Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CẦN CÓ GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ THÚC ĐẨY QUAN HỆ VAY VỐN TÍN DỤNG GÓP PHẦN NGĂN CHẶN SUY GIẢM KINH TẾ HIỆN NAY

NGUYỄN CAO KHÔI

Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Diễn đàn doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2008, đến nay Việt Nam có khoảng 350.000 doanh nghiệp (DN) đã đăng ký kinh doanh với tổng số vốn đăng ký 1.415 nghìn tỷ đồng, tương đương với 86 tỷ USD. Trong những năm qua, số DN đăng ký mới tăng trung bình khoảng 25%/năm; vốn đăng ký tăng gần 49%/năm. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm khoảng 95% tổng số DN nêu trên, thu hút hơn 50% tổng số lao động. Thực tế, các DNNVV phát triển rất nhanh, đóng góp trên 40% cho GDP và tạo việc làm cho gần 3,4 triệu người lao động. Dự kiến đến năm 2010, số DNNVV sẽ phát triển lên 320.000 theo “Kế hoạch phát triển DNNVV 2000 – 2010” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ trong năm 2008 đã làm cho nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng vô cùng khó khăn. Nhiều DNNVV Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính đó và có nguy cơ phải ngừng hoạt động (giải thể, phá sản, mua bán, sáp nhập, hợp nhất…). Hiện có khoảng 20% số DNNVV đang trong tình trạng rất khó khăn và có nguy cơ phá sản1 do thiếu vốn, không vay được vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh. Do vậy, cần phải xem xét, đánh giá thực trạng trên một cách khách quan, toàn diện để tìm ra những giải pháp thích hợp vì lợi ích chung của cả DN, ngân hàng và nền kinh tế.

1. Việc phá sản DN trong cơ chế thị trường là hợp quy luật

Năm 2008, nền kinh tế thế giới và trong nước có nhiều khó khăn, biến động, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã áp dụng nhiều biện pháp thích hợp, trong đó có biện pháp thắt chặt tiền tệ để kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Cho nên, các DNNVV khó tiếp cận vốn vay ngân hàng hơn do ngân hàng hạn chế cho vay, áp dụng các điều kiện về vay vốn chặt chẽ (lãi suất cho vay cao, hạn chế cho vay đầu tư vào lĩnh vực bất động sản và chứng khoán …). Khó khăn kinh tế vĩ mô đã tác động, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các DNNVV. Do đó, nhiều DNNVV đã phải hoạt động cầm chừng hoặc thua lỗ, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn cho ngân hàng.Những khó khăn năm 2008 là dịp để sàng lọc, phân loại DN làm ăn có hiệu quả với DN làm ăn kém hiệu quả. Trong bối cảnh đó, những DN được thành lập và hoạt động trên nền tảng những tiềm năng thực tế của mình sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển; ngược lại, những DN hoạt động không có chiến lược, thiếu định hướng phát triển vững chắc, kinh nghiệm quản lý yếu, làm ăn chụp giật sẽ bị phân hoá và có thể loại trừ ra khỏi môi trường kinh doanh. Sự phân loại này, sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được những DN tốt, có uy tín, làm ăn chân chính và coi trọng uy tín để hợp tác kinh doanh lâu dài, góp phần ổn định thị trường và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.

Trong nền kinh tế thị trường, phá sản DN là hiện tượng kinh tế – xã hội tồn tại khách quan. Về thực chất, doanh nghiệp là một thực thể xã hội, nên doanh nghiệp cũng có quá trình sinh ra, phát triển và diệt vong. Điều đó hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh tồn của các sự vật, hiện tượng. Mới đây, ông Cao Sỹ Kiêm – Chủ tịch Hiệp hội DNNVV đã đề xuất các giải pháp cứu DNNVV, trong đó có nêu: “để cứu những DN đang bên bờ vực phá sản, phải có bước phân loại đối tượng. Trước hết, phải tập trung cứu những DN chịu tác động lạm phát gây ra sự đình đốn của DN. Còn những DN đã chuẩn bị, hoặc đã phá sản rồi thì có thể “cứu” được và có khả năng phát triển thì nên làm. Còn không thì phải để cho quy luật “đào thải” xử lý”2. Tại cuộc họp báo ngày 24/10/2008, ông Hoàng Văn Dũng – Phó Chủ tịch thường trực Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) có chung quan điểm: “Trong thời kỳ kinh tế thị trường, không thể tránh khỏi việc các DN bị phá sản. Như nước Mỹ chẳng hạn, một năm có khoảng 1 triệu DNNVV ra đời nhưng cũng có khoảng 600.000 DN bị phá sản. Hay lấy ví dụ ở nước Anh, một năm có khoảng 100.000 DN ra đời thì cũng có đến 60.000 DN phá sản. Cho nên, ở Việt Nam việc các DN sinh ra rồi bị phá sản cũng là dễ hiểu và không có gì đáng lo lắng”3.

Do vậy, nếu có 20% số DNNVV bị phá sản, thì điều đó cũng phù hợp với quy luật của cơ chế thị trường và thực tiễn ở các nước trên thế giới.

2. Cung và cầu vốn giữa ngân hàng và DN vẫn chưa gặp nhau

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã khiến cho hàng chục ngân hàng Mỹ bị phá sản (Lehman Brothers, Washington Mutual ..) hoặc bị bán lại (Bear Stearns, Merrill Lynch …), buộc phải chuyển đổi mô hình kinh doanh sang tập đoàn ngân hàng đa chức năng (Goldman Sachs, Morgan Stanley …). Cuộc khủng hoảng tín dụng ở Mỹ bắt nguồn từ việc các ngân hàng cho vay dưới chuẩn. Đây là bài học cho các ngân hàng ở những nước khác trên thế giới, trong đó có các ngân hàng Việt Nam, khi xem xét, cho vay đối với khách hàng.

Ở Việt Nam, các DN có quyền lựa chọn một hoặc một số hình thức huy động vốn thích hợp để phát triển sản xuất kinh doanh, như: huy động vốn từ các thành viên công ty; vay vốn thương mại từ các tổ chức, cá nhân khác; phát hành cổ phiếu, trái phiếu; vay vốn ngân hàng… Tương ứng với một loại hình huy động vốn, DN phải đáp ứng các điều kiện nhất định theo quy định pháp luật. Đối với hình thức vay vốn ngân hàng, ngoài những quy định chung của pháp luật, DN còn phải tuân thủ các điều kiện do ngân hàng cho vay quy định trên cơ sở quy định của NHNN và các quy định khác có liên quan của pháp luật.

Trong cơ chế thị trường, ngân hàng có quyền tự chủ kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Cho nên, ngân hàng được chủ động tìm kiếm dự án khả thi, hiệu quả và khách hàng đủ điều kiện để cho vay vốn. Khi xem xét điều kiện vay vốn, ngân hàng thường chú trọng, quan tâm đến mục đích sử dụng vốn hợp pháp và tính hiệu quả, khả thi của dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ và khả năng tài chính đảm bảo trả nợ đúng hạn của khách hàng. Hiện nay, nền kinh tế trong nước và thế giới đang chịu sự ảnh hưởng, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ, nên hoạt động kinh doanh của hầu hết DNNVV Việt Nam đang gặp khó khăn, không đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn theo quy định của ngân hàng. Do vậy, thời gian qua, một số DNNVV nộp hồ sơ vay vốn đã bị ngân hàng từ chối vì: thông tin về tài chính của DN ít, trình độ quản lý điều hành của DN còn yếu, công nghệ lạc hậu, thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao, hệ thống sổ sách kế toán của DN thiếu minh bạch, đa số chưa được kiểm toán; thiếu tài sản thế chấp, cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ…

Sau nhiều lần NHNN hạ lãi suất cơ bản (hiện nay là 7%/năm), các ngân hàng cũng đã liên tục hạ lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam tương ứng để kích thích tăng trưởng tín dụng. Song, cho đến đầu tháng 2/2009, các ngân hàng vẫn chưa thể đẩy mạnh được tăng trưởng tín dụng vì các doanh nghiệp có vẻ như chưa sẵn sàng vay vốn. Cung – cầu vốn vay giữa ngân hàng với doanh nghiệp chưa gặp nhau có thể vì những lý do chính sau đây:

Thứ nhất: Thời gian qua, Chính phủ đã yêu cầu các đơn vị sử dụng vốn ngân sách Nhà nước cắt, giảm chi tiêu công và NHNN đã áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát. Kết quả, nhiều dự án, kế hoạch đầu tư lớn của Nhà nước và các tổng công ty lớn của Nhà nước đã dừng thực hiện. Cho nên, nguồn tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá của các DNNVV bị giảm đi rất nhiều do không nhận được đơn đặt hàng từ các dự án nói trên. Việc này, không chỉ có các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tìm “đầu ra” để cho vay mà các DNNVV cũng bị hạn chế sản xuất (thu hẹp sản xuất), giảm hoặc không còn nhu cầu vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất kinh doanh.

Thứ hai: Cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng trên toàn thế giới đã ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Mỹ, EU, Nhật Bản là các thị trường xuất khẩu chính của các DN Việt Nam. Do đó, khi các thị trường xuất khẩu chính bị tác động, chịu sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Mỹ, thì nhu cầu của họ về việc nhập khẩu các mặt hàng từ các DN Việt Nam cũng giảm. Vì vậy, các DN Việt Nam nhận được rất ít hợp đồng xuất khẩu từ các thị trường xuất khẩu nói trên.

Thứ ba: Sự phá sản của nhiều ngân hàng lớn trên thế giới, sự biến động phức tạp, khó dự đoán của giá cả các hàng hoá thiết yếu (sắt, thép, dầu thô, kim loại màu, phân bón …) và tỷ giá ngoại tệ đã tạo tâm lý cho các DN nghe ngóng, sản xuất cầm chừng để chờ đợi mức giá phù hợp hơn.Thứ tư: Đa số các hộ gia đình đang phải tiết kiệm chi tiêu vì tỷ lệ lạm phát tăng cao so với các năm trước. Thêm nữa, thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 mất điểm mạnh đã dẫn đến các nhà đầu tư chứng khoán chưa dám vay vốn để kinh doanh chứng khoán …

3. Quan hệ vay vốn giữa ngân hàng và DN là quan hệ thỏa thuận

Ngân hàng là một định chế trung gian, hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Hiện nay, bên cạnh các ngân hàng thương mại, Nhà nước đã thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động không vì mục đích lợi nhuận để phục vụ người nghèo và các đối tượng chính sách khác; phục vụ miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa… Ngân hàng thương mại (ngân hàng) được thành lập và hoạt động để cung ứng các dịch vụ ngân hàng trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Do đó, xét cho cùng, ngân hàng cũng chỉ là một loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng thường xuyên đi vay để cho vay. Vì vậy, khi quyết định cho vay vốn đối với DNNVV, ngân hàng phải cân nhắc, xém xét kỹ các điều kiện vay cụ thể trên cơ sở quy định của pháp luật và điều kiện thực tế của mình nhằm bảo đảm an toàn vốn và đạt được mục đích kinh doanh nói trên.

Khi DN gặp khó khăn, ngân hàng có thể giảm lãi suất cho vay để chia sẻ khó khăn với DN nhưng phải trong phạm vi khả năng, điều kiện cho phép của từng ngân hàng và không vi phạm quy định của NHNN. Việc NHNN hạ lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam (từ 14%/năm xuống 13%, 12% …7%/năm) từ tháng 10/2008 đến nay là cơ sở pháp lý để ngân hàng hạ lãi suất cho vay, mở rộng hoạt động tín dụng, tạo cơ hội cho DN vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, nhưng không đồng nghĩa với việc ngân hàng nới lỏng nghiệp vụ cho vay để phát sinh nợ xấu vì hiệu quả cho vay của ngân hàng phải luôn gắn liền với điều kiện an toàn vốn cho vay.

Thực tế, từ tháng 10/2008 đến nay, các ngân hàng đã liên tục hạ lãi suất cho vay. Việc lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam liên tục giảm không phải không gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong 10 tháng đầu năm 2008, ngân hàng phải huy động vốn với lãi suất cao (một phần nguồn vốn này đang được dùng làm nguồn vốn dự phòng để bảo đảm khả năng thanh khoản). Nay vì cạnh tranh giành khách hàng tốt, ngân hàng phải hạ lãi suất cho vay xuống, cho dù lãi suất cho vay giảm nhanh hơn lãi suất tiền gửi. Ngân hàng không thể ép khách hàng chấp nhận hạ lãi suất tiền gửi xuống thấp hơn được. Mặt khác, nhân dịp lãi suất cho vay hạ, một số DN đã đề nghị trả nợ vay trước hạn (khoản vay có lãi suất cao) để vay lại với lãi suất thấp hơn. Những khoản vay trong hạn (thường lãi suất ở mức 21%/năm) là từ những nguồn vốn ngân hàng đã phải huy động với lãi suất từ 17%/năm đến trên 18%/năm. Trong khi khách hàng vay trả nợ trước hạn, thì ngân hàng không được trả lại tiền gửi cho người gửi tiền để huy động nguồn vốn khác với lãi suất thấp hơn. Theo thông lệ trên thế giới, nếu khách hàng vay trả nợ trước hạn, thì khách hàng đó phải chịu phí trả nợ trước hạn khá cao do ngân hàng quy định. Ở Việt Nam, NHNN đang cấm ngân hàng thu các loại phí liên quan đến hoạt động tín dụng. Do vậy, ngân hàng không thể thu phí đối với khách hàng trong trường hợp khách hàng đó trả nợ trước hạn.

Trong thời gian tới, nếu NHNN tiếp tục giảm lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam, thì ngân hàng cũng sẽ hạ lãi suất huy động bằng đồng Việt Nam. Điều này gây tâm lý lo lắng cho một số ngân hàng vì hiện nay, chênh lệch giữa lãi suất tiền gửi đồng Việt Nam và đô la Mỹ không lớn nữa (còn khoảng 4%-6%/năm), trong khi đó, tỷ giá giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ đang có xu hướng tăng. Cho nên, nếu mức chênh lệch lãi suất tiền gửi giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ tiếp tục bị thu hẹp, cộng với sự biến động bất thường của giá đô la Mỹ trên thị trường, có thể khiến nhiều người gửi tiền chuyển từ đồng Việt Nam sang đô la Mỹ, gây áp lực tỷ giá và khó khăn cho ngân hàng trong việc quản lý cân đối vốn.

Chính vì vậy, ngoài việc NHNN điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với định hướng chung của Đảng và Chính phủ trong từng thời kỳ, quan hệ vay vốn giữa ngân hàng với DN trong cơ chế thị trường phải luôn được coi là quan hệ dân sự (quan hệ kinh doanh – thương mại) được xác lập bằng hợp đồng theo sự thỏa thuận và cung – cầu vốn giữa các bên trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Quan hệ này được ràng buộc bởi những điều kiện cụ thể đối với mỗi bên trong hợp đồng tín dụng/hợp đồng cho vay vốn. Vì thế, NHNN chỉ nên ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh mối quan hệ vay vốn giữa ngân hàng với doanh nghiệp phù hợp với định hướng chung nói trên, chứ không nên can thiệp bằng các mệnh lệnh, quyết định hành chính như đề xuất của một số hiệp hội/hội, doanh nghiệp gần đây (chẳng hạn như tại cuộc gặp mặt ngày 07/11/2008 giữa Thống đốc NHNN với 30 hiệp hội và hơn 100 DN dưới sự chủ trì của Uỷ ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh). Trả lời các cơ quan báo chí, Thống đốc NHNN cũng khẳng định “tiếp cận vốn ngân hàng dễ hay khó là tùy thuộc vào tín nhiệm của DN … NHNN không bắt các ngân hàng thương mại phải cho ai vay.”4

4. Cần có giải pháp đồng bộ để thúc đẩy quan hệ vay vốn tín dụng

Trước tình hình nền kinh tế đang giảm sức mua, cần có những giải pháp đồng bộ để ngân hàng và doanh nghiệp xác lập được những quan hệ tín dụng, thúc đẩy phát triển kinh doanh, góp phần ổn định và duy trì tăng trưởng kinh tế.

4.1 Về phía các cơ quan nhà nước

– Cần áp dụng các biện pháp vĩ mô để kích cầu chi tiêu, khuyến khích người dân mua sắm; kích thích đầu tư, bao gồm cả khu vực công và tư trong phạm vi có kiểm soát; đồng thời cải thiện môi trường kinh doanh để kích thích doanh nghiệp đầu tư, giải ngân vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những dự án đầu tư có hiệu quả cần được khuyến khích và tạo điều kiện để đầu tư bằng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, trái phiếu Chính phủ và nguồn vốn của các thành phần kinh tế khác

.- Biện pháp hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức và cá nhân vay vốn ngân hàng để sản xuất – kinh doanh theo Quyết định số 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ cần được triển khai thực hiện đồng bộ, kịp thời, đúng đối tượng và đúng mục đích. Mặt khác, NHNN cũng cần có biện pháp kiểm tra, giám sát các TCTD để biện pháp này được thực hiện có hiệu quả trên thực tế và bảo đảm tiền hỗ trợ lãi suất để sử dụng vào mục đích trên được chuyển đầy đủ, kịp thời cho các tổ chức tín dụng.

– Tăng cường sự hợp tác quốc tế (ký hiệp định thương mại/thuế quan song phương với các nước trên thế giới) để mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo điều kiện khuyến khích các doanh nghiệp trong nước xuất khẩu.

– Nghiên cứu, triển khai thành lập quỹ hỗ trợ DN, chủ yếu là DN NVV. Quỹ này đã được nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới thành lập để thực hiện chính sách hỗ trợ DN cải tiến sản xuất, tự động hoá xưởng sản xuất, trợ giúp các dự án tin học, nâng cao kỹ năng của cán bộ quản lý, người lao động… Điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia … Ở Việt Nam, trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp để lập quỹ hỗ trợ DNNVV, thì Chính phủ nên chỉ định Ngân hàng Phát triển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo lãnh cho các DNNVV đủ điều kiện để vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

– Cần có cơ chế bảo đảm cho nhiều quỹ bảo lãnh tín dụng ở các địa phương ra đời và đi vào hoạt động trên thực tế, tạo điều kiện thuận lợi để DN tiếp cận được vốn vay ngân hàng. Từ năm 2001 đến nay, cả nước mới có 11/63 địa phương lập quỹ bảo lãnh tín dụng, trong đó chỉ có 3 quỹ bảo lãnh tín dụng đi vào hoạt động, bao gồm: Quỹ bảo lãnh tín dụng Trà Vinh, Quỹ bảo lãnh tín dụng Yên Bái và Quỹ bảo lãnh tín dụng Đồng Tháp. Những địa phương còn lại hầu như chưa thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng hoặc có thành lập nhưng chưa đưa vào hoạt động. Do vậy, các DN thiếu đi một kênh huy động vốn quan trọng để vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

– Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất và giải phóng mặt bằng, nhằm giúp DN tiết kiệm chi phí và thời gian trong quá trình thành lập và hoạt động.

– Tổ chức rà soát để sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan gây cản trở cho việc thành lập và hoạt động kinh doanh của DN theo hướng đơn giản, gọn nhẹ nhưng hiệu lực.

– Sớm ban hành và thực thi cơ chế hoàn thuế, miễn/giảm thuế đúng đối tượng để tháo gỡ khó khăn, giúp DN dần ổn định, tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh.

– Thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI với tư cách là đầu mối) tổ chức các khoá đào tạo cho cán bộ, nhân viên của DN để nâng cao năng lực cạnh tranh, tư vấn và cung cấp kịp thời, đầy đủ, chính xác những thông tin/chính sách có liên quan cho DN.

– Xây dựng, hoàn thiện và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc thành lập và hoạt động của DN theo cơ chế thị trường trong bối cảnh hội nhập quốc tế (Luật về các tổ chức Hội, Luật Đăng ký bất động sản, Luật Đăng ký giao dịch bảo đảm …) để tạo cơ sở pháp lý thuận tiện cho DN nâng cao năng lực hoạt động và tiếp cận vốn vay ngân hàng.

4.2 Về phía ngân hàng

– Xây dựng hệ thống xếp hạng DN để rút ngắn thời gian thẩm định, xem xét, quyết định cho vay, không nên phân biệt DN lớn với DN nhỏ mà chỉ phân biệt DN đủ hay không đủ điều kiện vay vốn (tốt hay xấu).

– Cần điều chỉnh linh hoạt chính sách tín dụng phù hợp với quy định của NHNN và tình hình thực tế trên thị trường trong từng thời kỳ, trong đó nên có chính sách áp dụng lãi suất ưu đãi đối với những khách hàng truyền thống.

– Điều chỉnh điều kiện cho vay sát với điều kiện thực tế của các DN Việt Nam và những diễn biến trên thị trường, không nên quá nguyên tắc đặt lợi nhuận cao lên hàng đầu khi xem xét, quyết định cho vay, nhất là trong bối cảnh DN đang gặp khó khăn như hiện nay.

– Tiếp tục hạ dần lãi suất cho vay phù hợp với cơ chế điều hành lãi suất cơ bản của NHNN trong từng thời kỳ và những diễn biến trên thị trường để tạo điều kiện hơn nữa cho DN tiếp cận vốn vay phát triển sản xuất kinh doanh, tăng khả năng thanh toán của nền kinh tế.

– Cơ cấu lại nguồn vốn và tỷ lệ cho vay phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của DNNVV Việt Nam. Trong những tháng đầu năm 2008, các ngân hàng đã hạn chế cho vay đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, chứng khoán, tiêu dùng mà tập trung cho vay xuất khẩu và hỗ trợ nông nghiệp. Hiện nay, tình hình kinh tế đã có nhiều thay đổi. Do đó, ngân hàng nên xem xét, cho vay tiêu dùng, đầu tư bất động sản nếu khách hàng vay có phương án/dự án đầu tư khả thi, hiệu quả và có khả năng trả nợ đúng hạn.

4.3 Về bản thân doanh nghiệp

– Lập kế hoạch quản lý và sử dụng nguồn vốn hợp lý, có hiệu quả để tiết kiệm chi phí, giảm bớt lao động thừa, mở rộng tìm kiếm khách hàng, tái cơ cấu sản xuất và huy động các nguồn hỗ trợ khác.

– Tăng cường các biện pháp thị trường để đẩy mạnh doanh thu bán hàng trực tiếp, tăng tỷ lệ chiết khấu, thay đổi các nhà phân phối để quay vòng nhanh vốn lưu động.

– Chỉ nên coi vốn vay ngân hàng là nguồn vốn bổ sung để phát triển sản xuất kinh doanh chứ không nên coi là nguồn vốn chính của DN. Bản thân mỗi DN cũng phải tự tìm các biện pháp thích hợp để tăng vốn tự có và tăng năng lực tự chủ tài chính của mình. Hoạch định sản xuất kinh doanh của DN phải phù hợp với khả năng tài chính, kiểm soát, quản lý, huy động vốn của từng DN và tình hình thị trường tại từng thời kỳ.

– Cần công khai, minh bạch hệ thống sổ sách kế toán của mình và tuân thủ những quy định của pháp luật về kế toán. Trong tương lai không xa, báo cáo tài chính của các DNNVV cũng phải được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập (tương tự như các công ty lớn hoặc công ty đại chúng, niêm yết hiện nay).

– Cần tăng cường hơn nữa sự hợp tác liên doanh, liên kết giữa các DN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của DN trên thị trường. Trong hệ thống DNNVV Việt Nam, sự phân loại của các DN là rất sâu sắc, nên thế mạnh của DN này có thể là thế yếu của DN kia … Vì vậy, nếu các DN liên kết với nhau sẽ hỗ trợ, giúp đỡ được cho nhau trong quá trình kinh doanh (khai thác tối đa được thế mạnh và hạn chế được thế yếu của từng DN).

Tất nhiên, quá trình kích cầu tín dụng, kích cầu đầu tư và tiêu dùng nêu trên phải luôn được bảo đảm và phù hợp với các mục tiêu phát triển kinh tế những tháng cuối năm 2008 và năm 2009: tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động ngăn ngừa suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý và bền vững…

Chú thích:

1. Công Thắng: “20% số DNNVV trước nguy cơ phá sản: Đã có giải pháp để cứu?” Báo Lao động số 264/2008 thứ 6 ngày 14/11/2008.

2. Công Thắng: “20% số DNNVV trước nguy cơ phá sản: Đã có giải pháp để cứu?”, Báo Lao động số 264/2008 ngày 14/11/2008.

3. Trần Hương: “DNNVV hoạt động chưa hiệu quả: Do khả năng liên kết kém”, trang 12 Báo Đời sống và Pháp luật số 130 ngày 28/10/2008.

4. Vương Trần: “DN tiếp cận nguồn vốn: Tùy thuộc vào tín nhiệm của DN”, Báo Kinh doanh và Pháp luật số 137 ngày 13/11/2008.

SOURCE: TẠP CHÍ NGÂN HÀNG SỐ 5 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: