GIAN NAN LÀ NỢ . . .MÀ “ANH HÙNG” HAY KẺ LỪA DÂN PHẢI TRẢ ĐÂY?!

PHẠM VIẾT ĐÀO

Trên một tờ báo có số lượng phát hành lớn gần đây dư luận không thể không để ý tới một bài viết dưới dạng chân dung về một vị giám đốc mà theo dư luận một số cơ quan báo chí như Đài Truyền hình Việt Nam và một vài tờ báo khác thì vị này có liên can tới một vụ tại tiếng: Đó là vụ Công ty D & T đã bí mật bán 47 lô đất trong dự án xây biệt thự để lấy 262 tỷ đồng trong khi đó Công ty này trước đó đã thế chấp 47 lô đất trên để vay 140 tỷ đồng của ngân hàng. Hậu quả của vụ việc này là: 262 tỷ đồng mà các hộ bỏ tiền ra mua có nguy cơ bị mất trắng vì bị xiết nợ…

Điều làm cho người đọc băn khoăn đó là tiêu đề bài viết được đặt với một cái tên đầy ẩn ý và rất thơ: Gian nan là nợ…; tiêu đề này làm cho người đọc liên tưởng tới một câu thơ nổi tiếng của danh nhân Đào Tấn:

Lao xao sóng vỗ ngọn tùng

            Gian nan là nợ anh hùng phải vay…

Theo thông tin của Báo Công an nhân dân thì Tập đoàn Bảo Sơn hiện đã khởi kiện Ban Thời sự Đài truyền hình Việt Nam về việc đưa tin sai sự thật liên quan đến việc Công ty D&T lừa đảo; Đơn kiện đã được Tòa án quận Ba Đình thụ lý.

Theo tin của Ban Thời sự Đài truyền hình Việt Nam thì trước khi đem bán 47 lô đất này, ngày 10-12-2007, Công ty D&T đã ký hợp đồng tín dụng (số 215/HĐTD-GPB/07) với NHTMCP Dầu khí toàn cầu (GP Bank) để vay hơn 140 tỷ đồng bằng tài sản thế chấp chính là lô đất để triển khai dự án. Trong hợp đồng vay thế chấp bằng 47 lô đất này, Ngân hàng GP Bank, Công ty Bảo Sơn, Công ty D&T đã ký cam kết: 3 bên thống nhất chi tiết về tài sản bảo đảm và các nội dung thế chấp khác thể hiện trong hợp đồng kinh tế mà các bên đã ký kết. Tóm lại Công ty Bảo Sơn đứng ra bảo lãnh cho Công ty D & T vay tiền ngân hàng bởi Công ty Bảo Sơn mới là chủ đầu tư dự án…

Trong hợp đồng vay tiền tín dụng này có một chi tiết đáng chú ý theo Đài truyền hình Việt Nam: Các bên tham gia ký hợp đồng vay gồm Ngân hàng dịch vụ dầu khí Toàn cầu, Công ty Bảo Sơn và Công ty D & T đã cam kết ghi trong hợp đồng: Không bên nào tiết lộ nội dung các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết ? Chương trình thời sự đã đặc tả chi tiết về chữ ký của 3 pháp nhân đã ký trong đó có chữ ký của Giám đốc Tập đoàn Bảo Sơn vào hợp đồng vay và cả điều khoản bí hiểm kể trên.

Continue reading

Advertisements

BẢO ĐẢM TÍNH HỢP HIẾN, HỢP PHÁP VÀ TÍNH THỐNG NHẤT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

ĐẶNG VĂN CHIẾN – Phó chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật QH

I. Căn cứ đánh giá hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước

Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật là một nguyên tắc, một yêu cầu quan trọng trong quy trình lập pháp.

Thứ nhất, về tính hợp hiến. Đây là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật. Tính hợp hiến đòi hỏi tất cả các quy phạm pháp luật thuộc bất kỳ một ngành luật nào trong hệ thống pháp luật cũng không được trái hoặc mâu thuẫn với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất, thứ bậc, hiệu lực pháp lý của văn bản, tạo thành một hệ thống thống nhất về tên gọi với thứ bậc cao thấp khác nhau theo quy định của Hiến pháp. Các đạo luật, pháp lệnh trái với Hiến pháp sẽ bị đình chỉ, bãi bỏ. Tính hợp hiến không chỉ được xác định trên cơ sở những lời văn, những quy định cụ thể mà còn trên cơ sở tinh thần, tư tưởng, nguyên tắc của Hiến pháp. 
Thứ hai, về tính hợp pháp. Thuật ngữ này khi được sử dụng cùng với thuật ngữ “tính hợp hiến” không bao hàm ý nghĩa về sự phù hợp với các quy định của pháp luật nói chung (trong đó có Hiến pháp) mà chỉ đề cập đến sự phù hợp với các quy định của các đạo luật và văn bản dưới luật. Theo nghĩa như vậy, để bảo đảm tính hợp pháp, văn bản quy phạm pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục luật định. Bên cạnh đó, hình thức của văn bản phải phù hợp với quy định về kỹ thuật văn bản.
Thứ ba, về tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Đây là phạm trù có liên hệ mật thiết với hai phạm trù được trình bày trên (là tính hợp hiến và tính hợp pháp), bởi lẽ, khi văn bản pháp luật đã bảo đảm tính hợp hiến và hợp pháp thì giữa chúng đã đạt được sự thống nhất nhất định, cả về nội dung và hình thức. 
      Có thể nói tính thống nhất là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của một đạo luật, pháp lệnh. Tiêu chí này chủ yếu là để đánh giá mối liên hệ gắn bó nội tại giữa các yếu tố nội dung của đạo luật, pháp lệnh cũng như giữa đạo luật, pháp lệnh đó với toàn bộ hệ thống pháp luật. Ngoài ra, tính thống nhất của hệ thống pháp luật cũng bao hàm cả sự thống nhất về mặt hình thức. Tuy nhiên, về cơ bản, tính thống nhất về mặt nội dung luôn có vai trò quyết định. 
      Khi xem xét tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cần phải nghiên cứu ở cả hai khía cạnh: Tính thống nhất trong chính đạo luật, pháp lệnh và tính thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật.

Continue reading

BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI CHO NÔNG DÂN – MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI CẤP BÁCH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

THS. ĐỖ VĂN QUÂN

Đặt vấn đề

Bảo đảm an sinh được xác lập là một quyền cơ bản của con người, mức độ đảm bảo quyền an sinh là một tiêu chí quan trọng đánh giá trình độ sự phát triển của một quốc gia, dân tộc. Đối với Việt Nam, là một đất nước mới bước vào quá trình hội nhập và phát triển, có nhiều vấn đề, mục tiêu cần phải phấn đấu giải quyết trong đó không thể thiếu mục tiêu thực hiện tốt vấn đề an sinh xã hội cho toàn dân.

Trong điều kiện  là một đất nước mà về cơ bản mang đặc trưng nông thôn, nông nghiệp và nông dân cho nên khi bước vào quá trình hội nhập và phát triển, khu vực “tam nông” đang chịu nhiều thiệt thòi nhất và đồng thời có ảnh hưởng quyết định đến công cuộc hội nhập và phát triển của đất nước. Vì lẽ đó thực hiện vấn đề an sinh xã hội của Việt Nam trước hết phải quan tâm đến đối tượng người nông dân.

Khu vực nông thôn nước ta hiện có hơn 90% nông dân sinh sống, đây là lực lượng cơ bản trực tiếp lao động tạo ra sản phẩm nông nghiệp nuôi sống xã hội, làm giàu cho đất nước. Nhưng xét về mặt nào đó trong bối cảnh hội nhập và phát triển thì nông dân nước ta đang là tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi nhất, so với công sức lao động bỏ ra của họ. Thực tế cho thấy vì nhiều lý do chính sách xã hội nói chung và chính sách an sinh xã  hội nói riêng cho người nông dân ở Việt Nam còn chưa được quan tâm đúng mức. Do vậy, chưa thực sự tạo ra động lực to lớn  và phát huy vai trò của họ đối với quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Nhận thức tầm quan trọng cũng như sự khuyết thiếu của vấn đề này, gần đây Đảng, Chính phủ Việt Nam đã nhấn mạnh: “Trong quá trình hội nhập và phát triển, nông dân là lực lượng xã hội cực kỳ nhạy cảm, dễ bị tổn thương, gánh nặng hệ luỵ trước những tác động của kinh tế thị trường. Do đó chính sách nhất quán của Đảng và nhà nước ta là thực hiện chính sách xã hội hài hoà, các chính sách phúc lợi đối với nông dân, nhất là người nông dân ở miền núi vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Phải đảm bảo nâng cao đời sống về mọi mặt và thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho nông dân khi tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Đó chính là yếu tố quyết định để nông nghiệp, nông thôn, nông dân nước ta hội nhập và phát triển”

Trong báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Để bảo đảm việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội đã ban hành, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành liên quan, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố ưu tiên bố trí đủ nguồn vốn và tăng dự trữ, dự phòng; đồng thời xây dựng cơ chế thực thi và chỉ đạo kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện, bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước kịp thời, đúng đối tượng, không để thất thoát lãng phí. Đẩy nhanh việc nghiên cứu hoàn thiện các chính sách hỗ trợ có tính chất cơ bản, lâu dài về an sinh xã hội; triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, chỉ đạo tổng kết việc thực hiện chế độ hưu của nông dân ở một số địa phương để có thể chuyển sang hình thức BHXH tự nguyện; khẩn trương chuẩn bị các điều kiện để thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp”.

Continue reading

CHỦ NGHĨA TƯ BẢN VƯỢT XA HƠN CUỘC KHỦNG HOẢNG

ARMARTYA SEN (Nguyễn Quang A dịch theo The New York Review of Books, Volume 56, Số 5, 26-2-2009)

1. 2008 là một năm của các cuộc khủng hoảng. Trước tiên, chúng ta đã có một cuộc khủng hoảng lương thực, đặc biệt đe dọa đến người tiêu dùng nghèo, nhất là ở châu Phi. Cùng với nó là một sự tăng giá dầu kỷ lục, đe dọa tất cả các quốc gia nhập khẩu dầu. Cuối cùng, khá bất ngờ vào mùa thu, suy giảm kinh tế toàn cầu ập đến, và bây giờ đang tăng tốc với mức độ khủng khiếp.

Năm 2009 dường như có nhiều khả năng là suy giảm sẽ gia tăng gay gắt, và nhiều nhà kinh tế đang tiên liệu một cuộc suy thoái hoàn toàn, thậm chí lớn như suy thoái trong các năm 1930. Trong khi những “gia tài” kếch xù đã bị sụt giảm quá mức, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất lại là những người đã bị thua thiệt nhất rồi.

Câu hỏi nổi lên gay gắt nhất bây giờ liên quan đến bản chất của chủ nghĩa tư bản và liệu nó có cần phải được thay đổi hay không. Một số người bảo vệ chủ nghĩa tư bản vô độ [không bị kiềm chế], những người chống lại sự thay đổi, tin chắc rằng chủ nghĩa tư bản bị đổ lỗi quá nhiều vì các vấn đề kinh tế ngắn hạn – các vấn đề mà họ gán cho các thuộc tính khác nhau như sự quản trị tồi (ví dụ từ chính quyền Bush) và hành vi xấu của một số cá nhân (hay như cái mà John McCain mô tả trong cuộc vận động bầu cử tổng thống là “sự tham lam của Wall Street”). Những người khác, tuy nhiên, có nhìn thấy những khuyết tật thật sự nghiêm trọng trong những cách sắp xếp kinh tế hiện tồn và muốn cải cách chúng, tìm kiếm một cách tiếp cận thay thế khác, ngày càng được gọi là “chủ nghĩa tư bản mới.”

Ý tưởng về chủ nghĩa tư bản cũ và mới đã tiếp sinh lực cho một hội thảo được gọi là “Thế giới mới, Chủ nghĩa tư bản mới” được tổ chức tại Paris vào tháng 1-2009, do Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy và cựu Thủ tướng Anh Tony Blair làm chủ, cả hai người đã hùng hồn trình bày về sự cần thiết phải thay đổi. Bà Thủ tướng Đức, Angela Merkel, cũng thế, bà nói về ý tưởng cũ của Đức, về một “thị trường xã hội” – một thị trường được kiềm chế bởi một hỗn hợp của các chính sách tạo đồng thuận – như là một kế hoạch khả dĩ cho chủ nghĩa tư bản mới (dù Đức đã không làm tốt hơn mấy các nền kinh tế thị trường khác trong khủng hoảng mới đây).

Ý tưởng về thay đổi tổ chức xã hội trong dài hạn rõ ràng là cần thiết, độc lập với các chiến lược đối phó với cuộc khủng hoảng trước mắt. Tôi sẽ tách ba câu hỏi ra khỏi nhiều câu hỏi có thể được nêu lên. Trước tiên, chúng ta có thực sự cần một loại “chủ nghĩa tư bản mới” nào đó hơn là một hệ thống kinh tế không đơn nhất, dựa trên các định chế đa dạng khác nhau được lựa chọn một cách thực dụng, và dựa trên các giá trị xã hội mà chúng ta có thể bảo được vệ về mặt đạo đức? Chúng ta có cần tìm kiếm một chủ nghĩa tư bản mới hay một “thế giới mới” – dùng thuật ngữ khác được nhắc tới tại hội nghị Paris – cái có một dạng khác hay không?

Continue reading

QUYỀN SỞ HỮU NHÀ TẠI VIỆT NAM CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

THS. CAO NHẤT LINH – Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ

Theo quy định hiện hành, quyền được sở hữu nhà tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn rất hạn chế. Tuy nhiên, theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở năm 2005 (dự kiến trình Quốc hội vào thàng 5/2009) thì đại đa số người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ có quyền mua nhà tự do như công dân Việt Nam trong nước, theo nguyên tắc mọi công dân điều bình đẳng trước pháp luật.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam theo quy định của Luật Nhà ở năm 2005. Tuy nhiên, Luật này đã và đang gặp nhiều vướng mắc khi áp dụng và trên thực tế, phần đông người Việt Nam định cư ở nước ngoài đều không thể mua được nhà tại Việt Nam. Vì thế, chúng ta đang tiến hành sửa đổi, bổ sung Luật Nhà ở để tạo sự bình đẳng giữa công dân Việt Nam trong nước và công dân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực nhà ở. Theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở năm 2005, dự kiến sẽ trình Quốc hội thảo luận vào tháng 5/2009, đại đa số người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ được mua nhà tại Việt Nam tự do như công dân Việt Nam trong nước.

Quyền sở hữu nhà bị hạn chế theo quy định hiện hành

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam. Theo quy định của Điều 126 của Luật Nhà ở năm 2005, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nếu muốn mua nhà tại Việt Nam thì họ phải là người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam (1), người có công đóng góp với đất nước (2), nhà hoạt động văn hoá, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước (3), người được phép về sống ổn định tại Việt Nam… Những người không thuộc diện nêu trên nhưng đã về Việt Nam cư trú với thời hạn được phép từ sáu tháng trở lên thì chỉ được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ.

Với quy định trên, quyền được sở hữu nhà của người Việt Nam định cư ở nước ngoài rất hạn chế. Bởi vì, nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài không phải là những cá nhân mang lợi ích về cho đất nước Việt Nam thì họ chỉ có quyền mua nhà khi họ trở về sinh sống ổn định tại Việt Nam. Nếu không, họ chỉ được quyền sở hữu một căn nhà duy nhất sau khi cư trú tại Việt Nam được 6 tháng. Quy định này rõ ràng là bất hợp lý và bất bình đẳng, bởi các lý do sau:

Thứ nhất, Luật này đã đánh đồng giữa quyền được sở hữu nhà ở của công dân Việt Nam và người nước ngoài. Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật Quốc tịch Việt Nam 2008, công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng, người nào không có quốc tịch Việt Nam là người nước ngoài. Do đó, về mặt pháp lý, người gốc Việt Nam ở nước ngoài là người nước ngoài, mặc dù trước kia họ là công dân Việt Nam. Với quy định của Luật Nhà ở năm 2005, chúng ta thấy rằng quyền sở hữu nhà giữa công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam (hay còn gọi là người nước ngoài) là ngang nhau, với những điều kiện được sở hữu như nhau. Điều này sẽ không công bằng giữa những người Việt Nam luôn luôn muốn giữ quốc tịch Việt Nam để làm công dân Việt Nam, trong khi những người khác đã từ bỏ quốc tịch Việt Nam để chỉ còn "gốc Việt Nam". Do đó, về nguyên tắc, chúng ta không nên quy định điều kiện được sở hữu nhà một cách ngang nhau giữa những công dân Việt Nam với những người không còn là công dân Việt Nam.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC HÀNH CHÍNH

THS. LÊ THỊ PHƯƠNG HOA – Sở Tư pháp Vĩnh Phúc

1. Pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong lĩnh vực hành chính  

Theo các Điều 72, 74 của Hiến pháp năm 1992, mọi chủ thể (kể cả Nhà nước) xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức đều phải bồi thường. Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 (Điều 623, 624), tiếp đến là BLDS năm 2005 (Điều 619, 620) đã có những quy định mang tính nguyên tắc về trách nhiệm bồi thường nhà nước (BTNN). Trong lĩnh vực hành chính nói riêng, trên cơ sở quy định của BLDS năm 1995, Nghị định số 47/CP ngày 03/5/1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra có quy định: “Cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước hoặc người có thẩm quyền gây ra trong khi thi hành công vụ hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được quy định tại Điều 623 và Điều 624 của BLDS”. Đồng thời, Nghị định 47/CP cũng đề cập trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết bồi thường thiệt hại, bồi hoàn.  Cho đến nay, hầu hết các văn bản pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực quản lý nhà nước đã đề cập tới trách nhiệm BTNN như: Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; Luật Hải quan năm 2001; Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Luật Đầu tư năm 2005; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (Nghị định số 84/2007/NĐ-CP).

Đặc biệt, trong lĩnh vực ban hành văn bản pháp quy, Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã quy định: “tuỳ theo tính chất và mức độ của văn bản trái pháp luật, cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật… phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” (Điều 8).

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: GIỞ TRÒ “MÈO VỜN CHUỘT” ĐỂ TRÁNH TRẢ NỢ 194 LƯỢNG VÀNG SJC?!

M.THANH

Sau khi đưa đủ 174 lượng vàng SJC – tiền mua đất cho vợ chồng ông Trần Quyết Thắng (SN 1955) và bà Lâm Mỹ Nguyệt (SN 1966, ngụ Q5) thì hai anh em ông Nguyễn Văn Hiền (SN 1954, ngụ Tân Bình), Nguyễn Văn Kim (SN 1958, ngụ Q10) phát hiện đất họ mua đang thuộc diện tranh chấp.

TAND Q5 buộc vợ chồng ông Thắng phải trả lại số tiền đã nhận của ông Hiền và ông Kim. Tuy nhiên, nhiều năm trôi qua, vụ việc đã không được giải quyết mà còn trở nên rối rắm hơn khi hai vợ chồng ông Thắng, bà Nguyệt đột nhiên khởi kiện nhau, đòi phân chia tài sản chung, riêng của căn nhà – vốn thuộc tài sản phát mãi…

Gian nan … đòi tiền

Tháng 7-2001, giữa ông Hiền và ông Thắng có giao kết “hợp đồng sang nhượng đất” lô đất diện tích 80m2 tại ấp 4, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh với giá 90 lượng vàng SJC. Ông Hiền đã thanh toán đủ số vàng mua đất cho vợ chồng ông Thắng. Tương tự là hoàn cảnh của ông Kim. Vì muốn sống gần anh trai, nên ông Kim cũng đã ký hợp đồng mua bán lô đất cạnh bên với bà Nguyệt theo giá thỏa thuận là 84 lượng vàng. Trước đó, hai anh em ông đã được vợ chồng ông Thắng dẫn đến xem vị trí hai lô đất nói trên và giao một số giấy tờ có liên quan. Tuy nhiên, sau khi thủ tục hoàn tất, họ cho người đến đo đạc để thực hiện ý định xây nhà thì có người đến ngăn cản. Đến nước này, ông Hiền và ông Kim phải đành nhờ sự can thiệp của cơ quan chức năng.

Được biết, tại Công an Q5, vợ chồng ông Thắng, bà Nguyệt đã khai có nhận số tiền mua đất của ông Hiền, ông Kim. Vụ việc sau đó cũng được khởi kiện lên TAND Q5.

TAND Q5 đã mở phiên xét xử vào ngày 22-6-2005 quyết định: hủy các hợp đồng sang nhượng đất đã ký trước đó giữa hai bên; đồng thời buộc vợ chồng ông Thắng, bà Nguyệt phải trả lại cho ông Hiền 90 lượng vàng và ông Kim 84 lượng vàng. Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Thắng, bà Nguyệt không thực hiện việc thanh toán nợ theo quyết định này thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi theo qui định của pháp luật.

Hơn 2 năm kể từ ngày tòa tuyên án, phía nguyên đơn (ông Hiền, ông Kim) không nhận thấy bất cứ động thái nào từ vợ chồng ông Thắng nên đã làm đơn khiếu nại gởi nhiều nơi.

Continue reading

CÁC CAM KẾT VỀ MINH BẠCH HÓA CỦA VIỆT NAM TRONG WTO

QHQ – Vụ Pháp luật quốc tế, Bộ Tư pháp

Minh bạch hoá là vấn đề đặc biệt quan trọng trong WTO và là vấn đề được quan tâm trong quá trình đàm phán gia nhập WTO của Việt Nam. Minh bạch hoá cũng là một trong những cam kết mà Việt Nam cần phải thực hiện ngay sau khi Việt Nam chính thức trở thành Thành viên của WTO. Bộ Tư pháp được Chính phủ giao là cơ quan chủ trì đàm phán minh bạch hoá pháp luật trong quá trình gia nhập WTO cũng như thực hiện các cam kết này. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp những nội dung chính liên quan đến cam kết về minh bạch hóa của Việt Nam trong WTO.

Các cam kết của Việt Nam về minh bạch hóa trong WTO bao gồm các cam kết về minh bạch được áp dụng chung cho các thành viên WTO được nêu trong các Hiệp định của WTO. Bên cạnh đó, Việt Nam còn có nghĩa vụ thực hiện các cam kết cụ thể khác được nêu trong Báo cáo của Ban Công tác về gia nhập WTO của Việt Nam (Báo cáo gia nhập). Các cam kết về minh bạch hoá không được quy định riêng trong Hiệp định nào của WTO mà được quy định tại các hiệp định thương mại đa phương và nhiều bên như Hiệp định chung về Thuế quan và thương mại (GATT) Điều X, Hiệp định về các biện pháp kỹ thuật Điều 2.9, Hiệp định về quy tắc xuất xứ hàng hoá Điều 2.g và Điều 3.e, Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng Điều 25, Hiệp định về các biện pháp tự vệ Điều 12, Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và vệ sinh dịch tễ Điều 7, Hiệp định TRIPS Điều 63, Hiệp định nông nghiệp Điều 18.2-3, Hiệp định TRIMS Điều 6.1 và Hiệp định thương mại dịch vụ GATS Điều III….

Về cơ bản, các cam kết minh bạch hóa của Việt Nam trong WTO có thể chia thành những nhóm nội dung cơ bản như sau:

1. Nghĩa vụ đăng tất cả các biệp pháp thương mại

Việt Nam có nghĩa vụ đảm bảo rằng tất cả các luật, quy định, nghị định, quyết định của toà án và các quyết định hành chính có tính áp dụng chung phải được đăng trước khi có hiệu lực hoặc trước khi được thi hành, ngoại trừ những quy định, quyết định của toà án và các quyết định hành chính có tính áp dụng chung và các biện pháp khác có liên quan đến tình trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia, hoặc các văn bản mà việc đăng sẽ gây trở ngại cho quá trình thực thi pháp luật.

Việc đăng phải được thực hiện trên các trang điện tử hoặc các tạp chí. Nghĩa vụ này cũng được áp dụng đối với các biện pháp của chính quyền địa phương.

Ngoài các cam kết trên, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, Việt Nam cam kết đăng một danh sách tất cả các tổ chức chịu trách nhiệm uỷ quyền, cho phép hoặc quản lý các hoạt động dịch vụ trong mỗi ngành dịch vụ và Việt Nam có nghĩa vụ đăng trên Công báo tất cả những thủ tục và điều kiện cấp phép hiện hành của mình.

Continue reading

%d bloggers like this: