XEM XÉT NGHIÊM TÚC CÁC VẤN ĐỀ VỀ THỦ TỤC TRONG CÁC QUI ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ CÁC QUI ĐỊNH CỦA WTO

WON –MOG CHOI VÀ HENRY S.GAO

Tóm lược

Từ khi tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thành lập, Trung Quốc đã nỗ lực không ngừng để thiết lập hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại thông qua những thay đổi về cơ cấu tổ chức và luật pháp. Bằng những thay đổi này, Trung Quốc có thể làm sáng tỏ ý nghĩa các điều khoản chống bán phá giá của WTO bao gồm cả điều khoản định nghĩa về ngành sản xuất nội địa. Hơn nữa, nhìn chung các biện pháp mang tính thủ tục đã được tăng cường trong hệ thống các biện pháp chống bán phá giá của Trung Quốc.

Trong khi cho dù đã có những cải thiện tổng thể hệ thống biện pháp khắc phục thương mại của Trung Quốc thì vấn thiếu khái niệm về một số thuật ngữ luật quan trọng bao gồm khái niệm “các nhà sản xuất có liên quan”, “tiêu chuẩn nhập khẩu không đáng kể” và các yếu tố điều chỉnh để có sự so sánh công bằng giữa giá thông thường và giá xuất khẩu và một số vấn đề về luật liên quan đến các cam kết về giá và hệ thống các biện pháp đối kháng vẫn đang tiếp tục được giải quyết. Trung Quốc sẽ tiếp tục nhiệm vụ làm minh bạch và cải thiện các quy định thương mại của mình.

I. Giới thiệu

Trong nỗ lực gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và do áp lực từ phía các đối tác thương mại, Trung Quốc đang từng bước cải cách và hiện đại hoá hệ thống các luật lệ thương mại của mình. Do Trung Quốc thúc đấy quá trình tự do hoá thị trường sau khi WTO được thành lập nên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan trong thương mại đã được nới lỏng. Vì vậy Trung Quốc cần bảo hộ các ngành sản xuất nội địa không thể cạnh tranh được với các nhà xuất khẩu nước ngoài và đưa ra các biện pháp để khắc phục thiệt hại mà các doanh nghiệp trong nước phải gánh chịu do thương mại bất bình đẳng. Do đó Trung Quốc đã rất nỗ lực để thiết lập nên hệ thống các biện pháp khắc phục thương mại trong các quy định thương mại vừa mới được ban hành của mình.

Nguồn luật chính điều chỉnh các mối quan hệ trong ngoại thương của Trung Quốc là Luật Ngoại Thương của CHDC ND Trung Hoa. Luật này có 11 chương bao gồm các điều khoản chung, thương nhân ngoại thương, xuất nhập khẩu hàng hoá và công nghệ, thương mại quốc tế trong dịch vụ, bảo hộ các lĩnh vực khác liên quan đến thương mại như quyền sở hữu trí tuệ, trật tự trong ngoại thương, các cuộc điều tra ngoại thương, biện pháp ngoại thương, xúc tiến ngoại thương, trách nhiệm pháp lý và các điều khoản thi hành. Các quy định về chống bán phá giá thuộc chương về các biện pháp khắc phục ngoại thương.

Tiếp tục đọc

Advertisements

TẬP ĐOÀN VÀ CHUYỆN MINH BẠCH THÔNG TIN

NGUYÊN THÀNH

LTS: Thời điểm này là mùa cao điểm đại hội cổ đông thường niên của các công ty cổ phần. Mục Sổ tay quản trị kỳ này đề cập đến hai khía cạnh cần lưu ý trong công tác quản lý điều hành doanh nghiệp (Tập đoàn và chuyện minh bạch thông tin, Vai trò của ban kiểm soát trong công ty cổ phần) mà nhà đầu tư nên tìm hiểu.

Mấy năm qua, kinh tế Việt Nam luôn tăng trưởng ở mức cao đã mở ra nhiều cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề khác nhau. Các doanh nghiệp Việt Nam đã tận dụng cơ hội này để đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh: có thể theo chiều ngang (horizontal diversification), có thể theo chiều dọc (vertical diversification) và cũng có thể đa đạng hóa các ngành nghề không liên quan (unrelated diversification).

Từ đó hình thành nên các tập đoàn kinh doanh đa ngành (conglomerate). Dưới hình thức này, các doanh nghiệp Việt Nam thường có tên “công ty cổ phần tập đoàn ABC” và hoạt động với những giao dịch nội bộ phức tạp giữa công ty mẹ và các công ty con (thường công ty mẹ chiếm trên 50% cổ phần công ty con) như cho vay, bảo lãnh các khoản vay, mua bán hàng hóa, tài sản… lẫn nhau. Những quan hệ giao dịch nội bộ này cần phải được minh bạch cho các cổ đông và các nhà đầu tư và đây là yêu cầu hết sức bình thường trong quản trị doanh nghiệp hiện đại.

Một khi trở thành công ty cổ phần đại chúng thì mục đích cuối cùng của ban giám đốc công ty là tối đa hóa sự giàu có cho cổ đông. Mục đích này thường được thể hiện qua chỉ tiêu tăng trưởng lợi nhuận hàng năm.

Ban giám đốc công ty luôn bị áp lực tăng trưởng lợi nhuận hàng năm từ các cổ đông: lợi nhuận năm sau phải cao hơn năm trước, lợi nhuận của công ty phải cao hơn đối thủ cạnh tranh.

Các chính sách đãi ngộ cho ban giám đốc như thưởng, tăng lương hay kế hoạch thưởng cổ phiếu cho nhân viên chủ chốt (ESOP, executive share option plan) thường được xây dựng xoay quanh chỉ tiêu lợi nhuận này (thực chất đây là quan điểm cổ điển trong việc đánh giá hiệu quả điều hành của ban giám đốc).

Tiếp tục đọc

ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THƯƠNG HIỆU CỦA DOANH NGHIỆP BẤT ĐỘNG SẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

THS. CAO NGỌC THÀNH – KS. TRẦN THỊ MẪN

I. Lời nói đầu:

Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã và đang hội nhập ngày càng mạnh mẽ vào nền kinh tế thế giới. Việc thực hiện các cam kết WTO với các yêu cầu về mở cửa thị trường dịch vụ đã và đang tác động ngày một sâu sắc đến nền kinh tế. Khu vực dịch vụ của thành phố một mặt có động lực tăng trưởng nhanh hơn, một mặt đặt ra hàng loạt các thách thức cạnh tranh từ sự gia nhập của các công ty nước ngoài, đặc biệt là đối với thị trường bất động sản. Hàng loạt công ty bất động sản cũng như kinh doanh dịch vụ bất động sản lớn của thế giới đã thâm nhập một cách mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam. Trong bối cảnh đó, thương hiệu trở thành một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với sự tồn tại và phát triển của các công ty bất động sản Việt Nam. Một số doanh nghiệp bất động sản của Việt Nam đã tương đối thành công trong việc xây dựng và khẳng định thương hiệu của mình như công ty Hoàng Quân, công ty Nam Long, công ty Vạn Thịnh Hưng…. Tuy vậy, phần lớn các công ty bất động sản của Việt Nam trên địa bàn TP.HCM vẫn còn khá nhỏ và chưa khẳng định được thương hiệu của mình. Do đó, bài viết được thực hiện nhằm nêu lên quy trình xây dựng và phát triển thương hiệu tại các doanh nghiệp bất động sản để từ đó có thể đề xuất các chính sách về phía Nhà nước nhằm hỗ trợ cho quá trình xây dựng và phát triển thương hiệu. Tuy nhiên, để hiểu rõ vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp bất động sản thì nội dung trước hết sẽ được đề cập.

II. Thương hiệu và vai trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp bất động sản.

Thương hiệu là tất cả sự cảm nhận của người tiêu dùng hay khách hàng mục tiêu về sản phẩm hay doanh nghiệp. Đối với khách hàng, thương hiệu đại diện cho một sự cuốn hút, tổng thể giá trị hay những thuộc tính giúp cho người tiêu dùng nhận thức và phân biệt đối với sản phẩm khác. Như vậy, một thương hiệu sẽ lớn hơn một sản phẩm rất nhiều. Sản phẩm chỉ có thể trở thành thương hiệu khi nó là biểu tượng của các yếu tố hữu hình, vô hình và tâm lý của sản phẩm và doanh nghiệp. Nói cách khác, thương hiệu chỉ tồn tại khi và chỉ khi được người tiêu dùng xác nhận.

Các yếu tố tạo nên thương hiệu:

Thương hiệu bao gồm:

+ Nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu sản phẩm).

+ Tên thương mại của các tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động sản xuất (thương hiệu doanh nghiệp).

+ Các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa.

Tiếp tục đọc

NHỮNG MÂU THUẪN NGÀY CÀNG NGHIÊM TRỌNG GIỮA LUẬT PHÁP MỸ VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA WTO

LEWIS E. LEIBWITZ – Đối tác của hãng luật Hogan & Hartson ở Washington D.C đồng thời là Luật sư của Liên minh hành động thương mại công nghiệp tiêu dùng.

Tóm tắt

Luật pháp của Mỹ về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng nói chung, thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nói riêng cũng như điều khoản 201 về biện pháp tự vệ thường vẫn luôn được coi là những hỗ trợ chính trị trong nước cho nền kinh tế trong quá trình tự do hoá thương mại. Do đó, có quan điểm cho rằng những biện pháp nói trên đã thực sự củng cố thêm các cam kết của Mỹ đối với Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Tuy nhiên, luận điểm đó đã bỏ qua một điều gây tranh cãi rằng luật thương mại Mỹ đang gây xung đột rất lớn với các đối tác thương mại nước ngoài. Mỹ là nước đang phải đối mặt với nhiều cáo buộc nhất về việc không tuân thủ các quy tắc đa phương liên quan đến vấn đề chống bán phá giá, thuế đối kháng và tự vệ. Trên cơ sở hàng loạt đơn kiện luật pháp và thông lệ mà Mỹ đang áp dụng, Uỷ ban giải quyết các tranh chấp của WTO đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng trong đó khẳng định Chính phủ Mỹ đã vi phạm các nghĩa vụ quốc tế của mình.

Sau khi xem xét lại các tranh chấp trên và các quy định có liên quan của WTO, có thể thấy rõ ràng rằng Luật pháp về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng của Mỹ đã trở thành một vấn đề mấu chốt trong căng thẳng của hệ thống thương mại quốc tế. Hệ thống luật này của Mỹ hiện nay cũng như những hành động hỗ trợ cho việc tự do hoá thương mại của nước này không những không phù hợp mà còn đi ngược lại các nguyên tắc của WTO. Những nhà lập pháp Mỹ hiện đang phải đối mặt với một sự lựa chọn rất khó khăn giữa việc duy trì tình trạng luật pháp như hiện nay hay thực thi đầy đủ cam kết với WTO.

Lời mở đầu:

Luật pháp về các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng của Mỹ nói chung, luật thuế chống bán phá giá và thuế đối kháng nói riêng cũng như Điều khoản 201 về biện pháp tự vệ thường được áp dụng như một “van an toàn” chính trị nhằm giảm thiểu áp lực của việc bảo hộ. Ngay cả những nhà thương mại tự do hiểu rất rõ rằng bản thân những biện pháp này có tính chất bảo hộ nhưng vẫn ủng hộ vì dù sao những biện pháp này cũng giúp ngăn chặn việc xa rời hơn nữa thị trường tự do. Như Richard và Robert Litan lí giải như sau:

Thực tế, việc không đạt được các lợi ích trong nước đã dẫn đến nhu cầu áp dụng các biện pháp đảm bảo cạnh tranh thương mại bình đẳng để bù đắp lại những hành vi không công bằng trong thương mại của các nước khác; cũng giống như một van an toàn về pháp lí để tránh những lời chỉ trích mạnh mẽ nhất về bảo hộ và tìm đến những hình thức bảo hộ minh bạch hơn. Do vậy, nỗ lực để thực thi thương mại công bằng có thể được xem là phù hợp cho tới khi các biện pháp này thành công trong việc ngăn ngừa nhiều hơn những hành động bảo hộ phi lí.

Tiếp tục đọc

NGĂN CHẶN LỪA ĐẢO, GIAN LẬN TÀI CHÍNH TRONG BỐI CẢNH KHỦNG HOẢNG KINH TẾ TOÀN CẦU

THIẾU TƯỚNG. PHẠM MINH CHÍNH – Bộ Công an

Thời gian qua, nền kinh tế thế giới không chỉ chao đảo bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, mà còn bị chấn động bởi hàng loạt các vụ lừa đảo, gian lận tài chính với mức độ nghiêm trọng, quy mô lớn, mang tầm quốc tế. Hệ quả của các vụ lừa đảo, gian lận này đã gióng lên hồi chuông cảnh báo đối với an ninh kinh tế, tài chính của các quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng tài chính vẫn còn hết sức phức tạp và suy thoái kinh tế toàn cầu tệ hại.

Một số vụ lừa đảo, gian lận tài chính điển hình trên thế giới

Đứng đầu “bảng xếp hạng” phải kể đến B.Ma-đốp (Bernard Madoff), số tiền lừa đảo của “nhà tỉ phú” này lên tới 50 tỉ USD, phá vỡ mọi kỷ lục của hình thức lừa đảo “Ponzi” (hình thức lấy tiền của người sau để trả cho người trước). Đây là vụ lừa đảo tài chính lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ với số nạn nhân lên đến 13.000 người, nhiều ngân hàng và một số chuyên gia tài chính hàng đầu thế giới cũng trở thành nạn nhân của cựu sáng lập viên sàn Nasdaq này.

Sự kiện Ma-đốp chưa đến hồi kết thì Cơ quan điều tra Mỹ đã tiếp tục bắt giữ tỉ phú A.Xtan-phót (Allen Stanford), Chủ tịch Công ty tài chính Stanford Financial Group, do gian lận đầu tư lên tới 8 tỉ USD thông qua việc làm khống các khoản lợi nhuận đầu tư để quảng bá và bán các chứng chỉ đầu tư.

Một vụ khác, cũng theo hình thức tương tự, là Công ty tín dụng Proyecciones (DRFE) của Cô-lôm-bi-a, lừa đảo tổng số tiền 670 triệu USD của hơn 2 triệu người gửi tiền.

Tại châu Á, trong hơn 6 năm liền, Ka-zut-su-gi Na-mi (Chủ tịch Công ty L&G KK, Nhật Bản) thực hiện phi vụ lừa đảo khoản tiền lên tới 2,5 tỉ USD của hơn 50.000 người.

Tại Pháp, lợi dụng sơ hở của hệ thống ngân hàng, J.Ke-vi-en (Jérôme Kerviel), một nhân viên Ngân hàng Société Général sử dụng những kỹ thuật rất tinh vi, làm cho ngân hàng này bị thiệt hại số tiền khổng lồ 7,15 tỉ USD.

Gian lận kế toán và giả mạo tài khoản để che giấu kết quả kinh doanh yếu kém là hình thức gian lận tài chính khá phổ biến trên thế giới hiện nay. Điển hình, việc lãnh đạo của Satyam (một trong những công ty công nghệ hàng đầu của Ấn Độ) làm giả sổ sách, chứng từ để kê khai gian lận tài sản lên tới hơn 1 tỉ USD, đã khiến cho không chỉ ấn Độ mà cả thế giới bất ngờ.

Tiếp tục đọc

KINH NGHIỆM CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở TÂY BAN NHA

ĐẶNG HOÀNG OANH – Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tây Ban Nha là một quốc gia Tây Âu khá thành công về tiến hành cải cách tư pháp trong thời gian gần đây. Bài viết dưới đây giới thiệu một số bài học rút ra từ kinh nghiệm cải cách tư pháp ở Tây Ban Nha, vốn được các nhà hoạch định chính sách tư pháp chấp nhận rộng rãi.

Bài viết gồm 3 phần: phần 1 mô tả hệ thống tư pháp như một ngành cung cấp dịch vụ công;  phần 2 phân tích  sự cần thiết phải tiến hành cải cách tư pháp dựa trên một kế hoạch đồng bộ, trong đó có tính đến toàn bộ ngành tư pháp, với tính chất là một hệ thống những cán bộ, nguồn lực và thủ tục tố tụng hoạt động theo nguyên tắc phối hợp; Phần cuối cùng (Phần 3) nhấn mạnh các kiến nghị về việc cần tiến hành các cuộc cải cách dựa trên sự đồng thuận cao nhất có thể giữa các khu vực tham gia và sự cần thiết của cơ chế phối hợp giữa các đảng chính trị – là những chủ thể thực hiện các cải cách đó, thông qua các thoả thuận trước giữa các đảng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Hy vọng bài viết sẽ cung cấp một số thông tin tham khảo cho Việt Nam trong quá trình cải cách pháp luật và tư pháp. 

A. Hệ thống tư pháp phải được coi là một ngành cung cấp dịch vụ công

Kết luận đầu tiên, dẫu còn có một số ý kiến phản đối, là cần phải coi hệ thống tư pháp là một ngành cung cấp dịch vụ công nếu thực sự muốn tiến hành cải cách.

Thông thường, sứ mệnh của các toà án ở Tây Ban Nha được nhìn nhận từ góc độ các trường hợp riêng lẻ. Từ góc độ đó, người ta cho rằng điểm mấu chốt trong hệ thống tư pháp là sự hiện diện của thấm phán vô tư và giỏi về luật để giải quyết các tranh chấp tại toà án một cách độc lập và không thiên vị theo pháp luật và với những bảo đảm cần thiết dành cho các bên đương sự. Tuy nhiên, ngày càng có thêm các đòi hỏi đối với hệ thống tư pháp trong các thập kỷ vừa qua cùng với nhu cầu về dịch vụ trong các lĩnh vực khác như giáo dục, y tế, giao thông vận tải cho thấy những khía cạnh khác cũng cần phải được tính đến trong việc thực thi công lý. Không chỉ cần ưu tiên vấn đề về quyết định đúng đắn trong từng vụ án tại toà án, mà còn phải đáp ứng thêm những yêu cầu quan trọng khác. Các toà án phải ra quyết định một cách không chậm trễ do khối lượng các vụ án đang chờ giải quyết và cản trở việc tiến hành tố tụng một cách nhanh chóng. Thủ tục tố tụng không được gây nhiều tốn kém cho công dân. Chất lượng và tính chặt chẽ, mạch lạc của các bản án, quyết định của toà án phải bảo đảm sự rõ ràng về mặt pháp lý.

Các yêu cầu này chỉ có thể được đáp ứng nếu ngành tư pháp (ở Tây Ban Nha có khoảng 3.900 thẩm phán và 40.000 nhân viên hành chính) được tổ chức một cách có hiệu quả và không chỉ có đủ năng lực ra các quyết định đúng đắn mà còn ra quyết định một cách nhanh chóng, ít tốn kém và có chất lượng cao.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: