NHÀ Ở XÃ HỘI: KINH NGHIỆM CỦA CÁC NƯỚC PHÁT TRIỂN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Ở các nước phát triển, nhà ở xã hội chủ yếu dành cho người có thu nhập ổn định thuộc loại thấp so với mặt bằng chung. Người quan tâm đến loại nhà ở này thường là lao động phổ thông thuộc các ngành nghề, cả trong hai khu vực công và tư. Các chung cư xã hội còn có thể dung nạp những người thuộc các thành phần khác, như sinh viên hoặc công chức trẻ, nhưng sự hiện diện của họ không mang tính tiêu biểu

Trong trường hợp điển hình, cư dân trong nhà ở xã hội là những người đã bước sang tuổi trung niên. Sau bao nhiêu năm vật vã với cuộc mưu sinh, họ hầu như đã an phận, chấp nhận vị trí xã hội khiêm tốn của mình, tương ứng với năng lực tạo của cải cũng khiêm tốn. Không (hoặc không còn) nuôi mộng cao xa, họ chỉ mong có một nơi nương thân, cho họ và gia đình, phù hợp với khả năng chi trả.

Tư tưởng chủ đạo của chính sách nhà ở xã hội là làm thế nào để người có thu nhập thấp được định cư trong những điều kiện tốt nhất có thể. Điều đó cần thiết cho việc bảo tồn lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội. Xây dựng chung cư xã hội cũng góp phần xây dựng các cộng đồng thị dân có tổ chức, nhằm hạn chế khả năng hình thành một cách tự phát các khu dân cư của người có thu nhập thấp, nhếch nhác, bẩn thỉu, còn gọi là khu nhà ổ chuột, với đầy rẫy vấn nạn xã hội nhức nhối.

Chắc chắn không thể chỉ dựa vào lòng nhân đạo hoặc ý thức tự giác của nhà đầu tư bất động sản để hiện thực hoá ý tưởng tốt đẹp ấy; Nhà nước chủ động can thiệp bằng cách đặt ra khung pháp lý cho sự hình thành chung cư xã hội, đặc biệt là xây dựng bộ tiêu chí kỹ thuật cho căn hộ trong chung cư xã hội. Dù mang tên “xã hội”, căn hộ phải có đầy đủ các tiện nghi đặc trưng cho cuộc sống thị dân, như điện, nước, nhà tắm, phòng ăn, nhà bếp, hệ thống truyền hình cáp, điện thoại,… Tất nhiên, các thiết bị tiện ích không thể thuộc các loại hàng hiệu đắt tiền, mà chỉ cần thoả mãn yêu cầu phục vụ tốt cho cuộc sống hàng ngày của con người.

Tư tưởng chủ đạo của chính sách nhà ở xã hội là làm thế nào để người có thu nhập thấp được định cư trong những điều kiện tốt nhất có thể. Điều đó cần thiết cho việc bảo tồn lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội

Người có thu nhập thấp có hai sự lựa chọn: mua hoặc thuê căn hộ. Do được trang bị tiện nghi khá, nhà ở xã hội thường có giá thành tương đối cao, dù trên nguyên tắc, đây là sản phẩm của các dự án đầu tư bất động sản phi lợi nhuận. Không có nhiều tiền dành dụm, người có thu nhập thấp trong hầu hết trường hợp thích thuê hơn là mua nhà.

Continue reading

Advertisements

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH PHÙ HỢP VỚI CÁC CAM KẾT HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM (Phần 1)

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương

Những nỗ lực cải thiện thể chế môi trường kinh doanh được phản ánh qua việc thăng hạng đáng kể thứ bậc môi trường kinh doanh của Việt Nam dựa trên 10 tiêu chí của Công ty tài chính quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng thế giới (WB); Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI theo VCCI và Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI…

Tuy nhiên, những nỗ lực cải cách thể chế MTKD như vậy là chưa đủ. So với các nước trong khu vực, thứ bậc về mức độ thuận lợi và dễ dàng trong kinh doanh ở Việt Nam thấp hơn nhiều (như Singapore đứng thứ nhất, Thái Lan 15, Malaysia 24, Trung Quốc 83…), đòi hỏi Việt Nam cần phải có những nỗ lực mạnh mẽ trong cải thiện thể chế MTKD để thu hẹp khoảng cách với các nước nhằm nâng cao tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, các doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, đảm bảo sự thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Đánh giá về môi trường kinh doanh của Việt Nam theo 10 tiêu chí của WB/IFC

Theo Báo cáo Môi trường kinh doanh năm 2007 của Ngân hàng Thế giới và Công ty Tài chính quốc tế công bố ngày 06/9/2007, Việt Nam đã tụt hạng từ 98 trong năm 2005 xuống 104 năm 2006 trong số 175 quốc gia.

Biểu đồ 1. Chỉ số môi trường kinh doanh của Việt Nam 2005 – 2008 theo đánh giá của WB/IFC

image

Nguồn: WB, IFC, Doing Bussiness 2009

Môi trường kinh doanh năm 2008 theo WB/IFC được phản ánh qua 10 tiêu chí sau đây:

– Thành lập doanh nghiệp: Trong năm 2007/2008 chi phí thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam giảm xuống còn 16,8% mức thu nhập trên đầu người so với mức 20% của năm trước. Chỉ số Thời gian thành lập doanh nghiệp của Việt Nam vẫn giữ nguyên 50 ngày nh ư năm 2007.

Continue reading

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC ĐÁNH THUẾ TRONG THỰC TIỄN

TS. NGUYN HNG THNG

Dẫn nhập

Tùy theo trình độ phát triển kinh tế, chính trị và xã hội mà hệ thống thuế ở mỗi quốc gia được cấu thành bởi các sắc thuế có phạm vi điều chỉnh và mục tiêu riêng. Nhưng xét tổng quát chúng được xây dựng và thực thi dựa trên nền tảng một số nguyên tắc nhất định, mà không thể tùy tiện. Bài viết này tập trung phân tích những nguyên tắc thuế cơ bản được nhiều quốc gia thừa nhận và liên hệ chúng trong thực tiễn Việt Nam bằng những dẫn chứng quy định tại các văn bản pháp lý.

Từ đó bài viết nêu bật quan điểm nhìn nhận và đối xử với thuế một cách hợp lý trên cơ sở những nguyên tắc chung được thừa nhận phổ biến trên Thế giới. Bởi nói gì chăng nữa, thuế chính là sản phẩm của con người, là công cụ mà người dân thông qua cơ quan đại diện của mình (quốc hội) cho phép chính phủ sử dụng phối hợp với những công cụ chính sách vĩ mô khác nhằm đạt các mục tiêu tạo công ăn việc làm, bình ổn chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo vệ môi trường thiên nhiên, phân phối thu nhập và của cải xã hội thích hợp về mặt chính trị,….

Ngoài ra bài viết này muốn thảo luận một số vấn đề mang tính nguyên tắc khi xem xét, đánh giá tác động của từng sắc thuế nói riêng và hệ thống thuế nói chung bởi những tranh luận kể cả chỉ trích thuế sẽ không bao giờ chấm dứt. Vấn đề cốt lõi là tranh luận trên cơ sở nào để tránh cảm tính, phiến diện và mang tính xây dựng. Vì vậy cần nắm vững một số nguyên tắc thuế cơ bản để giữ tính định hướng trong quá trình tranh luận, hạn chế sa vào tiểu tiết, vô ích.

Do có nhiều nguyên tắc nên chúng tôi tạm thời chia chúng thành hai nhóm: nhóm nguyên tắc hành chính[1] và nhóm nguyên tắc mang tính kinh tế.

1. Nguyên tắc hành chính

Nguyên tắc quốc tịch

Nguyên tắc quốc tịch phát biểu rằng mỗi công dân phải có nghĩa vụ đóng thuế cho đất nước. Benjamin Franklin có một câu nói nổi tiếng: “In this world nothing is certain but death and taxes” (Trên cõi đời này không có gì chắc chắn ngoài cái chết và thuế). Câu nói này toát lên một sự thật hiển nhiên và đơn giản: đã là dân thì phải nộp thuế. Có thể nói theo kiểu Vua Gia Long, phàm là dân một nước thì phải nộp thuế cho nước đó[2] cho dù làm ăn sinh sống ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới. Nguyên tắc này làm cơ sở cho quy định đánh thuế lên khoản thu nhập phát sinh ngoài nước của doanh nghiệp Việt Nam và của công dân Việt Nam.

Nguyên tắc quốc tịch không chỉ nêu rõ nghĩa vụ công dân mà còn bảo vệ công dân của một nước khỏi nghĩa vụ thuế của quốc gia khác, tức là “dân xứ nào phải và chỉ nộp thuế cho xứ đó” mà thôi, nếu như họ không có thu nhập phát sinh ở một xứ nào khác. Điển hình của nguyên tắc này là quy định thuế suất 0% trong thuế giá trị gia tăng[3].

Ngoài mục tiêu khuyến khích xuất khẩu như mọi người đều biết, thuế suất 0% của VAT còn được sử dụng để thực thi nguyên tắc quốc tịch. Khi một hàng hóa đi ra khỏi một quốc gia để vào đất nước khác thì xứ đi sẽ đánh thuế 0% hàm ý loại bỏ toàn bộ VAT ra khỏi những bộ phận cấu thành giá trị hàng hóa. Đến khi mặt hàng này được nhập khẩu vào xứ đến nó không còn chứa đựng bất kỳ một đồng tiền thuế nào của xứ đi và nó sẵn sàng chịu VAT nơi đến[4]. Đây cũng chính là nguyên tắc nơi đến (destination principle) đang được thừa nhận rộng rãi.

Continue reading

XIN LỖI OAN SAI VÀ KHOẢNG TRỐNG CÒN LẠI

VĨNH HUY

Điều duy nhất mà ông Nguyễn Văn Thành, người cha mang oan án giết con suốt 15 năm khẩn thiết xin cơ quan tiến hành tố tụng là cho bắt cái loa phát vô xóm để bà con nghe được lời xin lỗi ông, “Để họ tin tui không có giết con. Để người ta hết kêu tui là thằng cha ác nhơn, sát đức. Chỉ vậy thôi, tui mãn nguyện rồi…”

Nhưng, yêu cầu ấy đã bị lạnh lùng từ chối chỉ vì “luật không quy định”. Thay vào đó là một buổi xin lỗi với cách tổ chức mà nếu lấy luật ra soi rọi, người ta cũng không thấy có quy định: diễn ra trong sân của UBND xã, có dân phòng đứng chốt ngay cổng để xét danh tánh người dự. Chỗ ngồi của ông phó chánh án đi xin lỗi ở phía trên, có vải bông phủ bàn, có hoa tươi, nước suối. Còn chỗ của ông Thành ở dưới, lẫn khuất giữa những người dân nghe nói đã được “tuyển chọn” vào dự.

“Bắt phong trần…”

Sau phần trích lược hồ sơ của thư ký, ông phó chánh án móc từ túi áo ra tờ giấy, đứng lên đọc lời nhân danh cơ quan tiến hành tố tụng xin lỗi người bị oan. Ông Thành cũng được đưa cho tờ giấy có đánh máy sẵn đọc lời cám ơn Nhà nước vì đã xin lỗi ông. Kế tiếp ông phó chánh án đề nghị bà con vỗ tay chúc mừng và cho phép kết thúc buổi xin lỗi ở đây vì trưa nắng quá. Vừa ra khỏi sân uỷ ban, vợ chồng ông Thành và những người thân không được cho vào dự, đã ôm nhau khóc nức nở.

Ở hai vụ án oan khác của ông Bùi Văn Mãnh (bị kết tội giết mẹ kế, cướp tài sản) và Nguyễn Minh Hùng (hai lần bị tuyên tử hình vì vận chuyển trái phép chất ma tuý), yêu cầu được xin lỗi oan trên một tờ báo lớn ở TP.HCM để nhiều người biết thay vì trên tờ báo chuyên ngành luật của trung ương cũng bị từ chối. Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc, người từng bào chữa miễn phí cho một người dân ở Tiền Giang đã buộc phải nổi giận khi yêu cầu bồi thường chính đáng của thân chủ ông bị cơ quan gây oan sai chối bỏ bằng những đòi hỏi giấy tờ rất vô lý: “Thật quá nhẫn tâm khi yêu cầu một người gần 10 năm ở tù oan phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh thu nhập ổn định như cán bộ công chức thì mới được bồi thường”.

Còn nhiều, rất nhiều những yêu cầu khác của người bị án oan đã bị cơ quan tố tụng làm sai thẳng thừng chối bỏ với lý do là “luật không quy định”. Pháp luật, cũng chính là những chuẩn mực xử sự của đạo lý được nâng lên thành những nguyên tắc chung cho xã hội. Không thể có một pháp luật nào thoát ly khỏi đạo lý, cũng như không thể có một đạo lý nào có thể bị gói kín bởi câu chữ pháp luật. Một khi pháp luật không tiệm cận được với đạo lý thì cũng có nghĩa nó cần được sửa đổi.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ THEO HỢP ĐỒNG: 1001 KIỂU BỒI THƯỜNG CHẬM GIAO NHÀ

VŨ LÊ

Trong khi khách hàng mua căn hộ với giá gốc chỉ thắc mắc và dễ dàng xí xóa chuyện bồi thường chậm giao nhà thì những người mua lại với giá cao, bị sang tay nhiều chủ lại tỏ rõ thái độ bất bình. Tình huống căng thẳng nhất là đôi bên lôi nhau ra tòa.

Từ nhiều năm nay, các dự án nhà ở thường mắc căn bệnh trầm kha là "trễ hạn bàn giao căn hộ" với vô vàn lý do. Cách phản ứng và hành xử của người trong cuộc cũng muôn hình vạn trạng. Có những đại gia đóng tròn vai chủ đầu tư sòng phẳng, cũng không ít doanh nghiệp hạn chế về tài chính phải xuống nước xin khách hàng xí xóa. Tình huống căng thẳng cũng từng xảy ra, trong trường hợp này khách hàng dọa kiện chủ đầu tư nếu việc bồi thường chậm giao nhà không làm đúng theo quy định của pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, quả bồ hòn mà khách hàng phải nếm còn đắng hơn khi dự án không thể thực hiện được hoặc chủ đầu tư can đảm thông báo tăng giá dù công trình có tiến độ rùa bò.

Nhận nhà trễ hạn so với cam kết trong hợp đồng, nhiều khách hàng mua căn hộ Hoàng Anh 2, quận 7, TP HCM phản ánh họ chưa nhận được tiền bồi thường dù chủ đầu tư có thỏa thuận điều này. Trao đổi vớiVnEpress.net Giám đốc Công ty Hoàng Anh (HAGL) Lê Hùng giải thích, do năm 2008 thị trường bất động sản rơi vào giai giai đoạn thoái trào, vật liệu xây dựng tăng giá, ngân hàng thắt chặt tín dụng nên chủ đầu tư gặp rất nhiều khó khăn. Dù vậy, HAGL vẫn nỗ lực hoàn thành dự án sớm nhất trong khả năng có thể. "Tôi đã ký nhiều biên bản cam kết với khách hàng dời thời hạn nộp phạt vào tháng 6/2009 để doanh nghiệp sắp xếp chi trả", ông Hùng khẳng định.

Còn khách mua căn hộ Thái An 2 tại quận 12, TP HCM, tuy bị giao nhà trễ so với cam kết trong hợp đồng nhưng vẫn giải quyết ôn hòa trên tinh thần chín bỏ làm mười. Chủ đầu tư (Công ty Đất Lành) giải thích, đây là điều bất khả kháng, nhiều dự án khác cũng mắc phải nên xin khách hàng “bỏ qua” chuyện nộp phạt. Sau chuyện này, một cư dân chung cư Thái An 2 chia sẻ với VnExpress.net: "Có nhà là mừng hú vía, tôi không dám mong gì hơn, vả lại mình mua với giá khá "mềm" nên ai nấy đều xề xòa cho qua chứ không đòi bồi thường".

Trong khi đó, khách hàng mua căn hộ chung cư Mỹ Thuận quận 8, TP HCM cũng bị giao nhà trễ 4-12 tháng nhưng chủ đầu tư chỉ bồi thường qua loa. Trường hợp khách kiên quyết đòi thì được trả, có người bị đề nghị trừ vào diện tích dôi ra so với hợp đồng hoặc cấn vào 5% tiền làm giấy tờ nhà (khoản tiền làm tin trước khi nhận giấy hồng) và cũng có cả những chủ hộ không được nhận đồng bồi thường nào.

Một hộ dân ngụ trong chung cư Mỹ Thuận tiết lộ, anh phải làm căng với Công ty M&C (chủ đầu tư) thậm chí dọa thuê luật sư kiện thì doanh nghiệp này mới ngồi lại đàm phán chuyện bồi thường. Theo đó, khách hàng này trưng ra giấy tờ thuê nhà trong 4 tháng chủ đầu tư chậm bàn giao, doanh nghiệp đã hoàn tiền thuê nhà cho khách hàng, tổng cộng 8 triệu đồng, vị chi 2 triệu đồng mỗi tháng. "Chuyện này tuy rất nhỏ và khoản tiền bồi thường cũng không lớn nhưng trách nhiệm của doanh nghiệp quá kém nên tôi làm cho ra lẽ", người này nói.

Continue reading

QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC: MỘT SỐ HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

Tác giả viết bài này trong giai đoạn thảo luận về dự thảo Luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Luật này đã được ban hành vào ngày 3 tháng 6 năm 2008. Civillawinfor đăng lại vì những thông tin mà tác giả đưa ra vẫn còn nguyên giá trị tham khảo

LƯU HOÀI ANH

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đặt ra nhiệm vụ ban hành Luật Quản lý tài sản nhà nước nhằm quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác[1]. Như vậy, Đảng ta đã đặt ra nhiệm vụ cho công tác lập pháp không chỉ là ban hành được Luật Quản lý tài sản nhà nước, mà quan trọng hơn là đạo luật này phải thực sự góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả nhà, đất và các tài sản khác. Việc thông qua một đạo luật đã khó nhưng việc bảo đảm để đạo luật này thực sự đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ trên còn khó gấp nhiều lần. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra trong quá trình xây dựng luật này là phải đánh giá đúng thực trạng quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện nay, đặc biệt là những hạn chế, bất cập, xác định đúng nguyên nhân để quy định các giải pháp khắc phục phù hợp.

Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội[2], trong thời gian qua, các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành được tương đối đầy đủ văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và nhờ đó, công tác quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã từng bước đi vào nề nếp, kỷ cương, công khai và có hiệu quả.  Nhà nước đã thực hiện kiểm kê nắm được tổng quan về số lượng, giá trị và cơ cấu phân bố sử dụng tài sản nhà nước trong khu vực hành chính sự nghiệp và tài sản nhà nước trong các doanh nghiệp. Nhà nước cũng đã đã thực hiện được phân cấp rõ hơn một bước nhiệm vụ quản lý nhà nước về tài sản nhà nước giữa Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp, giữa các cơ quan có chức năng quản lý chuyên ngành về tài sản nhà nước với các cơ quan, đơn vị được giao quản lý gắn với sử dụng tài sản nhà nước; đồng thời xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp trong quản lý, trách nhiệm của từng đơn vị trong sử dụng tài sản. Từ năm 2001 đến nay, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện rà soát, sắp xếp lại nhà, đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, làm cơ sở để từng bước nhân rộng ra thực hiện trên phạm vi cả nước…

Tuy nhiên, bên cạnh những nỗ lực và kết quả rất đáng khích lệ đã đạt được như đã nêu ở trên, lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước hiện nay cũng còn nhiều hạn chế, rất cần được phân tích, đánh giá phục vụ cho việc xem xét, thảo luận và biểu quyết thông qua dự án Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. 

1. Một số hạn chế

Nhìn chung, chúng tôi thấy những hạn chế cơ bản trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản nhà nước đã được Chính phủ báo cáo tương đối đầy đủ trước Quốc hội[3]. Vì vậy, chúng tôi chỉ trình bày thêm về những hạn chế đó.

   1.1. Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước quy định còn phân tán, chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hiệu lực pháp lý còn thấp.

Continue reading

CẦN CÓ GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ THÚC ĐẨY QUAN HỆ VAY VỐN TÍN DỤNG GÓP PHẦN NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ HIỆN NAY

NGUYỄN CAO KHÔI

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Diễn đàn doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2008, đến nay Việt Nam có khoảng 350.000 doanh nghiệp (DN) đã đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 1.415 nghìn tỷ đồng, tương đương với 86 tỷ USD. Trong những năm qua, số DN đăng ký mới tăng trung bình khoảng 25%/năm; vốn đăng ký tăng gần 49%/năm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 95% tổng số DN nêu trên, thu hút hơn 50% tổng số lao động. Thực tế, các DNNVV phát triển rất nhanh, đóng góp trên 40% cho GDP và tạo việc làm cho gần 3,4 triệu người lao động. Dự kiến đến năm 2010, số DNNVV sẽ phát triển lên 320.000 theo “Kế hoạch phát triển DNNVV 2000 – 2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ trong năm 2008 đã làm cho nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn. Nhiều DNNVV Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đó và có nguy cơ phải ngừng hoạt động (giải thể, phá sản, mua bán, sáp nhập, hợp nhất…). Hiện có khoảng 20% số DNNVV đang trong tình trạng rất khó khăn và có nguy cơ phá sản1 do thiếu vốn, không vay được vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh. Do vậy, cần phải xem xét, đánh giá thực trạng trên một cách khách quan, toàn diện để tìm ra những giải pháp thích hợp vì lợi ích chung của cả DN, ngân hàng và nền kinh tế.

1. Việc phá sản DN trong cơ chế thị trường là hợp quy luật

Năm 2008, nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, biến động, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã áp dụng nhiều biện pháp thích hợp, trong đó có biện pháp thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Cho nên, các DNNVV khó tiếp cận vốn vay ngân hàng hơn do ngân hàng hạn chế cho vay, áp dụng các điều kiện về vay vốn chặt chẽ (lãi suất cho vay cao, hạn chế cho vay đầu tư vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán …). Khó khăn kinh tế vĩ mô đã tác động, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các DNNVV. Do đó, nhiều DNNVV đã phải hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn cho ngân hàng.Những khó khăn năm 2008 là dịp để sàng lọc, phân loại DN làm ăn có hiệu quả với DN làm ăn kém hiệu quả. Trong bối cảnh đó, những DN được thành lập và hoạt động trên nền tảng những tiềm năng thực tế của mình sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển; ngược lại, những DN hoạt động không có chiến lược, thiếu định hướng phát triển vững chắc, kinh nghiệm quản lý yếu, làm ăn chụp giật sẽ bị phân hoá và có thể loại trừ ra khỏi môi trường kinh doanh. Sự phân loại này, sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được những DN tốt, có uy tín, làm ăn chân chính và coi trọng uy tín để hợp tác kinh doanh lâu dài, góp phần ổn định thị trường và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

Continue reading

%d bloggers like this: