CẦN CÓ CƠ CHẾ HỢP LÝ

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Công chứng sai có thể dẫn đến việc chuyển dịch tài sản nhầm địa chỉ và điều đó cũng có nghĩa rằng sẽ có người nào đó bị thiệt hại. Loại rủi ro nghề nghiệp này là mối đe dọa cả đối với công chứng viên nhà nước và công chứng viên tư nhân. Tuy nhiên, trong trường hợp công chứng nhà nước phạm sai lầm gây thiệt hại, thì có Nhà nước đứng đằng sau, đóng vai người bảo trợ, bồi thường thay cho viên chức thi hành công vụ; trong khi đằng sau công chứng tư nhân chẳng có ai.

Bởi vậy, vấn đề bảo đảm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên tư nhân được xã hội đặt ra thậm chí trước khi các văn phòng công chứng tư mở cửa đón những người khách đầu tiên. Đáng tiếc là người làm luật đã tỏ ra chậm chạp, nặng nề, thiếu nhạy bén trong việc giải quyết vấn đề này.

Trong khung cảnh luật hiện hành, mỗi khi cần xác định trách nhiệm vật chất của công chứng viên trong quá trình tác nghiệp, người ta chỉ có thể dựa vào luật chung về trách nhiệm dân sự. Cụ thể, nếu công chứng viên làm sai, dẫn đến thiệt hại cho người khác, thì phải bồi thường thiệt hại bằng toàn bộ tài sản của mình. Thoạt nghe, dễ nghĩ rằng người bị thiệt hại được pháp luật bảo vệ tốt; nhưng trên thực tế, nạn nhân của công chứng viên, cũng như bất kỳ nguyên đơn dân sự nào trong một vụ kiện đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chỉ là một chủ nợ không có bảo đảm của người gây thiệt hại.

Rõ hơn, muốn cưỡng chế việc bồi thường thì người bị thiệt hại phải chỉ ra các tài sản thuộc sở hữu của người gây thiệt hại, có thể bán được để trả nợ . Nếu người gây thiệt hại có chủ nợ được bảo đảm bằng các biện pháp cầm cố, thế chấp, thì người bị thiệt hại phải để chủ nợ được ưu tiên trả nợ trước. Nếu ngoài người bị thiệt hại, người gây thiệt hại còn có các chủ nợ không có bảo đảm khác nữa, thì việc trả nợ được thực hiện theo quy tắc “chạy đua”: ai đến trước được trả trước; ai đến sau được trả sau, bằng những gì còn lại; ai chậm chân, đến muộn, chẳng còn gì để bán trừ nợ, thì đành chịu.

Ở các nước tiên tiến, trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên được bảo hiểm bắt buộc. Trong trường hợp công chứng viên được bảo hiểm nghề nghiệp mắc sai sót về chuyên môn mà không phải do lỗi cố ý, gây thiệt hại cho một người nào đó, thì công ty bảo hiểm sẽ thế chỗ công chứng viên trong vai trò người bồi thường.

Continue reading

Advertisements

NÊN BÀN CHUYỆN CƠ BẢN TRƯỚC

PGS.TS. VŨ TRỌNG KHẢI

Trước khi viết những điều cụ thể có tính kỹ thuật, chúng ta cần thảo luận để đi đến đồng thuận về những quan điểm, nguyên tắc xây dựng Luật Đất đai mới. Trong bài viết ngắn này, tôi chỉ xin bàn đôi điều mà thôi.

1. Quyền sử dụng đất là một thứ quyền tài sản, nên nó là hàng hóa, dù là hàng hóa đặc biệt, phải được tự do trao đổi trên thị trường theo pháp luật. Vì thế bất kỳ ai, kể cả nhà nước, không có quyền “thu hồi đất” của người dân, vì bất cứ mục đích nào, mà phải mua quyền sử dụng đất.

Tại sao khi đất đai cho nhà đầu tư (chủ tư bản) thuê để xây dựng khu công nghiệp hay sân gôn, nay nếu Nhà nước cần để xây dựng đường xá, thì phải thương lượng mua lại quyền sử dụng đất của chủ đầu tư theo giá thị trường, còn đối với nông dân thì Nhà nước lại “thu hồi đất nông nghiệp” của họ? Và áp đặt giá đền bù “sát giá thị trường” mà không phải là mua theo giá thị trường?

Mặt khác, vì là hàng hóa, nên giá đất do Nhà nước quy định chỉ có ý nghĩa làm cơ sở để tính thuế thổ trạch, thuế trước bạ. Giá đất do Nhà nước quy định nhất thiết không thể là cơ sở để nhà nước cấp kinh phí cho các tổ chức nhà nước có nhu cầu tăng quy mô sử dụng đất đai. Vì với mức giá đó, các tổ chức này không thể mua được quyền sử dụng đất của người dân.

2. Luật pháp không được phân biệt đối xử giữa các chủ thể (cá nhân và tổ chức) trong cùng một hành vi. Cùng sử dụng đất nông nghiệp, nhưng hộ nông dân bị hạn điền khi giao đất và khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, còn tổ chức thì không? Các doanh nghiệp chỉ cần lập dự án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, nếu xét thấy khả thi, Nhà nước có thể cho họ thuê, giao quyền sử dụng đất với diện tích hàng ngàn héc ta. Đó là điều phi lý.

Hai vợ chồng với tính cách là một hộ gia đình thì chỉ được nhận chuyển quyền sử dụng đất tối đa 2 héc ta ở đồng bằng sông Hồng, nhưng nếu họ lập công ty TNHH thì không bị hạn điền 2 héc ta mà có thể có hàng trăm, ngàn héc ta, nếu dự án đầu tư của họ được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT CHO VAY TỚI HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT, KINH DOANH

TS. ĐỖ THỊ THÚY – Ngân hàng Công thương

Thị trường tài chính thường phân biệt 3 loại lãi suất: (i) lãi suất chính sách, là lãi suất mà các Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được trực tiếp, ví dụ như Fed fund rate ở Mỹ hay lãi suất cơ bản ở Việt Nam; (ii) lãi suất liên ngân hàng, là lãi suất các ngân hàng thương mại (NHTM) cho vay lẫn nhau, ví dụ LIBOR, TIBOR, VIBOR, (iii) lãi suất thương mại, là lãi suất các NHTM vay hoặc cho vay các đối tượng không phải là ngân hàng trong nền kinh tế, ví dụ lãi suất huy động, lãi suất cho vay.

Về cơ bản 3 loại lãi suất này có liên hệ mật thiết với nhau và tuân thủ theo nguyên tắc: (i) < (ii) < (iii). Trong đó, lãi suất cho vay lại phải tuân thủ theo bất phương trình: L1 < L2 < L3 < L4 (với L1 là mức lạm phát, L2 là lãi suất huy động, L3 là lãi suất cho vay, L4 là tỷ suất lợi nhuận bình quân xã hội trong cùng kỳ hạn lãi suất. Trong một vài thời điểm, mối quan hệ trên có thể bị phá vỡ tạm thời, nhưng nếu nó bị phá vỡ trong 1 thời gian dài thì đó là dấu hiệu không tốt cho hệ thống ngân hàng và chắc chắn dòng vốn đang không được lưu thông một cách tự do và hiệu quả. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ bàn đến lãi suất cho vay và tác động của nó đến hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của doanh nghiệp (DN) và đề xuất một số giải pháp để xử lý vấn đề lãi suất một cách hợp lý, hiệu quả.

Lãi suất cho vay của NHTM và hoạt động của các DN

Trong quan hệ tín dụng giữa DN và Ngân hàng, lãi suất cho vay phản ánh giá cả của đồng vốn mà người sử dụng vốn là các DN phải trả cho người cho vay là các NHTM. Đối với các DN, lãi suất cho vay hình thành nên chi phí vốn và là chi phí đầu vào của quá trình SXKD. Do đó, mọi sự biến động về lãi suất cho vay trên thị trường cũng đều ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả SXKD hay nói cách khác là tác động trực tiếp đến lợi nhuận của DN và qua đó điều chỉnh các hành vi của họ các hoạt động kinh tế. Khi lãi suất cho vay của NHTM tăng sẽ đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm tăng lên, làm suy giảm lợi nhuận cũng như khả năng cạnh tranh của DN, gây ra tình trạng thua lỗ, phá sản trong hoạt động SXKD. Xu hướng tăng lãi suất Ngân hàng sẽ luôn đi liền với xu hướng cắt giảm, thu hẹp quy mô và phạm vi của các hoạt động SXKD trong nền kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất Ngân hàng giảm sẽ tạo điều kiện cho DN giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Lãi suất cho vay thấp luôn là động lực khuyến khích các DN mở rộng đầu tư, phát triển các hoạt động SXKD và qua đó kích thích tăng trưởng trong toàn bộ nền kinh tế.
Ở nước ta, do điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển, các kênh huy động vốn đối với DN còn rất hạn chế nên nguồn vốn từ các Ngân hàng luôn đóng một vai trò hết sức quan trọng, do đó, lãi suất cho vay của các NHTM luôn có tác động rất lớn đến hoạt động của các DN. Trong năm 2008, dưới sức ép của tình trạng lạm phát tăng cao và tác động từ các giải pháp chống lạm phát của Chính phủ, mặt bằng lãi suất cho vay của các NHTM trên thị trường đã có những biến động bất thường và gây ra nhiều xáo trộn trong nền kinh tế, trong đó khu vực DN là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nhất. Có lẽ mãi sau này người ta không thể quên được cảnh tượng “dòng người” xếp hàng để rút tiền từ nơi lãi suất thấp sang nơi lãi suất cao vì lãi suất tiền gửi được đẩy lên liên tục, cao nhất là 19-20%/năm. Theo đó lãi suất cho vay được đẩy lên đúng bằng lãi suất tối đa, 21%/năm. Những tác động tiêu cực của lãi suất đến các DN trong năm vừa qua có thể khái quát lại như sau:

Continue reading

LỰA CHỌN PHÁT TRIỂN SAU KHI GIA NHẬP WTO VÀ TRONG ĐIỀU KIỆN QUỐC TẾ MỚI

TS. TRƯƠNG CÔNG HÙNG – Giám đốc Dự án Quốc gia Hỗ trợ Thể chế cho Việt Nam, Văn phòng Quốc hội

NGUYỄN THỊ VY – Phó Trưởng Ban Chuyên đề cơ sở Tạp chí Cộng sản

Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được gần hai năm cũng là lúc cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu diễn ra buộc các nhà nghiên cứu phải xem xét đến các vấn đề về thể chế. Nhiều nhà nghiên cứu chiến lược đặt vấn đề về sự cần thiết phải đổi mới nhận thức và điều kiện phát triển trong tình hình mới.

Khi đánh giá về cuộc khủng hoảng hiện nay ở Mỹ và các nước phương Tây, U-ma Hây-kiu (Umair Haque), nhà nghiên cứu chiến lược của Mỹ, đã đề cập tới những thay đổi mang tính thể chế. Ông viết: “Mặc dù đó là một khoảng thời gian kinh hoàng, chán nản và đầy thất vọng – người ta vẫn có thể tìm thấy một tia hy vọng trong cơn khủng hoảng, đó là: nó phụ thuộc vào việc chúng ta tái hình dung, thay đổi quan niệm, và tái sáng tạo chúng…”(1).

Nguyên nhân của khủng hoảng bắt nguồn từ những đầu cơ bong bóng vào thị trường nhà, đất ở Mỹ, nhưng gốc rễ của nó chính là sự bất ổn của các thể chế tài chính – tiền tệ của tư bản chủ nghĩa. Các chương trình tái đầu tư, điều chỉnh tái cơ cấu đã được Mỹ và các nước châu Âu đề ra với những nguồn tiền khổng lồ từ ngân sách nhằm ổn định lại thị trường tài chính thế giới, như Quốc hội Mỹ thông qua giải pháp 700 tỉ USD, Cộng hòa Liên bang Đức chi 600 tỉ ơ-rô. Nhiều nước cũng đang kêu gọi sự giúp đỡ khẩn cấp của các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF).

1. Những thuận lợi và thách thức đối với các nước đang phát triển sau khi gia nhập WTO và trong bối cảnh thế giới năm 2008

Mặc dù quá trình quốc tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế thế giới đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, tự do hoá thương mại, tự do hoá tài chính dường như đang tạo ra những cơ hội đầu tư, sản xuất và xuất khẩu to lớn, song các nước đang phát triển không dễ gì đạt được sự phát triển theo cơ cấu kinh tế mà họ mong muốn.

Ngoài các yếu tố về chính trị, khoa học, kỹ thuật, theo chúng tôi, về khía cạnh kinh tế, một trong những điểm khác căn bản của môi trường quốc tế hiện nay là các thể chế kinh tế quốc tế đã được hoàn thiện và các nước phát triển có khả năng áp đặt các điều kiện “chơi” đối với các nước đang phát triển. Thực chất của vấn đề toàn cầu hoá, tự do hoá các nền kinh tế là thúc đẩy các nền kinh tế phải mở cửa, tham gia vào tự do hoá thương mại, đầu tư và thúc đẩy tự do cạnh tranh quốc tế. Các thể chế trong khuôn khổ của là một ví dụ. Sự áp đặt các điều khoản tự do về thương mại, thúc đẩy giao lưu hàng hoá theo hướng có lợi cho các nước phát triển không chỉ thể hiện qua các hàng rào kỹ thuật, các điều kiện về thanh toán quốc tế, mà còn thể hiện ngay trong cùng một sân chơi giữa các nước đều là thành viên của WTO. Những yêu cầu đặt ra đối với các nước gia nhập WTO sau càng lớn hơn lên và sẽ ngày càng làm bất lợi cho những nước tham gia sau nữa.

Continue reading

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: CÓ “GIẤY ĐỎ” NHƯNG ỦY BAN GIÀNH GIẢI QUYẾT

KHẢI HÀ

Theo luật, các vụ tranh chấp đất đai có “giấy đỏ” phải do tòa án giải quyết. Bà Nguyễn Thị Thắm có hơn 21.000 m2 đất  (vừa để trồng lúa, vừa để ở) tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Năm 1999, bà được UBND huyện này cấp hai “giấy đỏ” cho hai loại đất trên.

Lúc để tòa, lúc lại giành giải quyết

Đến năm 2002, bà Thắm bị bà Trần Thị The khởi kiện đòi lại đất. Lý ra phải để TAND huyện xem xét, giải quyết tranh chấp theo đúng luật định thì UBND huyện Tân Uyên lại nhận giải quyết. Giữa năm 2003, UBND huyện đã ra quyết định thu hồi hai “giấy đỏ” đã cấp cho bà Thắm, công nhận cho bà The được quyền sử dụng diện tích đất trên.

Ròng rã hai năm bà Thắm kiên trì khiếu nại cách xử lý đã nêu của UBND huyện. Đầu năm 2005, UBND huyện chấp thuận giải quyết một phần đơn khiếu nại của bà Thắm, cho phép bà nhận lại hơn 9.000 m2 đất.

Vẫn không đồng ý, bà Thắm khiếu nại đến UBND tỉnh Bình Dương. Giữa năm 2006, UBND tỉnh Bình Dương đã hủy bỏ cả hai quyết định nêu trên của UBND huyện với lý do sai thẩm quyền.

Lần này, bà The lại tiếp tục nộp đơn khởi kiện đòi lại đất. Tháng 7-2007, phiên tòa sơ thẩm của TAND huyện đã xử cho bà The thua kiện bởi lẽ bà đã từ bỏ quyền sử dụng đất từ năm 1990… Thay vào đó, bà Thắm được quyền sử dụng đất theo hai “giấy đỏ” được cấp.

Bà The kháng cáo. Khi TAND tỉnh Bình Dương chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm thì bất ngờ UBND tỉnh ra thông báo ý kiến kết luận của phó chủ tịch UBND tỉnh về vụ tranh chấp nêu trên. Theo đó, UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh xem xét lại cách xử lý trước đó của tỉnh về việc hủy bỏ các quyết định giải quyết trái thẩm quyền của UBND huyện. Căn cứ vào chỉ đạo này, TAND tỉnh Bình Dương đã ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án.

Continue reading

HỆ GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM TRONG ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP

GS.TS. HOÀNG CHÍ BẢO – Hội đồng Lý luận Trung ương

Văn hóa Việt Nam trong quá trình xây dựng để trở thành một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần phải bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, làm sống động những gì đặc sắc, ưu tú nhất của văn hóa dân tộc, tạo ra xung lực mạnh mẽ để phát triển chính dân tộc mình, đóng góp xứng đáng vào đời sống văn hóa nhân loại, tham gia quá trình hội nhập quốc tế với sự tự biểu hiện, tự khẳng định giá trị, bản sắc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại.

1 – Văn hóa là hoạt động sáng tạo và là hệ thống các giá trị do chính con người tạo ra trong mỗi thời đại lịch sử

Việt Nam, xét trên phương diện đất nước học, là cả một địa – văn hóa hết sức độc đáo bên cạnh một địa – kinh tế và địa – chính trị rất đặc thù.

Lịch sử hằng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã tạo cho Việt Nam có một truyền thống lâu đời, bền vững đó là truyền thống lịch sử, truyền thống dân tộc. Cái hồn của truyền thống ấy là văn hóa và bản lĩnh sáng tạo, sức sống của con người Việt Nam. Dân tộc Việt Nam có một truyền thống từ lâu đời về văn hóa và văn hiến, kết tinh thành hệ giá trị chân – thiện – mỹ như một hệ giá trị phổ quát của văn hóa, của mọi dân tộc trong quốc gia – dân tộc mình và trong cộng đồng nhân loại. Song mỗi dân tộc, do những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử riêng của mình, từ những trải nghiệm trực tiếp trong thực tiễn lao động và đấu tranh, trong môi trường tự nhiên và xã hội để tồn tại và phát triển, lại có những quan niệm và cách thức biểu hiện riêng của mình về chân – thiện – mỹ. Nó biểu hiện thành tâm lý và ý thức, phong tục tập quán và lối sống, tạo thành tính cách của con người và cộng đồng dân tộc. Các giá trị văn hóa truyền thống đó kết tinh lại trong quan niệm, tư tưởng, triết lý, trong đạo đức và cách thức ứng xử, phản ánh diện mạo tinh thần, tâm hồn và tình cảm của cả một dân tộc, có trong các sản phẩm vật thể và phi vật thể của văn hóa. Trong văn hóa tinh thần (phi vật thể) và đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam truyền thống, qua các thời đại lịch sử cần đặc biệt chú trọng tới một lĩnh vực rất phong phú và tinh tế nằm chung trong cấu trúc của văn hóa, ấy là văn học, nghệ thuật, bao gồm cả dòng văn học dân gian và dòng văn học bác học. Đây là di sản tinh thần rất quan trọng mà các thế hệ người Việt Nam từ xa xưa – tổ tiên, ông cha chúng ta đã sáng tạo ra, đã để lại cho đời sau. Nó phải được bảo tồn và phát huy, được kế thừa và phát triển trong những điều kiện lịch sử mới. Nó cần phải có mặt trong hành trang của những con người Việt Nam hiện nay, nhất là thế hệ trẻ nhập cuộc với đổi mới để phát triển, đổi mới trong nội tại của đất nước, con người và dân tộc mình đồng thời hội nhập với bên ngoài để phát triển và hiện đại hóa.

2 – Con người sản xuất và sáng tạo ra văn hóa đồng thời văn hóa đã phát triển và hoàn thiện con người, định hình bản chất người và nhân tính của nó

Văn hóa trong ý nghĩ sâu xa của nó là trình độ người trong phát triển, là tất cả những gì chứng tỏ nhân tính vượt lên trên thú tính (bản năng của loài vật).

Văn hóa được hình dung như một lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, theo cách này, có văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, có hoạt động văn hóa, sản phẩm văn hóa, có quản lý nhà nước về văn hóa. Trong nền kinh tế thị trường, đã và đang hình thành thị trường văn hóa, xuất phát từ đặc tính thương mại của văn hóa (có sản xuất, kinh doanh, dịch vụ văn hóa, tuân theo quy luật thị trường, quy luật giá trị, cạnh tranh, quy luật cung – cầu). Cũng cần phải tính đến xu hướng thương mại, thương mại hóa văn hóa, tuy nhiên hiện tượng này có thể xem trên hai mặt hợp lý, cần thiết và những biến thái của hiện tượng này có thể dẫn đến những lệch lạc về định hướng giá trị, nhu cầu, thị hiếu mà quản lý văn hóa và giáo dục văn hóa phải điều tiết.

Continue reading

%d bloggers like this: