất cho NSNN, đặc biệt cho ngân sách địa phương.

Từ năm 1998, Quốc hội đã có Nghị quyết về việc nghiên cứu ban hành “Luật Sử dụng đất” áp dụng với đất sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và đất xây dựng nhà, thay thế Luật Sử dụng đất nông nghiệp và Pháp lệnh thuế nhà đất. Đến năm 2003, Quốc hội đã có Nghị quyết miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp với diện tích đất dưới mức hạn điền cho đến năm 2010, được áp dụng phổ biến cho đại bộ phận nông dân. Như vậy, trên thực tế, thuế sử dụng đất nông nghiệp hiện nay chủ yếu chỉ áp dụng với một số đất trang trại. Do đó, chương trình nghiên cứu, xây dựng Luật Thuế sử dụng đất đang thực hiện dở dang bị hoãn lại một phần vì lý do thuế sử dụng đất về thực chất sẽ chủ yếu nhằm vào đất xây dựng nhà ở, xây dựng vật kiến trúc. Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học đề nghị xem xét hoàn thiện và ban hành Luật Thuế nhà, đất gồm 2 phần: thuế đánh vào nhà và thuế đánh vào đất các loại (thay thế Luật Sử dụng đất nông nghiệp và pháp lệnh thuế nhà, đất hiện nay chỉ thu với đất ở, đất xây dựng). Cách giải quyết này không đòi hỏi phải nghiên cứu ban hành 2 luật thuế riêng biệt (thuế sử dụng đất và thuế nhà) làm cho chính sách thuế thêm nặng nề, mất nhiều công sức tuyên truyền, giải thích mà vẫn đạt được yêu cầu hoàn thiện hệ thống thuế.

Về phần thuế đối với nhà:

Trong phần đầu của Pháp lệnh thuế nhà, đất ban hành từ năm 1992 có ghi: “Pháp lệnh này qui định thuế nhà, đất” nhưng trong Điều 1 của Pháp lệnh lại ghi: “Tạm thời chưa thu và chưa có qui định về thuế nhà”. Tiếc rằng, phần thuế đánh vào nhà đã “tạm thời bị treo” đến gần 20 năm, trong khi đó nhà ở và vật kiến trúc trên đất (sau đây gọi chung là nhà) đang được xây dựng kiên cố, cao tầng, đặc biệt ở các thành phố, thị xã làm mất đi một nguồn thu tiềm năng lớn để bù đắp cho một số khoản thuế khác bị giảm và nhu cầu chi tiêu của Nhà nước không ngừng tăng nhanh.

Trong tình hình hiện nay, thuế đánh vào nhà có thể tạo được nguồn thu đáng kể, từng bước góp phần thực hiện công bằng xã hội, bù đắp một phần quan trọng về chi phí xây dựng, tu dưỡng cơ sở hạ tầng, hạn chế chênh lệch về thu nhập, đời sống xã hội, phục vụ yêu cầu kiểm kê, kiểm soát, khuyến khích sử dụng nhà tiết kiệm, hợp lý. Do vậy, trước mắt, có thể chỉ đánh thuế đối với nhà thuộc sở hữu cá nhân, tập thể, từ cấp 3 trở lên ở các thành phố, thị xã để không ảnh hưởng đến bà con nông dân, công nhân viên chức, người lao động có thu nhập thấp.

Đối tượng nộp thuế cũng là chủ sở hữu các loại nhà thuộc diện đánh thuế. Trong trường hợp có tranh chấp, chưa rõ chủ sở hữu thì cá nhân hoặc tổ chức đang trực tiếp sử dụng phải nộp thuế nhưng đây không phải là căn cứ pháp lý để thừa nhận quyền sử hữu nhà.

Căn cứ tính thuế là diện tích, giá tính thuế và thuế suất.

Diện tích thuộc diện đánh thuế là diện tích nhà thực tế thuộc quyền sở hữu (hay đang sử dụng) bao gồm diện tích của công trình chính (ở, làm việc, sản xuất, kinh doanh…) và diện tích phụ (nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, ban công, hành lang…). Diện tích tính thuế của công trình chính, công trình phụ của nhà biệt thự, nhà cấp 1, cấp 2 là diện tích thực tế sử dụng; đối với công trình phụ của nhà cấp 3 được tính bằng 50% diện tích chính.

Giá tính thuế mỗi mét vuông (m2) nhà được căn cứ theo giá của Bộ Xây dựng qui định với từng loại nhà hay giá thị trường tại điạ phương. Giá trị với nhà nhiều tầng cũng được xem xét theo tỷ lệ với từng tầng khác nhau. Giá tính thuế cũng được phân biệt giữa nhà xây dựng mới hay đã được sử dụng sau một thời gian cụ thể.

Khi xây dựng thuế nhà, thuế suất cần được xem xét, xây dựng ở mức thấp qua điều tra khảo sát, phù hợp với khả năng đóng góp phổ biến trong xã hội.

Thuế nhà có thể được miễn với nhà của cơ quan ngoại giao, nhà tình nghĩa, nhà dùng vào lợi ích công cộng, tôn giáo, hoặc miễn giảm có thời hạn với nhà mới xây dựng, nhà hư hỏng nặng mà chi phí sửa chữa chiếm trên 50% giá tính thuế, hoặc trường hợp gặp rủi ro, tai nạn bất thường…

Về phần thuế đối với đất:

Căn cứ tính thuế đất cần được quy định lại là diện tích, giá tính thuế và thuế suất, thay cho căn cứ tính thuế hiện nay là diện tích, hạng đất và định mức thuế của từng hạng đất (tính bằng bao nhiêu kg thóc).

Diện tích tính thuế đất là toàn bộ diện tích đang sử dụng vào các mục đích khác nhau (sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, đất xây nhà hay dùng vào các mục đích phi nông nghiệp), không phân biệt đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng hay chưa. Tổ chức, cá nhân sử dụng đất đều thuộc đối tượng nộp thuế.

Giá tính thuế đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định theo những nguyên tắc quy định trong luật đất đai, được công bố kịp thời làm căn cứ tính thuế hàng năm.

Vì có phạm vi rộng nên thuế suất thuế đất cần được quy định theo mức thấp theo hướng nhẹ hơn với thuế sử dụng đất nông nghiệp và cao hơn một ít so với thuế đất (trong thuế nhà đất) phù hợp với khả năng đóng góp phổ biến của các tầng lớp dân cư, đặc biệt với thu nhập thấp của cán bộ công nhân viên chức.

Ngoài việc tiếp tục áp dụng  miễn thuế đất với diện tích sản xuất nông nghiệp dưới mức hạn điền, cần xem xét miễn thêm với đất sử dụng cho các cơ quan ngoại giao, đất sử dụng vào lợi ích công cộng, tôn giáo, đất xây nhà tình nghĩa và những trường hợp cụ thể do rủi ro, tai nạn bất thường.

Với giá tính thuế và thuế suất được ổn định trong một số năm, cơ quan thuế có thể tính thành mức thuế hàng năm cho 1 m2 đất để người nộp thuế dễ dàng tính được số thuế phải nộp trên diện tích đất sử dụng.

Về tài sản đánh thuế một lần khi có chuyển dịch, mua sắm hoặc xây dựng mới.

Nghiên cứu, ban hành Luật Thuế trước bạ, thay thế lệ phí trước bạ hiện nay, đúng với tính chất của khoản thu. Thuế trước bạ được xây dựng trên cơ sở kế thừa có bổ sung, sửa đổi một số điểm cần thiết, phù hợp với tình hình mới, nhưng về cơ bản vẫn là khoản thu 1 lần đánh vào người có tài sản khi thực hiện thủ tục trước bạ, nhằm xác nhận tính pháp lý về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản khi có chuyển nhượng, mua sắm hoặc xây dựng mới.

Tài sản phải làm thủ tục trước bạ và nộp thuế bao gồm các loại tài sản nằm trong danh mục quản lý của Nhà nước như các tài sản đang phải nộp lệ phí trước bạ hiện nay. Ngoài ra, một số tài sản cần bổ sung do nhu cầu muốn được xác nhận tính pháp lý của các văn tự có liên quan đến việc giao dịch, chuyển nhượng như: nhà, đất, tàu thuỷ, máy bay, ôtô, xe máy, súng thể thao, vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, công ty, thương hiệu, quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền sáng chế, phát minh, hợp đồng kinh tế giá trị lớn… cũng cần được quy định rõ trong luật.

Căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất của tài sản chuyển nhượng, mua sắm, xây dựng không thấp hơn giá tối thiểu do Nhà nước quy định, trừ trường hợp đặc biệt có chứng cứ xác minh.

Thuế suất có thể quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) trên giá tính thuế hoặc theo một mức thuế tuyệt đối, tuỳ thuộc loại tài sản. Về nguyên tắc, thuế trước bạ cần động viên theo hướng thấp với tài sản của các doanh nghiệp, công ty hoặc có tài sản có giá trị lớn, phải nộp thuế hàng năm (nhà, đất) và động viên cao hơn với loại tài sản chỉ nộp thuế một lần kết hợp với các chính sách quản lý kinh tế khác (ví dụ, hạn chế loại phương tiện giao thông có dung tích xilanh lớn). Nhìn chung, thuế trước bạ không có miễn giảm nhưng cũng cần chiếu cố với trường hợp cần thiết như với người nghèo thừa kế tài sản không có tiền nộp thuế.

Một số điều kiện để các luật thuế đạt hiệu quả

Các luật thuế tài sản có ảnh hưởng rộng đến nhiều tầng lớp dân cư và có thể liên quan đến người có thu nhập thấp. Do vậy, khi xây dựng cần quan tâm đến một số điều kiện sau đây:

Việc xây dựng chính sách, chế độ được thực hiện trên cơ sở điều tra, khảo sát thận trọng, phân tích khách quan, toàn diện, tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp để có những quy định khả thi. Sớm tổ chức tốt việc đo đạc, lập bản đồ và hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, xây dựng biểu giá tính thuế phù hợp để việc tính thuế sát, đúng. Mở rộng việc ứng dụng công nghệ thông tin, lưu trữ hồ sơ cập nhật biến động về tình hình sử dụng, chuyển nhượng tài sản thuộc diện Nhà nước quản lý. Thiết lập quy chuẩn chứng từ hợp pháp, chuẩn xác về tài sản đánh thuế, cùng với chế tài thích hợp. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền về quản lý tài sản thuộc diện đánh thuế và chế độ phối hợp giữa các cơ quan có chức năng liên quan, các đoàn thể quần chúng để giám sát và nắm kịp thời biến động về chuyển nhượng, mua sắm, xây dựng tài sản đánh thuế, đặc biệt về nhà, đất. Mở rộng và đa dạng hoá các hình thức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết và khả năng công tác của cán bộ quản lý thuế ở cơ quan chuyên môn hay ở phường, xã, cùng với cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, đạt hiệu quả cao, giảm thấp chi phí. Tận dụng mọi hình thức tuyên truyền, giải thích tư vấn, cung cấp thông tin để mọi người dân am hiểu sâu sắc chính sách, chế độ thuế và tự giác chấp hành đầy đủ nghĩa vụ thuế liên quan đến tài sản./.

SOURCE:  TẠP CHÍ THUẾ SỐ 38, 39, 40 KỲ 2, 3, 4 THÁNG 10 NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: