XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CÁC THỂ CHẾ KINH TẾ VÀ PHÁP LUẬT VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TS. TRƯƠNG CÔNG HÙNG – Giám đốc Dự án quốc gia Hỗ trợ thể chế cho Việt Nam của Quốc hội

Nhằm góp phần làm sâu sắc hơn các định hướng chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư của chúng ta trong bối cảnh quốc tế hiện nay, chúng tôi xin đưa ra một số đánh giá, phân tích về kinh nghiệm có tính chất tham khảo từ một số nền kinh tế của các nước, đã từng trải qua quá trình điều chỉnh, tái cơ cấu cũng như những hệ quả của nó.

1 – Từ kinh nghiệm của một số nền kinh tế đã qua khủng hoảng trong khu vực và trên thế giới…

Trong thời gian rất ngắn vừa qua, Chính phủ đã ban hành hàng loạt giải pháp về kinh tế, tài chính – tiền tệ, trong đó đặt trọng tâm, ưu tiên số một là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Trước mắt, các giải pháp kinh tế, tài chính – tiền tệ đã có sự phối hợp đồng bộ, giải quyết nhanh có trọng tâm các khó khăn về kinh tế, chấp nhận lựa chọn điều chỉnh giữa mục tiêu tăng trưởng cao với chống lạm phát. Tuy nhiên, việc sớm giải quyết các vấn đề bất ổn của nền kinh tế đang ngày càng gay gắt, nhanh chóng khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện triệt để 8 nhóm giải pháp mà Thủ tướng Chính phủ đề ra(1). Về lâu dài, Việt Nam cần củng cố và xây dựng khả năng vững chắc của nền kinh tế nhằm tạo sự tăng trưởng và phát triển bền vững hơn, phù hợp hơn với bối cảnh quốc tế mới- bối cảnh của thời kỳ sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng, toàn diện và ngày càng bị chi phối hơn bởi nền kinh tế thế giới.

Điều nổi bật chúng tôi muốn nêu ở đây là những điểm giống nhau về định hướng phát triển và cơ cấu kinh tế của những nước đã trải qua khủng hoảng cũng như những nước hiện đang gặp phải những khó khăn cùng những hạn chế của những giải pháp điều chỉnh trong quá trình tái cơ cấu kinh tế.

Nhìn lại thời điểm trước và ngay sau khi khủng hoảng bùng nổ, những nền kinh tế hùng mạnh này không đủ sức để chống đỡ nổi những cú sốc về mặt tài chính quốc tế, cụ thể là đầu cơ tiền tệ, yếu kém trong quản lý vốn, sự di chuyển ồ ạt của các luồng vốn ngắn hạn(2). Rõ ràng, bên trong của những nền kinh tế này đã có những yếu tố sai lệch tiềm tàng về cơ cấu và chỉ bùng phát khi khủng hoảng xảy ra.

Ở đây, chúng tôi chỉ giới hạn việc nghiên cứu về sự đánh giá cơ cấu kinh tế của những nước bị khủng hoảng, phân tích những nhân tố bắt buộc phải điều chỉnh cơ cấu kinh tế, hiệu quả và tác động của những giải pháp điều chỉnh và cách thức nhìn nhận mới về những vấn đề này như là sự lựa chọn phát triển của các quốc gia.

Continue reading

Advertisements

PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP VỚI VẤN ĐỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN HỮU DŨNG – Trợ lý Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội

Phát triển khu công nghiệp gắn liền với hình thành các vùng kinh tế trọng điểm, trung tâm đô thị lớn, thu hút lao động, tạo việc làm cho người lao động. Phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế, tồn tại để có chiến lược phát triển thị trường lao động chất lượng cao trong các khu công nghiệp trong thời gian tới là vấn đề cần quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Nhìn lại gần 20 năm phát triển các khu công nghiệp, về mặt lao động – việc làm có thể đánh giá những mặt được như sau:

Thứ nhất, phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất mở ra một không gian kinh tế rộng lớn, một kênh mới rất có tiềm năng để thu hút lao động,giải quyết việc làm. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến nay các doanh nghiệp trong khu công nghiệp thu hút khoảng hơn 100 nghìn lao động trực tiếp. Nếu tính độ lan tỏa của nó (hiệu ứng tràn) thì khả năng thu hút lao động còn lớn hơn nhiều.

Thứ hai, khu công nghiệp là nơi sử dụng lao động có chuyên môn kỹ thuật phù hợp với công nghệ mới áp dụng vào sản xuất đạt trình độ khu vực và quốc tế. Do đó, đóng góp rất lớn vào đào tạo nguồn nhân lực để hình thành đội ngũ lao động của nền công nghiệp hiện đại. Trong số lao động được tuyển vào doanh nghiệp thì lao động phổ thông về cơ bản được đào tạo kèm cặp tại doanh nghiệp theo yêu cầu của công nghệ và dây chuyền sản xuất để vào làm việc (mặc dù không được cấp chứng chỉ). Số còn lại trên 45% được đào tạo bổ sung kỹ năng mới cho phù hợp với công nghệ áp dụng trong sản xuất.

Đến nay, nhiều khu công nghiệp đã xây dựng các cơ sở dạy nghề (Trường nghề khu công nghiệp Dung Quất, Trung tâm dạy nghề Việt Nam – Xin-ga-po, Trường nghề Nghi Sơn, Trường Kỹ nghệ Thừa Thiên – Huế…). Đặc biệt đã hình thành mô hình liên kết đào tạo và sử dụng nhân lực giữa các khu công nghiệp và nhà trường (Đồng Nai)… Khu công nghiệp tự đào tạo nghề là hướng rất quan trọng để giải quyết tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật hiện nay.

Thứ ba, phát triển khu công nghiệp đồng nghĩa với hình thành và phát triển mạnh mẽ thị trường sức lao động, nhất là lao động có trình độ cao ở nước ta. Hiện nay, lao động làm công ăn lương có khoảng 25,6% (khoảng 11 triệu lao động) thì 80% tập trung ở các vùng kinh tế trọng điểm, các thành phố lớn, khu công nghiệp tập trung. Về cơ bản, khu công nghiệp sản xuất sảnphẩm dùng cho xuấtkhẩu. ở đó, doanh nghiệp được thử thách trong môi trường cạnh tranh sôi động không chỉ trong nước, mà còn trong môi trường cạnh tranh quốc tế rất gay gắt, tạo động lực để người lao động không ngừng phấn đấu, nâng cao tay nghề.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: BA NĂM MÒN MỎI CHỜ BỒI THƯỜNG OAN

HỒ KHẢI HÀ

Đến nay, yêu cầu của đương sự vẫn chưa được giải quyết vì chưa xác định được cơ quan làm oan cuối cùng. Đây là một oan án mà Pháp Luật TP.HCM từng phản ánh. Cuối năm 2001, bà Nguyễn Thị Ước, ngụ huyện Chơn Thành (Bình Phước) cho bà H. vay 3,5 triệu đồng cùng hai chỉ vàng và giao hẹn một năm sau bà H. phải trả hết nợ. Đến hẹn, bà H. cứ dây dưa nên bà Ước nảy sinh ý định giữ xe máy của bà H. nhằm buộc bà H. trả nợ.

Ngày 22-10-2002, bà Ước hỏi mượn xe của bà H. Nửa tiếng sau, bà điện thoại về báo cho bà H. biết ý định: “Tui đang giữ xe của bà, chừng nào bà trả tiền thì tui trả xe!”. Đồng thời, bà Ước cũng báo cho ấp, xã biết rõ cớ sự. Ngay hôm sau, trong buổi hòa giải do chính quyền địa phương tổ chức, hai bên thống nhất là bà Ước vẫn giữ xe chờ bà H. đem tiền trả.

Viện rút truy tố, tòa đình chỉ vụ án

Đã thỏa thuận như vậy nhưng bà H. lại đi tố cáo tới công an. Lập tức, Công an huyện Chơn Thành khởi tố bà Ước về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do lúc đó bà đang mang thai nên được tại ngoại điều tra. Một thời gian sau, TAND huyện Chơn Thành phạt bà 10 tháng tù. Thấy oan ức, bà Ước kháng cáo. Tháng 9-2004, TAND tỉnh Bình Phước đã tuyên hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để giải quyết lại từ đầu do cấp sơ thẩm điều tra không đầy đủ.

Nhận lại hồ sơ, phía công an và VKS huyện Chơn Thành vẫn giữ quan điểm là bà Ước có tội. VKS hoàn tất cáo trạng mới truy tố bà Ước về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (không phải tội lừa đảo như trước). Thế nhưng trước khi TAND huyện đưa vụ án ra xử, VKS huyện đã quyết định rút quyết định truy tố. Vì vậy, tháng 9-2005, TAND huyện đã đình chỉ vụ án, kết thúc hai năm chịu biết bao cay đắng, khổ sở của bà Ước.

Rối chuyện bồi thường oan

Tháng 11-2006, bà Ước làm đơn yêu cầu VKS huyện Chơn Thành bồi thường thiệt hại vật chất, tinh thần tổng cộng hơn 100 triệu đồng do đã làm oan bà. Ba ngày sau, VKS trả lời là vụ việc không thuộc thẩm quyền xử lý của viện và hướng dẫn bà Ước làm đơn yêu cầu TAND huyện giải quyết vì việc bồi thường oan là trách nhiệm của tòa. VKS lý giải: Trường hợp của bà Ước, cấp phúc thẩm đã hủy án để điều tra lại, sau đó vụ án đã được tòa đình chỉ, theo quy định tòa sơ thẩm phải chịu trách nhiệm do trước đó đã tuyên bà có tội.

Continue reading

CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TS. TRẦN VĂN GIAO

Cải cách tài chính công là nhiệm vụ quan trọng của đất nước có liên quan mật thiết với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, vấn đề đánh giá thực trạng công cuộc cải cách tài chính công ở Việt Nam hiện nay và xác định những vấn đề có tính nguyên tắc trong việc xây dựng phương hướng, chính sách và giải pháp trong thời gian tới là nhiệm vụ cấp thiết.

1 – Những kết quả đạt được

Việt Nam thực hiện cải cách tài chính công chưa được bao lâu, nhưng những kết quả đạt được trong cải cách là rất cơ bản.

Hệ thống thuế: Sau gần 8 năm thực hiện cải cách, chính sách thuế đã được đổi mới theo hướng thích ứng dần với cơ chế thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế. Thuế đã bảo đảm nguồn tài chính chủ yếu để thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Trong hệ thống chính sách thuế đã từng bước giảm dần sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu; thủ tục hành chính trong thu nộp thuế được đơn giản hóa, công tác quản lý thuế được đổi mới và dần được hiện đại hóa.

Chính sách thuế tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo hướng áp dụng thống nhất đối với các loại hình doanh nghiệp và bước đầu phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh.

Ngân sách nhà nước: Ngân sách này đã được cơ cấu lại theo hướng giảm các khoản chi bao cấp, tăng dần tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển, tập trung ưu tiên chi cho những nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội quan trọng và giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc. Công tác quản lý và phân cấp ngân sách đã có những đổi mới cơ bản, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm của các đơn vị, các địa phương và các ngành sử dụng ngân sách; giảm được nhiều khâu, thủ tục không cần thiết trong cấp phát ngân sách, tập trung vào công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tài chính. Bội chi ngân sách nhà nước được xử lý theo hướng tích cực và được kiềm chế trong giới hạn cho phép. Giải quyết thành công cơ cấu lại nợ nước ngoài, tỷ lệ nợ nước ngoài được khống chế ở mức an toàn theo thông lệ quốc tế, tạo điều kiện giữ vững an ninh tài chính quốc gia. Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính bước đầu đã thu được kết quả tích cực.

Continue reading

ĐỔI MỚI CHỨC NĂNG XÃ HỘI CỦA NHÀ NƯỚC

PGS.TS. NGÔ NGỌC THẮNG – Học viện Chính trị Khu vực I thuộc Học Viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Chức năng giai cấp của Nhà nước giữ vai trò định hướng, chi phối chức năng xã hội. Đến lượt nó, chức năng xã hội là điều kiện, là cơ sở xã hội để thực hiện chức năng giai cấp. Nhà nước ta mang bản chất giai cấp công nhân, đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chức năng xã hội với nội dung chủ yếu là tổ chức, quản lý và xây dựng xã hội mới phục vụ lợi ích cho toàn xã hội trên lập trường của giai cấp công nhân.

Vấn đề Nhà nước ta thực hiện các chức năng nói chung và chức năng xã hội nói riêng, đặc biệt trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang là vấn đề cần được làm rõ, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước trên lộ trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ta biết, chức năng giai cấp và chức năng xã hội của nhà nước nói chung là khách quan, đều bắt nguồn từ bản chất và thể hiện bản chất chung của nhà nước, trong đó chức năng giai cấp giữ vai trò định hướng, chi phối chức năng xã hội. Và đến lượt nó, chức năng xã hội là điều kiện, là cơ sở xã hội để thực hiện chức năng giai cấp. Ph. Ăng-ghen viết: "ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị chính trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội đó của nó"[1].

Các nhà nước tiền xã hội chủ nghĩa đều dựa trên chế độ tư hữu và đều là công cụ duy trì sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị đối với đa số nhân dân lao động. Việc thực hiện chức năng xã hội của chúng vì thế còn rất nhiều hạn chế và tùy thuộc vào kết quả đấu tranh của các tầng lớp nhân dân. Trái lại, nhà nước xã hội chủ nghĩa mang bản chất của giai cấp công nhân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, có mục tiêu là giải phóng mình, toàn xã hội khỏi áp bức bóc lột giai cấp. Do đó, nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là công cụ thống trị của số ít người, mà trở thành công cụ để thực hiện chức năng xã hội với nội dung chủ yếu là tổ chức, quản lý và xây dựng xã hội mới, phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội trên lập trường của giai cấp công nhân.

Continue reading

CÔNG BẰNG XÃ HỘI

VŨ QUỐC TUẤN

Thế nào là công bằng xã hội? Làm thế nào và làm gì để thực hiện được công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển? Đó là những vấn đề cần được trao đổi để có nhận thức chung trong quan niệm và giải pháp thực hiện.

Chênh lệch giàu nghèo

Chênh lệch giàu nghèo là biểu hiện rõ nhất của bất công xã hội, nếu khoảng cách chênh lệch này ngày càng giãn ra trong khi kinh tế đất nước vẫn có tốc độ tăng trưởng khá, song mức độ cải thiện thu nhập của lớp người nghèo không được bao nhiêu, thì đây là một vấn đề rất đáng được báo động.

Xin dẫn ra đây một số con số. Theo Báo cáo phát triển con người 2007-2008 của UNDP, ở nước ta, 10% dân số nghèo nhất chỉ chiếm 4,2% thu nhập và chi tiêu quốc gia; 10% giàu nhất chiếm 28,8% thu nhập và chi tiêu quốc gia; 20% dân số nghèo nhất chiếm 9% thu nhập và chi tiêu quốc gia, còn 20% dân số giàu nhất chiếm 44,3% thu nhập và chi tiêu quốc gia. Chênh lệch giữa 10% dân số giàu nhất với 10% dân số nghèo nhất là 6,9 lần.

Còn theo chỉ số Gini (chỉ số chênh lêch giàu nghèo) ở Việt Nam là 34,4 lần. Theo số liệu thống kê của nước ta, nếu như năm 1993, thu nhập của 20% số hộ có thu nhập cao nhất gấp 4,43 lần số hộ có thu nhập thấp nhất, thì năm 1996, con số này đã là 7,3 lần và năm 2005 đã là khoảng 9 lần. Như vậy khoảng cách giàu nghèo có xu hướng ngày càng rộng ra.

Đó là chênh lệch giàu nghèo nói chung. Ở Việt Nam, vấn đề còn quan trọng và gay gắt hơn nhiều chính là chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa nông thôn và thành thị.

Theo số liệu thống kê năm 2004, thu nhập bình quân đầu người một tháng (theo giá thực tế) của dân thành thị là 815.400 đồng, còn của dân nông thôn là 378.100 đồng; riêng vùng Tây Bắc là thấp nhất, chỉ có 265.700 đồng. Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng (theo giá thực tế) của thành thị là 594.500 đồng, còn của nông thôn là 283.500 đồng. Cũng có nghĩa là về thu nhập cũng như chi tiêu, thành thị đều gấp hơn hai lần so với nông thôn.

Continue reading

%d bloggers like this: