Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

LUẬT VỀ QUYỀN TÀI SẢN CỦA TRUNG QUỐC, NHÌN TỪ VIỆT NAM LUẬT TA TỐT HƠN, NHƯNG…

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Sau ba thập niên đổi mới, Trung Quốc vẫn chưa có một bộ luật dân sự của mình. Người ta nói rằng người cầm quyền Trung Quốc có cách riêng để hoàn thiện hệ thống quy tắc dân luật. Thay vì xây dựng ngay từ đầu một bộ luật đồ sộ, họ giải quyết các vấn đề đặc thù bằng các luật chuyên biệt, điển hình là luật về quyền tài sản mới được thông qua. Thế rồi, từ sự tổng kết việc thực hiện các luật ấy, Bộ luật Dân sự sẽ ra đời, ở thời điểm thích hợp, như một tất yếu.

Cũng như ở Việt Nam, người làm luật Trung Quốc xác định rằng tài sản cơ bản trong xã hội có tổ chức, là đất đai, được đặt dưới chế độ công hữu. Thế nhưng, so với Việt Nam – nơi cũng thiết lập chế độ công hữu về đất đai, Trung Quốc bước đi một cách khá chậm rãi trong lộ trình mở rộng các quyền của người sử dụng đất.

Nếu thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản tư, mang tính chất bất động sản và tự đặt mình vào vị trí của người chủ sở hữu tài sản đó, thì, một cách tự nhiên, người làm luật sẽ đứng trước tình huống: tài sản, được hình dung thành một khoảnh đất, một phần lãnh thổ, dứt khoát phải tiếp cận, gắn liền với những khoảnh đất khác, những phần khác của lãnh thổ, là các bất động sản thuộc sở hữu của người khác.

Những chủ sở hữu ở gần nhau tạo thành cộng đồng láng giềng con người. Các bất động sản nằm cạnh nhau tạo thành một cộng đồng láng giềng tài sản. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào giải quyết tốt mối quan hệ giữa người sử dụng đất lân cận, nhằm bảo đảm “cộng đồng láng giềng” thực sự là một tập thể được tổ chức tốt với các thành viên biết cư xử đúng mực, hoà thuận, văn minh trong quá trình khai thác, sử dụng “phần lãnh thổ” của mình.

Muốn có một cộng đồng như vậy, phải xây dựng một chế độ điền thổ có ba chế định căn bản, giải quyết ba vấn đề kỹ thuật lớn.

Continue reading

Advertisements

NHỮNG NGUYÊN TẮC NÂNG CAO VAI TRÒ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM TIỀN GỬI

PHƯƠNG THẢO

Hàng thập kỷ qua, sự ổn định của hệ thống tài chính luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định chính sách. Việc sụp đổ của hàng loạt các tổ chức tài chính tên tuổi trên thế giới, như Bear Stearn, Lehman Brothers, càng đặt ra những thách thức to lớn đối với vấn đề bảo đảm tăng trưởng bền vững của nền kinh tế toàn cầu. Tuy vậy, trước bối cảnh đầy rẫy những bất ổn trong tương lai, việc tăng cường quản lý rủi ro và đề ra các biện pháp khắc phục rủi ro trong hoạt động của hệ thống tài chính quốc tế hơn lúc nào hết cần phải được đẩy mạnh thường xuyên và phải được định kỳ đánh giá nhằm thích ứng với môi trường mới.

Chính vì vậy, vai trò của cơ quan bảo hiểm tiền gửi với vị trí là nhân tố cốt lõi của quá trình này và là tổ chức bảo hiểm trách nhiệm đối với người gửi tiền, mà cụ thể là với các tổ chức thành viên, là hết sức quan trọng. Một hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả phải làm rõ được trách nhiệm của cơ quan quản lý đối với các thành viên của mình, hạn chế các quyết định chủ quan, tạo dựng niềm tin cho công chúng, giới hạn chi phí giải quyết ngân hàng phá sản và cung cấp nguồn vốn hỗ trợ cho các ngân hàng giải quyết vấn đề này.

Muốn vậy, hệ thống đó phải nằm trong một kết cấu tài chính được tổ chức hoàn thiện và an toàn, bao gồm 3 thành phần cấu thành, một là một nền tảng giám sát và quy định pháp luật ngân hàng cẩn trọng, hai là một tổ chức đóng vai trò là người cho vay cuối cùng và ba là một cơ quản bảo hiểm tiền gửi độc lập. Đó là lý do tại sao cơ quan bảo hiểm tiền gửi không thể giải quyết một mình vấn đề khủng hoảng ngân hàng dây truyền hay khủng hoảng hệ thống mà cần phải có một sự kết hợp các biện pháp đồng bộ từ các cơ quan khác và chi phí xử lý thì phải được tính từ nguồn lực quốc gia.

Để có thể thực hiện tốt vai trò của mình, cơ quan bảo hiểm tiền gửi phải xây dựng được một hệ thống các nguyên tắc hoạt động cơ bản mà trước hết là phải có được các điều kiện tiền đề ngoài khả năng kiểm soát của cơ quan bảo hiểm tiền gửi. Những tiền đề này bao gồm:

 Có được một nền tảng đánh giá tình trạng của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng cập nhật;

 Năng lực điều hành của các cơ quan quản lý trong kết cấu tài chính nêu trên phải mạnh;

 Có được một nền tảng giám sát và quy định pháp luật ngân hàng cẩn trọng;

 Có được một hệ thống pháp luật đồng bộ cũng như một cơ chế hạch toán kế toán và công khai rõ ràng và minh bạch.

Continue reading

MỘT SỐ QUI TẮC GIẢI QUYẾT ĐƠN YÊU CẦU ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM

TRẦN QUANG MINH – Cục Đăng ký Quốc gia Giao dịch bảo đảm, Bộ Tư pháp

Một số quy tắc giải quyết đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm, đơn yêu cầu cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản

Trong hoạt động giải quyết đơn yêu cầu đăng ký, đơn yêu cầu cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký đã phát sinh nhu cầu thống nhất thủ tục giải quyết đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm, nhu cầu xây dựng những quy tắc giải quyết công việc hợp lý, phù hợp với tổ chức, tình hình công việc, góp phần nâng cao năng suất lao động của các viên chức đăng ký. Để đáp ứng nhu cầu này, bên cạnh những quy định trong các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tư pháp còn có những quy tắc do Cục Đăng ký ban hành, các viên chức đăng ký tự xây dựng trên cơ sở phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với thực tiễn đăng ký, cung cấp thông tin. Những quy tắc này tồn tại dưới dạng văn bản thành văn (trong các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Đăng ký, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ do mỗi Trung tâm tự biên soạn) hoặc tồn tại dưới dạng bất thành văn.

Trên cơ sở tham khảo các công văn hướng dẫn nghiệp vụ của Cục Đăng ký và kinh nghiệm thực tiễn về đăng ký giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm Đăng ký, tác giả xin giới thiệu có chọn lọc một số quy tắc thường xuyên được áp dụng trong hoạt động giải quyết đơn yêu cầu đăng ký, đơn yêu cầu cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại các Trung tâm. Các quy tắc này hiện nay có thể đang được áp dụng hoặc không còn áp dụng nhưng việc nắm vững chúng vẫn có tính cần thiết thời sự, như là những giải pháp có thể tham khảo mỗi khi viên chức đăng ký phải đưa ra biện pháp giải quyết cho những tình huống phát sinh trong công việc hàng ngày.

I. Những quy tắc áp dụng trong việc giải quyết đơn yêu cầu đăng ký

1. Giải quyết đơn yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký, đơn yêu cầu sửa chữa sai sót, đơn yêu cầu xóa đăng ký giao dịch bảo đảm, đơn yêu cầu đăng ký gia hạn giao dịch bảo đảm, đơn yêu cầu đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp giao dịch bảo đảm đã được đăng ký tại một Trung tâm khác(1)

Trong trường hợp Trung tâm Đăng ký nhận được đơn yêu cầu đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký, đơn yêu cầu sửa chữa sai sót, đơn yêu cầu xóa đăng ký giao dịch bảo đảm, đơn yêu cầu đăng ký gia hạn giao dịch bảo đảm, đơn yêu cầu đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm mà giao dịch bảo đảm đó đã được đăng ký lần đầu tại một Trung tâm khác, thì việc giải quyết đơn yêu cầu đăng ký được thực hiện như sau:

– Trung tâm Đăng ký giải quyết đơn theo đúng thủ tục áp dụng đối với loại đơn đó;

– Trường hợp cần kiểm tra, đối chiếu thông tin kê khai trong đơn với thông tin lưu giữ trong hồ sơ của giao dịch bảo đảm đã đăng ký, Trung tâm Đăng ký, nơi tiếp nhận đơn thông báo qua điện thoại hoặc thư điện tử cho Trung tâm Đăng ký, nơi lưu giữ hồ sơ. Trung tâm Đăng ký, nơi lưu giữ hồ sơ có trách nhiệm gửi các đơn trong hồ sơ đăng ký theo đúng yêu cầu của Trung tâm tiếp nhận đơn ngay sau khi nhận được thông báo. Thông tin của hồ sơ đăng ký được gửi qua fax hoặc thư điện tử dưới dạng file PDF (file hình thành trên cơ sở scan giấy tờ, tài liệu có trong hồ sơ). Trong trường hợp không gửi được hồ sơ theo đúng thời hạn, thì phải thông báo kịp thời cho Trung tâm Đăng ký, nơi có yêu cầu.

Continue reading

MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG UCRAINA

Luật “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Ucraina quy định rõ ràng quyền lợi và trách nhiệm của cả người bán hàng và người mua hàng trong hoạt động kinh doanh buôn bán. Luật này cũng chỉ rõ những cơ sở pháp lý và trình tự giải quyết trong trường hợp nảy sinh mâu thuẫn giữa hai bên. Xin tóm tắt những phần quy định chính trong điều luật này, để mọi người tham khảo.

Quyền hạn người tiêu dùng khi mua phải hàng kém chất lượng:

Điều 8, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về quyền hạn của người tiêu dùng trong trường hợp mua phải hàng hóa kém chất lượng, như sau:

Trường hợp phát hiện hàng kém chất lượng trong thời hạn bảo hành, người tiêu dùng có quyền yêu cầu người bán:

1. Giảm giá trị hàng hóa.

2. Sửa chữa hàng hóa miễn phí trong thời hạn nhất định.

3. Bồi thường chi phí cho việc sửa chữa hàng hóa.

Trường hợp hàng hóa hỏng hóc nghiêm trọng do lỗi của nhà sản xuất hay người bán hàng, hoặc hàng hóa không đúng chất lượng, chủng loại, người tiêu dùng có quyền yêu cầu người bán hàng hoặc nhà sản xuất:

1. Trả lại tiền mua hàng.

2. Đổi hàng khác cùng mẫu mã, chất lượng trong số hàng hóa đang có.

Quyền hạn người tiêu dùng khi mua hàng chất lượng:

Điều 9, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói về quyền hạn của người tiêu dùng trong trường hợp mua hàng chất lượng, như sau:

1. Người mua hàng có quyền yêu cầu đổi hàng chất lượng (trừ những mặt hàng trong danh sách quy định miễn đổi) sang loại hàng tương đương, nếu hàng hóa đã mua không đáp ứng được yêu cầu về hình thức, chủng loại, kích cỡ, màu sắc, hoặc vì những nguyên nhân khác, dẫn đến việc không thể sử dụng được hàng hóa theo đúng chức năng, tác dụng.

Người tiêu dùng có quyền đổi hàng chất lượng trong vòng 14 ngày, không kể ngày mua hàng. Hàng hóa có thể được đổi trong trường hợp chưa sử dụng, hoặc đã qua sử dụng nhưng còn mới, vẫn đảm bảo giá trị sử dụng, dấu, nhãn mác…

2. Trong trường hợp không có mặt hàng tương đương tại thời điểm đổi hàng, người tiêu dùng có quyền đổi sang loại hàng khác đang được bày bán, sau khi tính chênh lệch giá cả giữa hai mặt hàng; hoặc yêu cầu trả lại tiền; hoặc đợi đổi đúng loại hàng đã mua.

Continue reading

TRANH CHẤP DÂN SỰ: ĐÒI TIỀN NUÔI NGƯỜI YÊU ĂN HỌC

PHAN GIA HI

Ra trường, cô gái đòi chia tay nên chàng trai đã khởi kiện đòi lại tiền lo cho vợ chưa cưới ăn học… Như bao cặp trai gái khác, anh T. và chị H. (ngụ tỉnh Bình Dương) quen biết nhau rồi phát sinh tình cảm yêu thương. Tình yêu ngày càng mặn nồng, lại được gia đình hai bên ủng hộ, cả hai đã quyết định làm lễ đính hôn.

Đòi tiền, lễ vật đính hôn

Sau lễ đính hôn, phía chị H. đã đặt vấn đề với anh T. là “lo giùm phần vật chất” cho chị H. ăn học đại học tại TP.HCM, sau này chị tốt nghiệp ra trường thì sẽ tổ chức đám cưới. Anh T. kể, vì nghĩ chuyện lo cho vợ chưa cưới ăn học cũng là chuyện phải làm nên đã đồng ý. Do vậy, anh đã bỏ tiền mua máy tính, điện thoại di động cho chị H. và lo luôn chi phí một số khoản ăn học khác của chị H. sau này.

Thế rồi ngày qua ngày, hai bên xảy ra nhiều mâu thuẫn khiến cho quan hệ của họ bị sứt mẻ ít nhiều. Cuối cùng, chuyện không hay đã xảy ra, khi học xong, chị H. tuyên bố không còn tình cảm gì với anh T. nữa. Không lấy được vợ, buồn bực, giữa năm 2006, anh T. đã đến nhà chị H. đòi lại lễ vật cùng tiền lo cho chị ăn học. Chị H. cũng đồng ý trả lại cho anh T. các lễ vật đính hôn để chấm dứt quan hệ.

Chị H. cho biết đã trả lại cho anh T. một chiếc nhẫn cưới, một đôi bông tai, một sợi dây chuyền, một bộ vòng si-men (bảy chiếc), một điện thoại di động. Ngoài ra, chị cũng trả lại cho anh T. hai triệu đồng tiền mặt. Tuy nhiên, “trước áp lực của gia đình anh T.”, chị và mẹ chị “còn phải ký vào một bản tường trình do phía gia đình anh T. viết sẵn là đã nhận gần 34 triệu đồng lo ăn học của anh T. và sẽ thanh toán hết cho anh T. vào cuối năm 2006”.

Đã nhận là phải trả

Tới hẹn vẫn không thấy chị H. trả tiền nên anh T. đến đòi. Đòi mãi không được, anh gửi đơn nhờ TAND huyện Tân Uyên phân xử.

Trước tòa, chị H. nói đúng là lúc học đại học đã nhiều lần nhận tiền của anh T. nhưng không nhớ rõ bao nhiêu. Anh T. hoàn toàn tự nguyện đưa tiền cho chị, chị không ép buộc hay dọa dẫm, vòi vĩnh gì. Mặt khác, số tiền mà chị “bị ép ký” trong bản tường trình (gần 34 triệu đồng) là không đúng. Vì vậy, chị không đồng ý trả lại cho anh T. số tiền này.

Continue reading

SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI, CÓ TRÁCH NHIỆM CỦA CHỦ ĐẦU TƯ

VÕ MINH DUY

Báo chí mấy tuần qua thông tin về lao động phổ thông nước ngoài có mặt tại nhiều công trình ở Việt Nam. Nhiều bài viết có đặt câu hỏi đối với công tác quản lý lao động nước ngoài của các cơ quan chức năng. Tuy nhiên, lại có ít ý kiến đề cập đến trách nhiệm của các các chủ đầu tư dự án.

Lao động phổ thông nước ngoài ở Việt Nam ngoài những người giúp việc nhà người Philippines hay những thanh niên người châu Phi lao động tay chân nặng nhọc ở TPHCM mà báo chí đã nêu, còn một phần khác cũng qua báo chí phản ánh là lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc ở các dự án lớn do các doanh nghiệp lớn hay các ban quản lý dự án của nhà nước làm chủ đầu tư.

Nhiều dự án cơ sở hạ tầng lớn của Việt Nam hiện nay đều do các nhà thầu nước ngoài đảm nhận theo hình thức tổng thầu EPC (xây dựng, tuyển dụng, mua sắm thiết bị). Và một số nhà thầu nước ngoài thay vì chỉ đưa vào các chuyên gia, kỹ sư nước ngoài thì lại "nhập khẩu" cả lao động phổ thông (điều mà pháp luật Việt Nam không cho phép) như công nhân xây dựng, nhân viên nấu ăn, vệ sinh, bảo vệ…

Theo quy định của Luật Đấu thầu thì các chủ đầu tư, bên mời thầu hoàn toàn có quyền không cho phép đề xuất trong hồ sơ dự thầu của nhà thầu về lao động phổ thông. Nếu bên mời thầu, tức chủ đầu tư, làm việc có trách nhiệm và áp dụng đúng quy định thì không thể có “kẽ hở” cho lao động phổ thông nước ngoài tràn vào để cạnh tranh việc làm với lao động trong nước.

Trước khi tổ chức đấu thầu, chủ đầu tư phải lập hồ sơ mời thầu, trong đó nêu yêu cầu cụ thể về việc thực hiện gói thầu, bao gồm các yêu cầu về nhân sự. Quy định chỉ được đưa vào hồ sơ mời thầu về nhân sự đối với các vị trí chuyên gia, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý đạt tiêu chuẩn về trình độ năng lực, kinh nghiệm… chứ không cho phép sử dụng lao động phổ thông nước ngoài.

Trong hồ sơ dự thầu, nhà thầu phải liệt kê đầy đủ danh sách các chức danh kỹ sư, chuyên gia, cán bộ kỹ thuật trong nước và quốc tế để thực hiện dự án, đáp ứng và phù hợp với yêu cầu về nhân sự trong hồ sơ mời thầu là một yếu tố quan trọng để chủ đầu tư đánh giá hồ sơ dự thầu.

Continue reading

NGHIÊN CỨU CẢI CÁCH TUỔI NGHỈ HƯU NỮ GIỚI

NGỌC SƯƠNG

Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới có hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới tương đối đầy đủ và tiến bộ. Từ Hiến pháp đến các bộ luật đều trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đến vấn đề bình đẳng giới, tạo điều kiện cho cả phụ nữ và nam giới cùng phát triển tiến bộ và bình đẳng.

Trong thời gian gần đây, các nhà hoạch định chính sách đã đưa việc nghiên cứu tuổi nghỉ hưu vào xem xét trong quá trình xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Bình đẳng giới 2006 và Luật Công chức – Viên chức năm 2008. Mới đây nhất, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã giao cho Viện Khoa học Lao động và xã hội phối hợp với Ngân hàng thế giới tại Việt Nam nghiên cứu tuổi nghỉ hưu của phụ nữ Việt Nam, Bình đẳng giới và bền vững quỹ bảo hiểm xã hội.

Ngày 10/4/2009 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra hội thảo Cải cách tuổi nghỉ hưu cho phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển dưới sự chủ trì của Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Nguyễn Thị Kim Ngân. Tham dự có Bà Victoria Kwakwa – Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam và các sở, ban ngành tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hội thảo, đại diện các sở, ban ngành đã trình bày các tham luận xung quanh vấn đế cải cách tuổi nghỉ hưu cho phụ nữ và tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý kiến đối với 4 phương án mà Viện Khoa học Lao động và xã hội đề ra như sau:

Phương án 1: Tuổi nghỉ hưu: Đủ 60 tuổi cho cả nam và nữ; phụ nữ được quyền yêu cầu nghỉ hưu từ đủ 55 tuổi.

Phương án 2: Tuổi được quyền hưởng hưu trí: Đủ 60 cho cả nam và nữ; phụ nữ không được quyền nghỉ hưu sớm; lộ trình điều chỉnh từ 10-15 năm…

Phương án 3: Tương tự phương án 2. Có một điểm khác là: Không tăng tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ bị suy giảm khả năng lao động (nữ 45, nam 50).

Phương án 4: Tương tự phương án 2. Có một điểm khác là: Không tăng tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ mất sức và giảm tuổi nghỉ hưu của lao động nam mất sức xuống bằng nữ (nữ 45, nam 45).

Sau khi phân tích các điểm “thuận” và “không thuận” của 4 phương án trên, có 72,97% chọn phương án một. 5,94% chọn phương án hai. 0% chọn phương án ba. 0% chọn phương án bốn và 21,62% có ý kiến khác.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: