CÔNG TY MỘT NGƯỜI, TẠI SAO KHÔNG?

Bài này góp ý cho Dự thảo Luật Doanh nghiệp năm 2005 (đã được ban hành). Civillawinfor đăng lại vì những đánh giá của tác giả về vai trò loại hình công ty TNHH 1 thành viên vẫn còn giá trị tham khảo.

LG. CAO BÁ KHOÁT

Khái niệm truyền thống coi công ty là sự canh ty của nhiều người, nên các quy định của luật công ty ở các nước thường quy định số thành viên tối thiểu phải có trong một công ty. Luật Công ty của Thái Lan quy định công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) phải có ít nhất 5 thành viên. Luật DN 1999 của Việt Nam quy định số thành viên tối thiểu đối với công ty TNHH là 2, công ty cổ phần phải là 3 thành viên. Nếu công ty TNHH một thành viên thì thành viên chủ sở hữu phải là pháp nhân. Không có sự giải thích tại sao công ty cổ phần phải có ít nhất 3 cổ đông?

Đã đến lúc chúng ta phải nghiên cứu bản chất của công ty để thoát khỏi sự đồng nghĩa giữa công ty với canh ty. Trước hết, cần nhận rõ rằng, bản chất của công ty TNHH là chủ công ty chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn điều lệ đã đăng ký. Thuật ngữ “TNHH” đã là một sự nhắc nhở với các đối tác khi làm ăn với loại hình DN này. Với đặc điểm như vậy, một công ty dù đơn sở hữu vẫn có thể được thành lập dưới dạng TNHH. Sau đó, còn những lý do sau:

Thứ nhất, công ty là một thực thể pháp lý do pháp luật tạo nên, là công cụ để phân định trách nhiệm tài sản, phân tán rủi ro và tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư. Nó không phụ thuộc vào số người, vì công ty có 1.000 chủ sở hữu cũng có địa vị pháp lý như công ty có 2 chủ sở hữu. Luật DN 1999 có quy định, Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tối thiểu 2 thành viên và tối đa là 50 thành viên. Thực ra, hai con số này không có ý nghĩa, chỉ do sự ước đoán. Tại sao lại hạn chế tối đa không quá 50 người? Có lẽ chỉ có thể giải thích được do quy định tại Điều 32 về nguyên tắc chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên cho người ngoài công ty phải được sự chấp thuận của tất cả các thành viên còn lại. Nếu 1 người muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty mà phải hỏi ý kiến của 49 người còn lại thì quá vất vả, nếu không hỏi thì bị coi là phạm luật và sự chuyển nhượng sẽ bị coi là vô hiệu nếu như có người khởi kiện do họ chưa được hỏi ý kiến. Thực tế cho thấy, quy định số người tối thiểu và tối đa trong Luật DN là không thiết thực.

Thứ hai, thực tế đã tồn tại các công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Ở Việt Nam có đến 70% số công ty TNHH là vốn của 1 người trong gia đình và một vài người khác chỉ đứng tên cho đủ số. Ở Thái Lan, quy định công ty TNHH có 5 thành viên thì 1 người bỏ vốn thuê thêm các luật sư đứng tên để đủ 5 thành viên.

Tiếp tục đọc

Advertisements

DOANH NGHIỆP VÀ THƯƠNG HIỆU

RICHARD MOORE ASSOCIATES

1. Thương hiệu là gì?

Tại Mỹ, thuật ngữ “thương hiệu” được dùng hiện nay có nguồn gốc từ dấu sắt nung in trên mình gia súc thả rông để đánh dấu quyền sở hữu của người chủ đối với đàn gia súc. Tại Việt Nam, thuật ngữ này mới xuất hiện trong khoảng thời kỳ đổi mới.

Hiện nay, từ “thương” trong “thương hiệu” được biết đến rộng rãi với ý nghĩa liên quan đến thương mại. Tuy nhiên, theo Giáo sư Tôn Thất Nguyễn Thiêm, nguồn gốc tiếng Hán của từ này có nghĩa là “san sẻ, bàn tính, đắn đo cùng nhau”, một nét nghĩa có lẽ phù hợp hơn với giá trị của thương hiệu đối với doanh nghiệp.
Giá trị hơn vẫn là cách thức mà một thương hiệu mạnh liên hệ về mặt cảm xúc với khách hàng thông qua các mối liên tưởng khác nhau.
Để giải thích về thương hiệu, hãy thử nghĩ tới bạn bè xung quanh và những mối quan hệ công việc mà bạn có. Nếu họ có chút gì đó giống với các mối quan hệ quen biết của tôi, thì bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi nhận ra rằng, tất cả họ đều khác nhau, mỗi người có những nét tính cách riêng, đó là chưa kể đến đặc điểm khác biệt về ngoại hình. Và cũng như tôi, có lẽ bạn cũng đã tạo dựng mối quan hệ với từng người trong số đó theo những cách thức khác nhau.
Thương hiệu cũng rất giống với những người quen mà bạn vừa nghĩ đến. Đằng sau mỗi logo là một thói quen hành xử mà bạn thấy có thể chấp nhận được hay thậm chí bạn rất ưa thích. Giống như các mối quan hệ, thương hiệu thường trở nên đáng ưa trong mắt bạn chỉ khi chúng phù hợp tương ứng với nhu cầu trong cuộc sống của bạn và giữ được điều đó nhất quán cùng với thời gian.
Tôi nhận thấy, việc nghĩ về thương hiệu như thể đó là một con người sẽ rất hiệu quả, bởi điều này giúp chúng ta hiểu rõ cách thức hoạt động của thương hiệu. Thậm chí, ngay cả sau khi đã trải qua hơn 30 năm giúp các doanh nghiệp phát triển thương hiệu, tôi vẫn nhận thấy có những điểm tương đồng mới giữa thương hiệu và con người. Giống như con người, thương hiệu được hỗ trợ bởi một tính cách được phối hợp tổng hòa, bởi đặc tính hoạt động tin cậy và hiển thị rõ nhất là nhờ có diện mạo đẹp. Hơn nữa, cũng giống như con người, lý do mạnh mẽ nhất khiến chúng ta xây dựng các mối quan hệ lâu dài với thương hiệu chính là yếu tố cảm xúc.
Câu nói “Hãy cho tôi biết bạn bè của bạn, tôi sẽ cho biết bạn là người như thế nào” đúng trong mối quan hệ của chúng ta với thương hiệu cũng như với bạn bè và các mối quen biết khác. Một người đàn ông có thể hút thuốc Marlboro, đi xe Mercedes Benz và dùng điện thoại iPhone không chỉ vì những đặc tính riêng của những sản phẩm đó, mà còn vì muốn thể hiện cho người khác thấy anh ta là người như thế nào.
Dĩ nhiên, thương hiệu không phải là con người. Đó là tập hợp những gì con người tạo ra, nhằm thực hiện một hành vi mang tính xã hội mà chúng ta gọi là “kinh doanh”. Và khi công việc kinh doanh phát triển và lớn rộng, bên cạnh những kỹ năng liên quan đến việc tạo ra sản phẩm và dịch vụ chất lượng tốt, doanh nghiệp còn phải tiến hành hoạt động nghiên cứu và phát triển, thiết lập công tác bán hàng và xây dựng hệ thống phân phối sao cho trôi chảy, kế đến là tiếp cận các đối tượng khách hàng mục tiêu với các chiến lược marketing và truyền thông sao cho hiệu quả.
Khi tất cả những hoạt động này được phối hợp nhuần nhuyễn, hỗ trợ lẫn nhau và việc kết hợp các hoạt động này mang lại kết quả là một đơn vị độc đáo khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh, lúc này chúng ta có được một thương hiệu mạnh.

2. Khác biệt hóa thương hiệu

Nếu bạn có khả năng đặc biệt và có thể vận dụng khả năng của mình một cách hữu ích, bạn đã tạo được lợi thế riêng trong cuộc sống. Đối với thương hiệu cũng vậy, do đó cần phải chăm chút để tạo sự khác biệt cho thương hiệu. Con người chúng ta khác biệt nhờ yếu tố di truyền, môi trường và bởi những sự lựa chọn mà chúng ta quyết định.

Đối với thương hiệu, hai yếu tố sau là những yếu tố mà chúng ta cần chú trọng, đó là môi trường kinh doanh cụ thể trong phân khúc thị trường mà doanh nghiệp cạnh tranh và sự lựa chọn của doanh nghiệp đối với việc sẽ tiếp thị sản phẩm của mình như thế nào trong phân khúc thị trường đó.

Tiếp tục đọc

VIẾT TIẾP CHUYỆN “MUA BÁN NHÂN THÂN” NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NGỜ TỚI

HẢI VIỆT

“Quyền bảo mật thông tin cá nhân đang bị xâm phạm!”, không ít người đã phải thốt lên như vậy khi bất ngờ bị một người xa lạ “bắt thóp” bằng những thông tin cá nhân của mình chính xác đến từng chi tiết.

Nhận diện người bán thông tin

Tình cờ, tôi được biết một người quen cũ đang điều hành một doanh nghiệp (DN) chuyên bán thông tin cá nhân của người khác. Trước đây, anh làm việc trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động điều tra, nhất là nắm trong tay hơn chục “đệ tử” có kỹ năng tiếp cận, thu thập thông tin của các đối tượng. Lực lượng nhân viên, và chính cả “ông chủ” thường xuất hiện ở những địa điểm, hay tập trung các đối tượng mà họ cần “điều tra”. Mỗi nhóm nhân viên phụ trách một loại đối tượng riêng. Công việc của họ là làm quen đối tượng, xin số điện thoại, hỏi thăm về công việc. Ngay cả những người quen, khi thấy cần thiết, họ tìm cách “moi” thêm thông tin. Họ tiếp cận khéo đến nỗi “đối tượng” không hề nghi ngờ. Không phải chờ có đặt hàng, họ mới “điều tra”, tìm hiểu, mà chủ động thu thập trước thông tin của càng nhiều đối tượng càng tốt, đưa về hệ thống hoá thành từng nhóm lưu trữ trong máy tính. Vì thế, nhiều khi họ có thể cung cấp ngay thông tin cho khách hàng khi có yêu cầu.

Doanh nghiệp của anh bạn này không hề có chức năng “điều tra” thông tin về nhân thân người khác. Sở Kế hoạch và đầu tư cũng không hề cấp giấy phép cho doanh nghiệp nào chuyên hoạt động với chức năng như vậy. Tuy nhiên, doanh nghiệp này, cũng như vài doanh nghiệp khác, vẫn hoạt động “chui”, “núp bóng” một số chức năng “gần gũi” có ghi trong giấy phép kinh doanh. Được biết, đã có một vài tổ chức hoạt động thám tử tư cũng “kiêm” luôn chức năng này.

Hàng triệu địa chỉ email, số điện thoại được rao bán

Nhân viên của một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ gọi cho tôi mời mua bảo hiểm, qua trao đổi, người đang đối thoại biết khá rõ về công việc (và có thể là cả mức thu nhập) của tôi. Khi tôi đang còn chưa hết bỡ ngỡ về điều này, bất ngờ tìm được trên một trang mạng rao vặt mẩu tin: “Có danh sách database (thông tin cá nhân) khoảng 7 triệu số điện thoại di động, bao gồm tất cả các mạng ở Việt Nam cần bán. Cá nhân đơn vị quan tâm vui lòng liên hệ qua email: xxx.khn@gmail.com”. Cũng bằng cách này, một người bạn của tôi, vốn thích cá cược bóng đá, thường nhận được những tin nhắn mời tham dự cá cược, còn vợ của anh, chỉ nhận được những tin nhắn về các chương trình khuyến mãi. Những tin nhắn đến rất đúng đối tượng!

Tiếp tục đọc

MÔ HÌNH CÔNG TY QUẢN LÝ NỢ VÀ TÀI SẢN

TAPCHIKETOAN – Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình cải cách DNNN thì nợ và tài sản tồn kho ứ đọng là một cản ngại rất lớn đến hiệu quả hoạt động SXKD, hiệu quả sử dụng vốn của DN nói riêng và của toàn xã hội nói chung.

Mặc dù Chính phủ đã đưa ra những biện pháp giải quyết nhưng tất cả chỉ mang tính tình thế cục bộ chưa cương quyết và còn tạo ra tâm lý ỷ lại của các DN vào Nhà nước … Vì vậy, nợ và tài sản ứ đọng tại các DNNN càng ngày càng là gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó bên cạnh việc cần phải hoàn thiện cơ chế xử lý nợ tại các các doanh nghiệp thì cần phải tạo một công cụ thích hợp để hỗ trợ cho các DN chủ động giải quyết những tồn tại về nợ và tài sản ứ đọng.
Giải pháp cho vấn đề này là việc thiết lập mô hình công ty quản lý nợ và tài sản để xử lý nợ và tài sản tồn đọng cho các doanh nghiệp là cần thiết.

Công ty quản lý nợ và tài sản

Công ty quản lý nợ và tài sản (QLN&TS) là một định chế đặc biệt và công cụ hữu ích để hỗ trợ phục hồi nền kinh tế do bị ảnh hưởng của nợ và tái thiết lại hệ thống ngân hàng. Các công ty QLN&TS ra đời, được giao những quyền hạn đặc biệt để hoàn thành sứ mệnh của nó trong một thời gian ngắn, cụ thể là: xử lý nợ khó đòi, tồn đọng bằng cách mua, quản lý, xử lý… nhằm tối đa hoá giá trị của những khoản nợ hoặc tài sản để bán và thu hồi vốn.
Công ty QLN&TS được thành lập và hoạt động theo những cơ chế riêng đôi khi các quyền hạn này không bị giới hạn bởi luật pháp hiện hành và có thể các qui chế của hoạt động của loại công ty này không tuân theo những điều khoản của một số luật đang tồn tại. Các nhân viên của công ty quản lý nợ và tài sản đôi khi được qui định miễn trừ truy tố và được pháp luật bảo vệ. Vì vậy để tránh lạm quyền hoạt động của công ty này phải được sự giám sát rất chặt chẽ của uỷ ban giám sát, hội đồng quản trị. Xuất phát từ mục đích hoạt động của công ty quản lý nợ và tài sản là mua lại các tài sản có vấn đề từ các trung gian tài chính và tối đa hoá giá trị những tài sản đã mua do đó công ty phải có nguồn vốn lớn và có kỹ năng chuyên môn giỏi.
Từ tình hình thực tế về nợ của các DNNN tại Việt Nam, từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới nên việc xây dựng mô hình công ty quản lý nợ và tài sản là cần thiết, như là một công cụ tài chính đắc lực thúc đẩy tiến trình cải cách nền kinh tế của Việt Nam nói chung và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội và DN nói riêng.

Vai trò

Công ty QLN&TS giúp Nhà nước giải quyết những tồn tại về mặt tài chính trong hệ thống DNNN trong quá trình sắp xếp lại các DNNN nhằm giảm đến mức thấp nhất các tổn thất về phía Nhà nước.
° Tạo thêm hàng hoá cho thị trường chứng khoán thúc đẩy sự hình thành và phát triển thị trường vốn ở Việt Nam.
° Công ty QLN&TS tạo ra một công cụ tài chính nhằm định hướng cho một số hoạt động tài chính mang tính chất chuyên nghiệp ra đời như các công ty mua bán nợ, công ty làm dịch vụ đòi nợ, công ty đầu tư tài chính… Như vậy, sẽ giải quyết được áp lực và tách bạch được các hoạt động mang tính chất quản lý của NN và hoạt động mang tính chất kinh doanh.

Tiếp tục đọc

TRANH CHẤP GIAO DỊCH DÂN SỰ: TÌNH HẾT, ĐÒI TÌNH NGƯỜI YÊU

PHAN GIA HI

Chứng cứ thua, anh Việt kiều tiếp tục kháng cáo. Bị phụ tình nên đòi lại tiền. Không vay mượn nên không trả. Theo đơn kiện của anh H. (Việt kiều Anh) thì khoảng đầu năm 2006, qua trao đổi trên Internet, anh quen với chị D. (ngụ tỉnh Bến Tre). Sau nhiều lần gặp nhau trên mạng và điện thoại, thấy có vẻ hợp nhau, chị D. đã hứa là sẽ kết hôn với anh.

Bị phụ tình nên đòi lại tiền

Tuy nhiên vào cuối năm 2006, anh H. về thăm quê hương thì mới vỡ lẽ ra rằng chị D. đã hứa kết hôn với một anh Việt kiều Mỹ. Chính anh H. cũng đã gặp anh này tại nhà mẹ chị D. Hỏi thêm thì H. anh biết là lễ hỏi của họ cũng đã được tổ chức khá lâu rồi và chị D. hiện đang được chồng làm thủ tục bảo lãnh sang Mỹ.

Đau đớn vì bị lừa dối, anh H. đã quyết định đòi lại các khoản tiền đã gửi cho chị D. trong thời gian quen biết trên mạng. Theo anhH., trước đó chị D. đã hỏi mượn anh trên 11 ngàn bảng Anh và anh đã chuyển về cho chị qua dịch vụ chuyển tiền W. Chị D. đã dùng tiền này để tiêu xài, xây dựng nhà cửa cho cha mẹ, ăn học… Cứ mỗi lần hỏi mượn tiền là chị D. nêu một lý do khác nhau nhưng vì những lời chị hứa hẹn sẽ kết hôn nên anh không chút nghi ngờ gì…

Cũng theo anh H., khi anh đến đòi tiền, chị D. và cha mẹ đã thừa nhận và chịu hoàn trả tất cả số tiền đã vay. Tuy nhiên, chị D. chỉ mới trả trước năm ngàn bảng Anh. Số tiền còn lại chị khất lại hẹn, sẽ trả sau. Nhưng thời gian trôi qua, anh đòi mãi nhưng phía chị D. không chịu thanh toán. Anh đã nhờ địa phương đứng ra hòa giải nhưng cũng không thành. Chuyện chẳng đừng, anh đành phải gửi đơn đến TAND tỉnh Bến Tre để nơi đây đứng ra phân xử, lấy lại hơn sáu ngàn bảng Anh cho anh.

Không vay mượn nên không trả

Tuy nhiên, phía chị D. thì lại không đồng tình với nhiều chi tiết mà anh H. đã nêu trong đơn khởi kiện. Chị cho rằng khi trao đổi trên mạng, biết chị là người cùng quê, anh H. đã chủ động làm quen và xin được tìm hiểu. Một thời gian sau thì anh H. nói là thích chị và có ý định muốn chị làm bạn gái. Từ lúc đó trở đi, anh H. đã đề nghị với mẹ chị là hãy để anh thay mẹ chị lo cho chị ăn học và mọi chi tiêu hàng ngày.

Từ đó hai bên đã thường trao đổi qua lại. Ban đầu thấy chị lên mạng ở ngoài dịch vụ công cộng phiền phức nên anh H. gửi tiền cho chị mua máy riêng để dễ bề gặp gỡ. Cũng có lần anh H. đề nghị chị lên Sài Gòn học làm tóc thì chị nói không có tiền thì làm sao đi được. Lúc này anh H. đã nói là mọi chuyện để anh ấy lo và gửi tiền về cho chị trang trải các chi phí ăn học.

Tiếp tục đọc

MỘT SỐ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP KINH TẾ THẾ GIỚI

TAPCHIKETOAN – Tham gia hội nhập kinh tế thế giới mở ra những cơ hội tăng trưởng kinh tế cho nước ta. Việc trở thành thành viên WTO sẽ tạo ra các công cụ để nâng cao lợi ích kinh tế của các nước thành viên thông qua việc tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại đa biên. Tuy nhiên không ít thách thức đối với tăng trưởng kinh tế khi VN hội nhập kinh tế thế giới. Những thách thức đó đe dọa sự phát triển cao và bền vững nền kinh tế.

Trong những năm qua VN có nỗ lực lớn trong tăng trưởng kinh tế, GDP thời kỳ 1991-2000 đã tăng bình quân hàng năm là 7,4%, thời kỳ 2001-2003 tăng 7,1%, năm 2002 – 7%, có tốc độ tăng trưởng cao đứng thứ 2 sau Trung Quốc. Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá, từ 1986 đến nay, tăng trưởng trung bình 5,5%. So với một số nước Indonesia 2,3%, Philippines 2,6%, Thái Lan 1,9%, Malaysia 3,2%. Từ 2001-2003, nông nghiệp VN tăng bình quân 5%. Công nghiệp tăng bình quân trong 10 năm qua 12,8-13%, 2001-2003 tăng 14,6%.

Tham gia hội nhập kinh tế thế giới mở ra những cơ hội tăng trưởng kinh tế cho nước ta. Việc trở thành thành viên WTO sẽ tạo ra các công cụ để nâng cao lợi ích kinh tế của các nước thành viên thông qua việc tham gia vào các cuộc đàm phán thương mại đa biên.

Tuy nhiên không ít thách thức đối với tăng trưởng kinh tế khi VN hội nhập kinh tế thế giới. Những thách thức đó đe dọa sự phát triển cao và bền vững nền kinh tế. Sau đây là một số thách thức :

Thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng giảm (Bài viết vào thời điểm năm 2006)

Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều cơ hội cho thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài đang diễn ra quyết liệt giữa nước ta với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, nhất là các nước khu vực Đông Nam Á có một số mặt lợi thế hơn ta. Thực vậy với số dân tương đồng với VN, tỉnh Quảng Đông thu hút đầu tư từ Nhật nhiều hơn gấp đôi, khoảng 20 tỷ yên. Năm 2001 VN thu hút số vốn đầu tư từ Nhật chỉ bằng 1/33 của Trung Quốc, 1/12 của Thái Lan, bằng 1/5 cuả Malaysia hoặc Indonesia. Trong những năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vào VN giảm, giai đoạn 1991-1995 vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, giai đoạn 1996-2000 chiếm 24%, hai năm 2001-2002 chỉ chiếm hơn 18,5% và có hiện tượng công ty đầu tư nước ngoài chuyển sang Trung Quốc. Theo dự báo làn sóng đầu tư của Mỹ vào khu vực Đông Nam Á sẽ tăng mạnh trong những năm sau 2004 do ổn định chính trị và cam kết cải cách rõ ràng. Song dòng vốn đầu tư của Mỹ không chảy đều vào các quốc gia ĐNA mà đích nhắm tới là những nước như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines. Khi hàng rào quan thuế của các nước ASEAN bị bãi bỏ, các công ty đa quốc gia sẽ tập trung sản xuất tại những nước có phí tổn thấp nhất trong khu vực AFTA. Thách thức của VN là làm sao “giữ chân” các cơ sở hiện có của các công ty đa quốc gia và tạo cơ hội để các công ty đa quốc gia đầu tư vào nước ta. Theo đại sứ Nhật tại nước ta, trên thế giới đang có một cuộc cạnh tranh rất khốc liệt và Việt Nam cần phải nhìn nhận rằng môi trường đầu tư của ta chưa hấp dẫn. 

Đã đến lúc chúng ta cần xây dựng môi trường đầu tư thực sự thông thoáng, phải tăng thu hút FDI về mặt chất lượng, ưu đãi đối với những lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao, những lĩnh vực sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành hỗ trợ và liên quan để đảm bảo sản xuất hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế.

VN trở thành thị trường tiêu thụ hàng nước ngoài

Nhiều công trình khoa học cho thấy việc mở cửa thương mại nhiều hơn đã dẫn đến tốc độ tăng trưởng dài hạn cao hơn, loại bỏ sự mất cân đối, nhờ đó mà nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Những nước mất cân đối thương mại cao có mức tăng năng suất thấp hơn so với những nước mất cân đối thương mại ít hơn.

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: