SA THẢI HAY ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG?

LS. THS. NGUYỄN HẢI VÂN – Giám đốc Công ty Luật hợp danh Đông Á

Hiện nay, trong quá trình hợp tác công việc giữa người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ), khi phát sinh trường hợp NLĐ trong doanh nghiệp (DN) không đáp ứng các yêu cầu công việc theo hợp đồng lao động (HĐLĐ) đã ký kết, hoặc có những vi phạm nhất định về nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, các quy chế quản lý nội bộ của DN, đại diện pháp luật của các DN thường ban hành các loại văn bản sau: Quyết định sa thải; Quyết định buộc thôi việc; Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động; Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động; Quyết định ngừng công việc…

Tuy nhiên, có thể do không nắm hết bản chất pháp lý của các văn bản trên, nên một số trường hợp doanh nhân, người đại diện pháp luật DN khi ban hành văn bản đã không hội đủ các căn cứ pháp lý cần thiết, hoặc không tuân thủ đúng thủ tục do pháp luật quy định. Vì vậy, khi NLĐ khiếu nại, NSDLĐ đã buộc phải thu hồi các quyết định đã ban hành, thậm chí có nhiều vụ kiện tại Tòa án, mà bị đơn là NSDLĐ đã thua kiện, bên cạnh chế tài phải nhận NLĐ trở lại làm việc, bị đơn còn phải bồi thường thiệt hại cho nguyên đơn theo luật định, NSDLĐ vừa thiệt hại về vật chất, vừa thiệt hại về tinh thần, uy tín quản lý trong kinh doanh sút giảm, thương hiệu DN bị tổn hại nghiêm trọng.

Để chọn giải pháp đúng luật đối với các trường hợp chấm dứt một quan hệ lao động, doanh nhân cần nắm rõ bản chất pháp lý, các thủ tục cần thiết theo luật định. Hiện nay, theo Bộ luật Lao động (BLLĐ) có 4 cách chấm dứt một quan hệ lao động như sau: – Các trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng (Điều 36 BLLĐ); – NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ (Điều 38 BLLĐ); – NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ (Điều 37 BLLĐ); – Hình thức kỷ luật sa thải (Điều 84, 85 BLLĐ).

Với trường hợp HĐLĐ chấm dứt theo thỏa thuận, thì không có các rủi ro pháp lý nảy sinh. Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi chỉ phân tích sự khác biệt của trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ và hình thức kỷ luật sa thải theo Bộ luật Lao động hiện hành để các doanh nhân, cán bộ quản lý DN tham khảo trước khi áp dụng.

Về bản chất pháp lý

Đơn phương chấm dứt HĐLĐ: là một biện pháp hành chính.

Khoản 1 Điều 37 BLLĐ quy định các trường hợp NLĐ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ như sau:

Tiếp tục đọc

Advertisements

LUẬT CHO – KHÔNG DÁM, LUẬT CẤM – ĐƯỢC LÀM?

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – Chủ tịch Công ty Luật BASICO

Trong một xã hội văn minh, các doanh nghiệp không được làm những gì mà pháp luật ngăn cấm và được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm đoán. Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng hiện nay, dường như khó làm được điều đơn giản ấy?

Luật cho phép mà vẫn không được làm

Điều 57, Hiến pháp và điều 7, Luật Doanh nghiệp khẳng định công dân và doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nhưng trong hoạt động tín dụng ngân hàng, có những điều pháp luật đã quy định rõ là được làm, mà các ngân hàng lại vẫn không dám làm.

Đó là việc thu các loại phí liên quan đến hoạt động cho vay như phí cấp hạn mức tín dụng, phí thẩm định tài sản bảo đảm tiền vay, phí gia hạn nợ… Các khoản phí này là bình thường theo thông lệ quốc tế và cũng rất hợp lý ở chỗ, ngân hàng sẽ thu thêm phí khác nhau đối với một số khoản vay, trong trường hợp phải bỏ ra nhiều thời gian và chi phí hơn, thay vì nâng lãi suất đồng loạt đối với khách hàng vay vốn. Điều 54, Luật Các tổ chức tín dụng có nhắc đến một trong những quyền của tổ chức tín dụng (TCTD) trong cho vay là “được miễn, giảm lãi suất, phí”.

Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ban hành cũng nêu rõ việc thu loại phí trả nợ trước hạn. Các loại phí khác tuy không được đề cập đến, nhưng tuyệt nhiên không có văn bản pháp luật nào ngăn cấm hay hạn chế thu phí tín dụng, kể cả các nghị định, thông tư về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực ngân hàng.

Tuy nhiên, ngày 10-6-2008, NHNN lại có Công văn số 5158, tiếp đó là Công văn số 5455 ngày 19-6-2008 yêu cầu “các tổ chức tín dụng không được thu phí liên quan đến hoạt động cho vay”.

Cho đến thời kỳ này, hai công văn này vẫn ràng buộc các ngân hàng không được thu bất kỳ loại phí cho vay nào, kể cả trường hợp cho vay dưới trần lãi suất.

Như vậy là pháp luật thì cho phép, nhưng NHNN chỉ bằng những công văn mà lại cấm thu tất cả các loại phí cho vay là không hợp lý, đặc biệt là loại phí trả nợ trước hạn đã được điều 478, Bộ luật Dân sự quy định rất rõ: “Bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thỏa thuận khác”.

Tiếp tục đọc

ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ XÁC NHẬN TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN KHÔNG CHÍNH XÁC

PHAN NHÂN

Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân được cấp cho cá nhân là nhằm chứng minh tình trạng hôn nhân của đương sự trong thời điểm hiện tại để sử dụng vào việc đăng ký kết hôn hoặc thực hiện vào các mục đích khác và thẩm quyền xác nhận là do UBND cấp xã nơi cư trú của đương sự. Thời gian qua, một số UBND cấp xã đã xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ ràng, thiếu chính xác, không thể hiện được tình trạng hôn nhân của đương sự. Do đó, cơ quan tiếp nhận không thể biết tình trạng “hôn nhân thực” của đương sự.

Thực hiện theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch (Nghị định 158), Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 158 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (Thông tư số 01) thì việc xác nhận tình trạng hôn nhân của một người được thể hiện bằng hai hình thức: xác nhận trực tiếp vào tờ khai đăng ký kết hôn trong nước và có yếu tố nước ngoài (dùng cho kết hôn) hoặc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo mẫu quy định (dùng cho kết hôn và mục đích khác). Thực tế thời gian qua địa phương đã thực hiện tốt vai trò này và giúp cho người dân thực hiện các thủ tục, giao dịch của mình được thuận lợi hơn cũng như thể hiện vai trò quản lý Nhà nước. Tuy nhiên dù đã được Sở Tư pháp nhiều lần hướng dẫn thông qua công tác kiểm tra, các bài viết đăng trên chuyên mục của Bản tin Tư pháp… nhưng vẫn còn tình trạng nhiều cán bộ Tư pháp lúng túng trong việc tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận sai, chưa đầy đủ trong nội dung xác nhận này.

1. Xác nhận tình trạng hôn nhân, mỗi nơi một kiểu!

Qua việc tiếp nhận và thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Sở Tư pháp, phát hiện hơn 90% các nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của UBND cấp xã thực hiện chưa chính xác, chưa đầy đủ, không đúng với tình trạng hôn nhân thực tế của đương sự, không thống nhất với nhau, sai quy định và không căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư số 01 mà mỗi nơi có “sáng kiến” riêng. Sau đây chúng tôi “giới thiệu” một số nội dung xác nhận sai để cán bộ Tư pháp hộ tịch rút kinh nghiệm.
“Nguyễn Thị Thùy Dung sinh năm 15/01/1982 HKTT: ấp 1, xã TK-TM-ĐT đăng ký kết hôn lần thứ hai là đúng sự thật”; “Đ/s Nguyễn Thị Bé Lan SN: 1979 ngụ ấp ĐH, xã TTĐ, thành phố C – Đồng Tháp chưa đăng ký kết hôn lần 2 tại địa phương. Nay đăng ký kết lần hai là đúng”; “Đ/s Phạm Kim Nga SN 1984 cư trú ấp Bình Hòa xã BT, LV, Đồng Tháp từ trước 2007 đã kết hôn, sau năm 2007 ly hôn sống độc thân. Nay kết hôn lần thứ hai”; “Công dân Trần Thị Kim Phượng, SN 1981 có HKTT ấp An Hòa, xã MAHB, huyện LV tỉnh Đồng Tháp đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”; “Đ/s Hà Thị Nhung, SN 29/9/1972, HKTT ấp Hòa Trung, xã HT, huyện CT-ĐT. Đã ly hôn nay đăng ký kết hôn lần 2 là đúng”… Qua đây, ta thấy rằng nội dung các xác nhận trên chưa thể hiện việc đương sự đã kết hôn và ly hôn theo Bản án ly hôn số…, ngày…, tháng…năm… của Tòa án nhân dân…., hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai. Do đó, cơ quan tiếp nhận, nhất là Sở Tư pháp từ chối nhận hồ sơ đăng ký kết hôn vì nội dung xác nhận tình trạng hôn nhân của đương sự “không đảm bảo” và không biết tình trạng hôn nhân hiện tại của đương sự như thế nào. Và “đương nhiên” đương sự phải xác nhận lại (có UBND xã xác nhận đến… 3 lần vẫn không đúng). Dù lỗi này của UBND cấp xã và cán bộ Tư pháp hộ tịch, người trực tiếp tham mưu cho UBND cùng cấp xác nhận “không chuẩn” nhưng gây phiền hà cho người dân phải đi lại nhiều lần. Việc này trái với các quy đinh tại khoản 2, Mục I của Thông tư số 01.

Tiếp tục đọc

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TP. HCM

LƯƠNG THIỆN

Trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện có khoảng 19.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh bất động sản, trong đó có gần 1.000 doanh nghiệp có dự án đầu tư thường xuyên. Tuy nhiên, đa số là doanh nghiệp nhỏ, thiếu kinh nghiệm, vốn ít nên chỉ đầu tư những dự án nhỏ lẻ.

Từ năm 2003 đến năm 2008, trên 50% số dự án nhà ở đã giao đất cho nhà đầu tư có quy mô diện tích nhỏ (dưới 5 ha). Do đó, số nhà ở mới của Thành phố phát triển manh mún, trong khi cơ sở hạ tầng phát triển không đồng bộ và không kết nối, dẫn đến tình trạng ngập lụt ngày càng gia tăng.

Trong 5 năm qua, Thành phố đã giao tổng cộng 475 dự án nhà ở với tổng diện tích đất là 4.083ha. Con số này cho thấy, quỹ đất cung ứng cho thị trường sơ cấp rất lớn, nhưng đầu tư các dự án quá chậm nên sản phẩm cung cấp cho thị trường thứ cấp quá ít so với nhu cầu.

Đó chính là lý do dẫn đến cơn sốt giá nhà đất vừa qua. Vì vậy, Thành phố đã ban hành quyết định thu hồi, hủy bỏ quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 64 dự án với tổng diện tích gần 640 ha do triển khai chậm hoặc không triển khai.

Sau 2 năm gia nhập WTO: ngoại lấn át nội

Ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, một làn sóng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam diễn ra rất sôi động. Trong đó có nhiều nhà đầu tư lớn, tầm cỡ trên thế giới, bởi vậy, đã đẩy chỉ tiêu kinh tế về đầu tư trực tiếp (FDI) tăng vọt, vượt kỷ lục cao nhất 20 năm qua.

Thị trường bất động sản chiếm đến 50% vốn đầu tư nước ngoài, cả về số dự án lẫn tổng vốn đầu tư. Cụ thể, năm 2007 có 24 dự án đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực bất động sản với tổng vốn đầu tư là 1.530,4 triệu USD, gấp gần 2 lần tổng vốn đầu tư từ năm 2000 đến năm 2006. Con số này tiếp tục tăng lên trong năm 2008: 45 dự án đầu tư vào lĩnh vực bất động sản với tổng vốn đầu tư lên gần 3 tỉ USD.

Nguồn vốn trong nước rất hạn hẹp thì việc FDI tăng mạnh vào lĩnh vực bất động sản đã góp phần rất quan trọng vào việc đô thị hóa, nâng cấp cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy, tại các thành phố lớn, hầu hết các dự án, công trình lớn, những khách sạn 5 sao… đều có yếu tố nước ngoài.

Việc gia nhập WTO đã đem đến nguồn vốn dồi dào, nhờ đó thị trường nhà ở khởi sắc mạnh mẽ. Năm 2007, Thành phố có 23 dự án hoàn thành, cung cấp cho thị trường 6.400 căn hộ, (thuộc các dự án Garden Plaza, Hoàng Anh Gia Lai 1, Cantavil, Botanic, Tanda Court).

Tiếp tục đọc

KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ RA ĐỜI, PHÁT TRIỂN CỦA HỒI GIÁO VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HỒI GIÁO

LÊ THANH HÀ

1.Khái quát về lịch sử ra đời và phát triển của Hồi giáo

Hoàn cảnh lịch sử dẫn đến sự ra đời của hồi giáo

Hồi giáo (tôn giáo của tộc người Hồi) là cách gọi của người Trung Quốc gọi đạo Islam (theo tiếng Ảrập nghĩa là phục tùng theo ý chân chủ) xuất hiện ở bán đảo Ảrập vào khoảng thế kỷ thứ VII. Ảrập Xêut là quê hương của Hồi giáo. Hồi giáo ra đời do hàng loạt nguyên nhân kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp của các tộc người vùng Trung cận Đông và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Ảrập thành một nhà nước phong kiến thần quyền do đó cần một tôn giáo độc thần để thay thế những tôn giáo đa thần tồn tại ở đó từ trước.

Sự ra đời và phát triển của Hồi giáo

Sự ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi một người nổi tiếng là giáo chủ Mohammed (Mahomet). Mâohammed (570 – 632) là một người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca.

Tục truyền rằng khi Mohammed được 40 tuổi (năm 610) ông một mình vào trong một hang nhỏ ớ núi Xira, ngoại thành Mecca để tu luyện và trầm ngâm suy tưởng. Trong một đêm thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Coran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” và ông tự xưng là đã tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo. Đầu tiên ông bí mật truyền giáo trong số những bạn bè thân thiết và họ trở thành những tín đồ đầu tiên, về sau sự truyền đạo trở nên công khai, đối tượng mở rọâng tới quần chúng ở Mecca nhưng bị giới quý tộc đả kích và bức hại. Môhamet đã trốn được đến Yathrib (sau đổi thành Madinah – Thành phố tiên tri). Ơû đây ông phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh và cuộc cách mạng của ông giành được thắng lợi. Sau đó ông tổ chức vũ trang cho các tín đồ (Muslim) và dùng khẩu hiệu “Chiến đấu vì Allah” và đè bẹp được giới quý tộc ở Mecca.

Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo Mohamet còn liên minh với các bộ tộc và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo. Có thể nói cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau. Sự ra đời của Hồi giáo đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới thống nhất trên bán đảo Ảrập.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 900 triệu tín đồ Hồi giáo có mặt ở hơn 50 quốc gia trên khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở các nước Ảrập (trừ Li băng và Ixraen) và chiếm đại đa số ở các nước như Iran, Irắc, Pakistan, Apganistan, Thổ Nhĩ Kỳ… và một số nước vùng Trung Á và cả ở Đông nam Á (chủ yếu ở Inđonesia). Một số quốc gia tự coi mình là quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên Hồi giáo ở các quốc gia khác nhau nên đã phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng về cơ bản không đối lập nhau.

Tiếp tục đọc

SUY NGẪM 36

college-graduates-full Nhân Hội thảo “Vấn đề giới trong xã hội và trong công tác đào tạo Luật” được tổ chức bởi Đại học Luật HN, Đại học Luật TPHCM và Đại học Lund Thụy Điển  từ ngày 17 đến ngày 18/4/2009 tại TPHCM, Civillawinfor nhớ đến cuộc trao đổi trong thời gian ngắn trước đó với một nữ luật sư ở TPHCM, theo khảo sát của Luật sư này:

Khi còn là sinh viên luật:

– Sinh viên nữ chăm học hơn sinh viên nam,

– Sinh viên nữ lễ độ, chân tình hơn sinh viên nam,

– Sinh viên nữ nắm bắt ý kiến đóng góp của người khác tốt hơn sinh viên nam.

Nhưng khi hành nghề luật sư:

– Luật sư nam làm việc tập trung hơn luật sư nữ,

– Luật sư nam nghiên cứu khái quát tốt hơn luật sư nữ,

– Luật sư nam đầu tư học tiếp (bằng nhiều hình thức) hơn luật sư nữ.

CIVILLAWINFOR

%d bloggers like this: