LUẬT PHÁP VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO

DƯƠNG NGỌC DŨNG

Tiến trình hình thành các định chế dân chủ, nếu nhìn theo viễn cảnh toàn cầu, luôn luôn được đi kèm theo một sự phê phán nghiêm khắc thực tiễn chính trị. Đó chính là trường hợp Tây Âu trong thế kỷ 18. Cũng giống như trường hợp các quốc gia hiện nay đang cố gắng xây dựng một nhà nước có cấu trúc dân chủ.

Những biến đổi mau lẹ tại nước Mỹ sau năm 1985 đã khơi dậy sự quan tâm của quần chúng đối với vấn đề quan hệ giữa chính trị và đạo đức. Trước năm 1985 sự phê phán thiếu dân chủ thường hướng về Liên Xô (cũ) và các quốc gia Đông Âu, nhưng sau năm 1992 sự phê phán đó lại quay về chính bản thân định chế dân chủ tại Hoa Kỳ. Người lãnh đạo trong thế giới hiện nay thường là mục tiêu cho những sự phê phán dựa trên hai hệ thống tiêu chuẩn hoàn toàn trái ngược nhau: một mặt ông ta phải thỏa mãn một lý tưởng đạo đức thật hoàn mỹ và hầu như không thể đạt đến được đối với một con người bình thường, nhưng mặt khác quần chúng cũng đồng thời đòi hỏi ông có ý thức thực tế cao độ và làm việc có hiệu quả và năng suất cao nhất. Nếu muốn trở thành một thánh nhân hoàn toàn đạo đức, một nhà lãnh đạo rơi vào một trạng thái hoàn toàn bất định và thông thường trở thành những kẻ bảo thủ và hẹp hòi. ông có thể không dùng những người có năng lực nhưng kém phẩm chất đạo đức. Dĩ nhiên sự phán xét thiếu hay có đạo đức hay không hoàn toàn là thuộc phạm vi chủ quan của riêng nhà lãnh đạo và chưa chắc đã phù hợp với thực tế.

Nhưng điều này không dẫn đến hệ quả dùng phương tiện biện minh cho cứu cánh: một người lãnh đạo vừa có đạo đức vừa có năng lực không hề là một sự mâu thuẫn. Trường hợp cựu thủ tướng Lý Quang Diệu tại Singapore và Phó Thủ Tướng Chu Dung Cơ tại Trung Quốc là hai ví dụ điển hình trong thế giới hiện đại. Nhưng đạo đức của người lãnh đạo là đạo đức như thế nào, đạo đức theo mô hình Nho giáo (như Trung Quốc cổ đại), hay đạo đức theo mô hình Thiên Chúa giáo (như âu châu thời Trung Cổ), hay theo mô hình Phật giáo (Sri Lanka, Ấn Độ thời vua Asoka, Miến Điện thời U Nu), hay đạo đức theo mô hình chủ nghĩa Khai Sáng sau thời Cách Mạng Pháp? Nếu chấp nhận và chọn lựa một trong những mô hình trên đây, người lãnh đạo lập tức rơi vào sự chống đối của những nhóm ủng hộ các hệ thống đạo đức khác. Trường hợp phân ly Ấn Độ và Pakistan, những rối rắm, mâu thuẫn liên tục tiếp theo, là một bằng chứng hiển nhiên cho sự chọn lựa giữa Ấn giáo và Hồi giáo. Những rối loạn chính trị trong những thập niên gần đây tại Sri Lanka chính là do chính quyền chọn Phật giáo làm quốc giáo và bị nhóm dân tộc Tamils phản ứng quyết liệt. Người lãnh đạo, trong trường hợp này, phải chọn luật pháp làm cơ sở mọi quyết định nếu thực sự ông ta muốn tránh những xung đột trong nhận định thế nào là đạo đức và ổn định tiến trình dân chủ hóa các định chế chính trị.

Tiếp tục đọc

Advertisements

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: LÌNH XÌNH TRANH NHAU SỬ DỤNG CÁI… NÓC NHÀ

LÊ DOÃN TẦN

Tranh chấp xung quanh cái nóc nhà 17B Hàng Bài, Hà Nội sau hơn một năm vẫn gây tranh cãi, khi mà cùng lúc có nhiều hộ dân ở hai phường giáp nhau lại cùng tranh một cái nóc nhà.

Vụ lình xình được bắt đầu khi ngày 24/1/2008, ông Bùi Lê Cường và bà Cao Thị Dung, chủ sở hữu số nhà 17B Hàng Bài, Hà Nội được Sở Xây dựng Hà Nội cấp giấy phép số 17/GPXD để xây dựng công trình nhà tầng 1 tại 17B Hàng Bài với diện tích 39,78m2.

Khi hộ ông Cường, bà Dung thi công theo giấy phép xây dựng đã được cấp thì các hộ ở tầng 2-3, thuộc số nhà 23M Hai Bà Trưng (phường Tràng Tiền) khiếu nại cho rằng: Mái nhà tầng 1 thuộc số nhà 17A, 17B Hàng Bài là diện tích sử dụng chung do lịch sử để lại.

Việc Sở Xây dựng cấp phép như vậy cho gia đình ông Cường, bà Dung đã xâm hại đến lợi ích của các hộ ở tầng 2-3 số nhà 23M Hai Bà Trưng, khi mà bếp và nhà tắm trên nóc tầng 1 là phần sử dụng chung đã bị ông Cường phá dỡ.

Đến ngày 26/3/2008, Sở Xây dựng HN có Quyết định thu hồi giấy phép xây dựng số 17/GPXD ngày 24/1/2008 đã cấp cho ông Bùi Lê Cường và bà Cao Thị Dung với lý do: Chủ đầu tư xây dựng chưa đúng nội dung Giấy phép xây dựng đã cấp; Tự ý tháo dỡ công trình, vật kiến trúc trên mái tầng 1,…gây khiếu nại gay gắt của các hộ liền kề, lân cận có quyền lợi liên quan.

Sở Xây dựng HN cũng đã có văn bản yêu cầu ông Cường, bà Dung ngừng thi công công trình. Theo chủ đầu tư công trình 17B Hàng Bài thì yêu cầu trên đã được họ chấp hành, không tiếp tục xây dựng công trình.

Cái lý: “Tóc ai mọc trên đầu người đó”

Sau khoảng một năm, ngày 23/3/2009, UBND phường Hàng Bài có Quyết định số 26 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đối với công trình tồn tại trái phép sau khi đã bị thu hồi Giấy phép xây dựng tại số nhà 17B Hàng Bài do ông Cường và bà Dung là chủ đầu tư. Tuy nhiên, ông Cường, bà Dung đã không thực hiện Quyết định số 26 của UBND phường Hàng Bài kể trên.

Đến ngày 10/4, UBND phường Hàng Bài có Quyết định về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với công trình 17B Hàng Bài.

Theo Quyết định, công trìn

Tiếp tục đọc

KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU

TS. NGUYỄN VĂN TẠO – Trường BDCB Tài chính, Bộ Tài chính

I. Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính tòan cầu đến Việt Nam

1. Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta chậm lại. Kế hoạch đầu năm 2008, tăng trưởng GDP dự kiến từ 8,5 – 9%. Tháng 5 năm 2008 Quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng GDP xuống 7%, nhưng đến tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế là 6,52%, dự kiến năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ từ 6,5 đến 6,7%.

2. Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng

Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như:

– Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với ngân hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn;

Trong ngắn hạn, do tác động trực tiếp của khủng hoảng tài chính, lợi nhuận của nhiều ngân hàng có thể giảm, thậm chí một số ngân hàng nhỏ có thể thua lỗ; nợ xấu tăng lên; nên hệ thống ngân hàng tài chính Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng trong một vài năm;

– Khả năng giao dịch ngân hàng, tài chính quốc tế sẽ giảm, ảnh hưởng đến nợ vay ngắn hạn của Việt Nam tại các ngân hàng và doanh nghiệp.

3. Đối với hoạt động xuất khẩu

Hiện nay, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu. Khủng hoảng tài chính đã tác động đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ do cầu tiêu dùng tại thị trường Mỹ đang trên đà giảm mạnh. Việc suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Mỹ sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung của ViệtNam trong năm 2008 và cả năm 2009 (nếu nền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu phục hồi). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn tuỳ thuộc vào tính chất của từng mặt hàng.

Tiếp tục đọc

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

TS. TRẦN ANH TUẤN – Giảng viên Khoa Dân sự – Đại học Luật Hà Nội.

1. Về việc xác định những tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo thủ tục tố tụng dân sự

Hiện nay, Khoản 1 Điều 136 Luật Đất đai năm 2003 quy định: tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì thẩm quyền giải quyết được xác định theo hướng “Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết…”. Vấn đề đặt ra là: cần phải hiểu thuật ngữ “tranh chấp về quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền dân sự của Toà án trong Điều luật này như thế nào cho đúng.

Chúng ta đều nhận thấy rằng, từ khi có Luật Đất đai năm 1987, các quy định về thẩm quyền của Toà án đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất theo các Luật Đất đai năm 1987, 1993 và 2003 là có sự khác nhau. Theo quy định tại Điều 21, 22 Luật Đất đai năm 1987 thì các tranh chấp về quyền sử dụng đất đai do UBND nơi có đất đai bị tranh chấp giải quyết. Tuy nhiên, khi giải quyết tranh chấp về nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm thì Toà án nhân dân giải quyết cả quyền sử dụng đất có nhà ở, vật kiến trúc khác hoặc cây lâu năm đó (1).

Theo Luật Đất đai năm 1993 thì người sử dụng đất được trao 05 quyền là quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, để thừa kế quyền sử dụng đất. Khoản 3 Điều 38 Luật này quy định “Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết”. Trên thực tế, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan hữu quan cũng đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 ngày 28/7/1997 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp quyền sử dụng đất theo Khoản 3 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993. Tuy nhiên, văn bản này hoàn toàn không phân chia các loại tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chỉ đề cập rất chung chung là Toà án có thẩm quyền đối với tranh chấp về tài sản trên đất và quyền sử dụng đất.

Theo Thông tư liên tịch số 01/2002/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-TCĐC ngày 03/1/2002 hướng dẫn về thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất thay thế Thông tư số 02 nêu trên, thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, 1993 sau đây:

– Tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất và thế chấp hoặc bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất;

– Thừa kế quyền sử dụng đất;

– Tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất.

Tiếp tục đọc

MUA BÁN NHÂN THÂN

HẢI VIỆT

Món hàng ở đây là “lý lịch” của những người chưa hề quen biết. Tuỳ theo từng mức giá, khách hàng có thể đặt mua thông tin về một đối tượng mà họ đang cần tìm hiểu, từ số điện thoại, địa chỉ email cho đến các mối quan hệ xã hội, sở thích cá nhân…

Người bạn tôi ở một công ty “săn đầu người” cần biết thông tin về một chuyên gia máy tính mà công ty anh đang “đặt vào tầm ngắm”. Một đối tác đang cần “săn” người này để bổ sung vào bộ máy nhân sự đang thiếu hụt. Muốn được việc, cần phải nắm chắc những thông tin về “đối tượng”, nhất là các mối quan hệ xã hội, thói quen và sở thích cá nhân.

Sau cú điện thoại, một bản hợp đồng cung cấp thông tin đã được ký với công ty A. Theo đó, phía công ty A có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và chính xác những thông tin về “đối tượng” trong thời hạn ba ngày, kèm theo một khoản phí không nhỏ.

Đúng hẹn, người bạn tôi nhận được một văn bản từ công ty A, trong đó có đầy đủ các dữ liệu cần thiết: số điện thoại, địa chỉ email, địa chỉ nhà riêng, địa chỉ cơ quan, năng lực làm việc. Nhưng phần quan trọng nhất là trong đó có ghi rõ “đối tượng” thường đi lại, quan hệ thân thiết với ông X, bà Y; thích nghe nhạc cổ điển vào đêm khuya; có thói quen uống cà phê ở quán N vào 15h hàng ngày…

Nắm được những thông tin này, công ty cần người liền lên kế hoạch tiếp cận: dựa vào các mối quan hệ “dắt dây” với những người thân của “đối tượng”, đồng thời cử một nhân viên cũng có sở thích nghe và am hiểu về nhạc cổ điển đến tiếp xúc. Kết quả là sau hai tuần “kết bạn”, việc thuyết phục “đối tượng” chuyển nơi làm việc đã thành công.

Cách đây ít lâu, nhân viên của một mạng xã hội tiết lộ, ở công ty của anh hiện có hồ sơ thông tin về hàng trăm người làm việc trong một số lĩnh vực khá đặc thù và nhạy cảm. Những hồ sơ này cũng được đặt mua từ một đơn vị làm dịch vụ bán thông tin về nhân thân của những đối tượng “có số má”, nhất là các nhà khoa học, nhân sự cao cấp, thương gia, văn nghệ sĩ, nhà báo, v.v…

Hành nghề như… thám tử

“Núp bóng” một người bạn, tôi có dịp được tiếp xúc với một người làm “nghề” thu thập thông tin. Anh đang “theo dõi đối tượng” là nhân sự cao cấp của một công ty thương mại, hiện cũng đang có mặt cùng vài người bạn tại quán cà phê ấy. Vừa trò chuyện với chúng tôi, anh vừa quan sát kỹ lưỡng từng hành vi của “đối tượng”. Yêu cầu nghề nghiệp không cho phép anh ghi chép tại chỗ, nhưng bù lại, anh có trí nhớ và khả năng phân tích tình huống cực tốt.

Tiếp tục đọc

LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG MALAYSIA 1999

PHẦN I : QUY ĐỊNH CHUNG

1. Giới thiệu và chú thích

(1) Luật này có thể được viện dẫn như Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 1999.

(2) Bộ trưởng sẽ quy định ngày có hiệu lực của luật này qua thông báo của Công báo. Bộ trưởng có thể chỉ định ngày có hiệu lực khác cho một số điều khoản của Luật này

2. Đối tượng điều chỉnh

(1) Theo quy định của tiểu mục (2), Luật này được áp dụng đối với hàng hóa và dịch vụ được chào bán hoặc cung cấp cho một hoặc một số người tiêu dùng

(2) Luật này không áp dụng đối với:

(a) Chứng khoán được quy định trong Luật kinh doanh chứng khoán 1983 [Luật 280]

(b) Đối với hợp đồng trong tương lai quy định trong Luật kinh doanh hàng hóa mua bán giao sau 1993 [Luật 499]

(c) Đối với hợp đồng được ký kết trước khi Luật này có hiệu lực

(d) Liên quan đến đất hoặc các quyền lợi gắn với đất trừ trường hợp được quy định chi tiết trong Luật này

(e) Đối với dịch vụ được cung cấp bởi những nhà cung cấp thuộc các lĩnh vực được điều chỉnh bởi văn bản luật khác

(f) Đối với dịch vụ chăm sóc sức khỏe do nhà cung cấp sức khỏe chuyên nghiệp hoặc các cơ sở y tế cung cấp; và

(g) Đối với các giao dịch thương mại được tạo bởi các phương tiện điện tử trừ trường hợp do Bộ trưởng quy định

(3) Dù có quy định tại tiểu mục (1) và (2), Luật này vẫn có thể được áp dụng cho mọi vấn đề quy định tại Điều 103

(4) Việc áp dụng Luật này sẽ được bổ sung và không ảnh hưởng đến bất kỳ luật nào điều chỉnh quan hệ hợp đồng

3. Giải thích thuật ngữ

(1) Trong luật này, trừ khi có quy định khác, “có được” liên quan đến

(a) hàng hóa, bao gồm hàng hóa có được do mua, trao đổi hoặc thuê (động sản hoặc bất động sản), hoặc thuê mua

(b) dịch vụ, bao gồm chấp nhận dịch vụ bằng bất kỳ cách thức nào và “có được” cũng sẽ được hiểu như vậy

“Quảng cáo” bao gồm các hình thức quảng cáo, có hoặc không có lời nói hoặc viết hoặc các âm thanh, chữ viết khác và có hoặc không được chứa đựng hoặc phát hành trong các ấn phẩm và bao gồm sự quảng cáo-

(a) Bằng việc thể hiện thông báo;

(b) Bằng các phương tiện như ca-ta-lô, danh sách giải, giấy báo gửi khách hàng, nhãn, thẻ hoặc các văn bản hoặc chất liệu khác

(c) bằng triển lãm phim, tranh hoặc hình ảnh hoặc

(d) bằng các phương tiện rađiô, tivi, viễn thông hoặc các phương tiện tương tự

“Kinh doanh” là mọi cam kết được thực hiện để đạt được hoặc trao cho và do đó thu nhận hoặc cung cấp hàng hóa với một giá nhất định

“Người tiêu dùng” là người –

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: