Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

NGHIÊN CỨU SO SÁNH NỘI DUNG CÔNG ƯỚC VỀ XÓA BỎ MỌI HÌNH THỨC PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI PHỤ NỮ (CEDAW) VỚI NỘI DUNG LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI

ĐẶNG TRUNG HÀ – Bộ Tư pháp

Bài viết nghiên cứu so sánh được thực hiện nhằm đánh giá tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật Việt Nam so với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập nói chung cũng như đối với Công ước CEDAW nói riêng. Trên cơ sở xem xét việc nội luật hoá các quy định của điều ước quốc tế có liên quan đến bình đẳng giới mà Việt Nam đã tham gia vào Luật Bình đẳng giới cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác, báo cáo nghiên cứu đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật.

1. Giới thiệu Công ước  CEDAW

Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ được Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18/12/1979 và có hiệu lực từ ngày 3/9/1982. Tính đến nay, Công ước này có 169 quốc gia tham gia. Công ước có 30 Điều chia thành 5 Phần: Các Phần I, II, III và IV quy định trách nhiệm của quốc gia tham gia Công ước đối với việc thực hiện các quyền của phụ nữ tại quốc gia mình.

Các nghĩa vụ mà các quốc gia thành viên Công ước phải thực hiện đối với quyền của phụ nữ gồm có: lên án sự phân biệt đối xử với phụ nữ dưới mọi hình thức và áp dụng mọi biện pháp thích hợp để loại trừ phân biệt đối xử với phụ nữ, kể cả biện pháp lập pháp trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá; bảo đảm sự phát triển và tiến bộ đầy đủ của phụ nữ để họ có thể hưởng thụ các quyền con người và tự do cơ bản trên cơ sở bình đẳng với nam giới; loại bỏ các hình thức buôn bán phụ nữ và bóc lột phụ nữ làm nghề mại dâm.

Về chính trị, các quốc gia thành viên Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong đời sống chính trị và công cộng của đất nước, bảo đảm thực hiện các quyền sau đối với phụ nữ: tham gia bỏ phiếu trong mọi cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân, ứng cử vào các cơ quan dân cử; xây dựng và thực hiện các chính sách của chính phủ, các chức vụ Nhà nước; các tổ chức và hiệp hội phi chính phủ liên quan đến đời sống công cộng và chính trị của đất nước; cơ hội đại diện cho chính phủ tại các diễn đàn quốc tế và các tổ chức quốc tế; và bình đẳng với nam giới trong vấn đề quốc tịch.

Trong lĩnh vực giáo dục, phụ nữ phải được hưởng quyền bình đẳng với nam giới về điều kiện nghề nghiệp, hướng nghiệp, học tập, bằng cấp, học bổng. Phụ nữ được hưởng cơ hội làm việc bình đẳng, tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền được thăng chức, tăng lương, an ninh việc làm và các phúc lợi, thù lao, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động. Các quốc gia thành viên Công ước phải ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lý do hôn nhân hay sinh đẻ, áp dụng chế độ nghỉ đẻ vẫn được hưởng lương và các phúc lợi xã hội tương đương mà không bị mất việc, thâm niên công tác.

Quốc gia tham gia Công ước này cũng phải có các biện pháp thích hợp bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ trước pháp luật, trao cho phụ nữ tư cách pháp nhân như nam giới và tạo điều kiện để thực hiện tư cách này. Đặc biệt phải bảo đảm để phụ nữ được bình đẳng khi ký kết các hợp đồng và quản lý tài sản, tư cách pháp lý bình đẳng liên quan đến tự do đi lại và lựa chọn nơi cư trú, trong hôn nhân và quan hệ gia đình.

Điều 18 quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên nộp trình báo cáo quốc gia thực hiện Công ước cho Uỷ ban theo dõi thực hiện Công ước xem xét, trong đó phải nộp báo cáo đầu tiên 1 năm sau khi gia nhập Công ước và các báo cáo định kỳ 4 năm một lần.

Continue reading

Advertisements

TRANH CHẤP QUYỀN ĐẠI DIỆN: VỢ TRƯỚC, VỢ SAU TRANH QUYỀN NHẬN BỒI THƯỜNG

HỒNG CHÂU

Vợ có hôn thú yêu cầu tòa trả lại những quyền lợi hợp pháp của mình. Dù chồng bà làm như thế là cạn tình nhưng giữa hai người vẫn chưa chấm dứt hôn nhân nên chưa cạn lý. Bà D. ở Cần Thơ vừa có đơn kháng cáo một vụ án hình sự, yêu cầu cấp phúc thẩm bác bỏ tư cách đại diện người bị hại của bà Q. vì cho rằng bà này không phải là vợ chính thức của người bị hại… Chuyện bà kháng cáo đã làm nảy sinh nhiều tình tiết pháp lý thú vị.

Từ vụ án hình sự

Chập tối cuối tháng 9-2008, có một chiếc xe tải đến lấy trái cây tại khu vực mà bà Q. thu tiền phí bến bãi. Thấy xe dừng lấy hàng như thế, một người đàn ông đã lúp xúp chạy đến nói với lái xe là lần sau không được đậu xe tại khu vực này nữa. Nghe người đàn ông này “đe” lái xe như vậy, bà Q. nghĩ sẽ ảnh hưởng đến chuyện thu tiền bến bãi của mình nên đã lên tiếng tranh cãi với người đàn ông. Tuy nhiên, đang đôi co qua lại thì bỗng dưng người đàn ông này ngưng rồi phán: “Không thèm cãi nhau với đàn bà!”. Câu nói này vô tình lại lọt đến tai chồng bà Q. nên ông này lập tức lên tiếng: “Tao là đàn ông nè!”. Vừa nói ông chồng vừa bước lại gần người đàn ông rồi định xông vào hành hung. May mắn là mọi người gần đó thấy chuyện nên lập tức can ngăn.

Dù tránh được chuyện xô xát nhưng hai bên vẫn lại tiếp tục… đấu khẩu. Đến hồi cao trào thì chồng bà Q. cầm dao từ trong nhà chạy ra để đánh người đàn ông. Cũng không vừa, người này liền chạy vọt tới tiếp chiêu với chồng bà Q. Thấy người này hùng hùng hổ hổ, chồng bà Q. chột dạ, quay ngược vào nhà cầm thêm “vũ khí” là một khúc gậy. Giáp chiến, người đàn ông bị lãnh một nhát dao ở lưng nên bỏ chạy. Tuy nhiên liền đó, người này nhặt được miếng kiếng vỡ hơn nửa thước nên quay lại chém trúng chồng bà Q. khiến ông chết.

Cuối tháng 2-2009, Tòa án TP Cần Thơ phạt người đàn ông sáu năm tù về tội giết người, buộc bị cáo bồi thường cho bà Q. là đại diện cho người bị hại hơn 50 triệu đồng cùng tiền cấp dưỡng cho hai con của bà đến tuổi trưởng thành.

Rắc rối vợ trước, vợ sau

Vụ án tưởng sẽ khép lại thì đùng một cái nảy sinh ra chuyện bà D. có đơn chống án đòi tăng hình phạt với bị cáo và đứng ra nhận mình mới là vợ chính thức của người bị hại. Theo bà, tòa đã xác định chưa đúng, chưa thể hiện đúng quyền lợi của gia đình chính thức của người bị hại. Lý ra bà mới người đại diện hợp pháp của người chết chứ không phải bà Q. Trên cơ sở đó, bà cũng phải được bồi thường từ cái chết của chồng…

Để chứng minh mình là vợ chính thức, bà D. đã kể rằng năm 1983, bà và người bị hại chung sống với nhau và đã ra xã đăng ký kết hôn. Chung sống và có đến ba mặt con thì hai bên mâu thuẫn nên chồng bà bỏ đi chung sống với bà Q. rồi có con với người này. Dù chồng bà làm như thế là cạn tình nhưng giữa hai người vẫn chưa chấm dứt hôn nhân nên chưa cạn lý. Thế nên khi chồng bà chết, các cơ quan tố tụng không đưa bà vào tham gia vụ án với tư cách là vợ chính thức, là đại diện cho người bị hại mà lại đưa bà Q. ra để làm đại diện là không thể chấp nhận được.

Continue reading

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á, NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM

TAPCHIKETOAN – Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, làn sóng cải cách hệ thống ngân hàng dâng lên mạnh mẽ vào những thập niên 80, 90 hình thành nên những tập đoàn tư bản ngân hàng vững mạnh.

Phát triển tín dụng ngân hàng ở các nước trên thế giới thực chất là phát triển hệ thống các ngân hàng thương mại, các định chế tài chính nhằm động viên được hầu hết các nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong nền kinh tế vào ngân hàng; đồng thời tiến hành phân phối nguồn vốn tập trung được dưới hình thức cho vay hoặc đầu tư vào các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế nhằm mở rộng sản xuất, lưu thông hàng hóa và phát triển hệ thống ngân hàng, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. 

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, làn sóng cải cách hệ thống ngân hàng dâng lên mạnh mẽ vào những thập niên 80, 90 hình thành nên những tập đoàn tư bản ngân hàng vững mạnh, mở rộng mạng lưới chi nhánh khắp nơi trên thế giới, ngân hàng trở thành bà đỡ cho nền kinh tế công nghiệp hóa-hiện đại hóa toàn cầu, có khả năng tài trợ vốn khổng lồ cho các tập đoàn tư bản, các công ty đa quốc gia .

Dưới đây là kinh nghiệm tổ chức về hệ thống ngân hàng, tài chính ở một số nước châu Á điển hình :

1. Hệ thống ngân hàng Singapore 

° Điều kiện kinh tế xã hội:

Với lợi thế địa lý chiến lược đường biển quốc tế, Singapore nằm ở vị trí giao điểm giữa Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, nơi hội tụ của các nhà buôn với tên gọi “đô thị biển”, nhưng điều kiện tự nhiên có nhiều bất lợi như diện tích nhỏ chỉ khoảng 640 km2, dân số khoảng 3,1 triệu người, hầu như không có tài nguyên phong phú. Là một quốc gia trẻ đa sắc tộc được hình thành từ nền tảng người nhập cư từ Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, và châu Au, Singapore đã từng là thuộc địa của Anh với việc thi hành chính sách tự do thương mại dựa trên cơ bản nguyên tắc pháp luật hình thành nề nếp pháp luật trong kinh doanh. Được trao trả năm 1971, đến nay Singapore trở thành trung tâm buôn bán, dịch vụ mậu dịch, tạo nên thu nhập chính của đất nước này (chiếm 84% GDP) vào những năm 60, đồng thời ngày nay trở thành trung tâm tài chính ngân hàng và thị trường tài chính quốc tế phát triển rất mạnh mẽ. 

° Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa:

Thành tựu phát triển kinh tế của Singapore gắn liền với chính sách công nghiệp hóa được thực hiện vào thập niên 60, hướng đến xuất khẩu, thay thế nhập khẩu kích thích đầu tư nước ngoài tạo ra bước ngoặt phát triển công nghiệp.

Sự cải thiện nhanh kết cấu hạ tầng, ưu đãi thuế thúc đẩy các công ty xuyên quốc gia phát triển ồ ạt đầu tư trực tiếp vào Singapore, tính đến cuối năm 80, tư bản nước ngoài đã đóng góp 65% giá trị công nghiệp, 85% giá trị xuất khẩu trực tiếp tạo việc làm cho 60% lực lượng lao động. Công nghiệp hoá của Singapore bắt đầu từ ngành công nghiệp chế biến – chế tạo, dịch vụ như thực phẩm, may mặc, thuốc lá, sơn, đồ gỗ … đây là những ngành mũi nhọn then chốt, tận dụng được những lợi thế vốn có của mình vì Singapore không có tài nguyên quặng mỏ phong phú nên không thể phát triển những ngành công nghiệp khai thác .

Bên cạnh đó, chiến lược công nghiệp hoá của Singapore bắt đầu từ xây dựng những công ty sử dụng nhiều lao động kết hợp với sử dụng tư bản và kỹ thuật đầu tư nước ngoài tạo lập nên nền công nghiệp hiện đại, đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài có khả năng cạnh tranh cao, sau đó chuyển dần sang những ngành công nghiệp hiện đại sử dụng chất xám cho những loại hình kỹ thuật hiện đại

Continue reading

LUẬN BÀN VỀ PHẠM TRÙ TÀI CHÍNH CÔNG

TAPCHIKETOAN – Khi bàn về phạm trù tài chính công, hiện nay có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau. Có ý kiến cho rằng tài chính công đồng nghĩa với tài chính nhà nước (1), nhưng có ý kiến khác lại cho rằng, tài chính công là một bộ phận tài chính nhà nước (2).

Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của tài chính có thể thấy, khi nhà nước (3) xuất hiện thì đồng thời cũng xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng nhằm duy trì quyền lực chính trị của nhà nước và những khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn lực đóng góp của xã hội như: thuế, công trái … Từ đây, phạm trù tài chính nhà nước đã bắt đầu xuất hiện – một khái niệm dùng để phản ảnh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ thể nhà nước.

Trước thế kỷ thứ 19, trong các nền kinh tế tự cung – tự cấp, kinh tế hàng hóa giản đơn và kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, chức năng cơ bản của nhà nước là thực hiện các nhiệm vụ chính trị và quản lý hành chính. Cho nên, trong thời gian này tài chính nhà nước hoạt động cũng dựa trên những nền tảng kinh tế đó, và chủ yếu là phục vụ cho các hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp và quốc phòng của nhà nước. Đến giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại, do yêu cầu của sự phát triển kinh tế, nhà nước phải đảm nhận chức năng quản lý kinh tế song hành với hoạt động chính trị, quản lý hành chính, tư pháp, quốc phòng. Tài chính nhà nước lúc này trở thành công cụ để nhà nước can thiệp vào kinh tế nhằm điều tiết các hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi đó, phạm vi hoạt động của tài chính nhà nước đã không ngừng mở rộng, không chỉ dừng lại các hoạt động thu chi ngân sách nhà nước, các quỹ ngoài ngân sách (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế nhằm chăm lo phúc lợi cộng đồng…), hoạt động tài chính của các đơn vị hành chính, các đơn vị sự nghiệp mà còn có cả hoạt động đầu tư, hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế. Như vậy, xét về mặt sắp xếp thể chế, có thể thấy, trong nền kinh tế hiện đại tài chính nhà nước bao hàm sự đan xen của những hoạt động mang tính chất công, không vì lợi nhuận và một số các hoạt động mang tính chất tư, nhằm mục tiêu lợi nhuận như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước. Ngày nay, nhận thức tính vị lợi trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước thể hiện đúng đắn xu hướng cải cách chính sách trong nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là trong xu hướng phát triển cạnh tranh và hội nhập. Doanh nghiệp nhà nước phải là một đơn vị kinh doanh thực sự và lợi nhuận chính là nguồn lực sống còn của nó.

Tóm lại, có thể xác lập khâu tài chính nhà nước dựa trên 3 tiêu chí sau:

° Gắn liền với hình thức sở hữu nhà nước.

° Chính sách thu chi tài chính được thực hiện theo một khuôn khổ pháp lý gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước.

° Mục tiêu hoạt động của tài chính nhà nước hướng vào thực hiện các chức năng chính trị, xã hội và kinh tế của nhà nước.

Continue reading

TẠO HÓA KIỂM SOÁT NHÂN GIAN CŨNG BẰNG LUẬT

HÀ YÊN

Khi đã hội đủ các điều kiện để sự sống xuất hiện, Tạo hóa tiếp tục thực thi một đề án vĩ đại hơn : Mở đường cho một loài đông vật cao cấp ra đời, “cấy” vào não bộ của nó một “con chíp” ý thức, và dần dần, đưa nó hòa nhập vào Trường thông tin ý thức bậc cao, hiện hữu khắp nơi và vận động vĩnh hằng cùng Vũ trụ. Động vật cấp cao ấy chính là Con người. Lúc này, Con người đã có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp tuyệt vời của cái nôi sinh ra mình và, bằng Tư duy, nó có thể đặt ra câu hỏi về Vũ trụ và về cả chính mình.

Điều này có vẻ tiềm ẩn nhiều nguy cơ, khi mà sự tự tra vấn ấy đẻ ra cái Bản ngã không thể kìm nén. Cũng giống như loài người ngày nay tìm cách chế tạo người máy biết tư duy, mà không kiểm soát được sự xung đột của chính tư duy ấy, thì sẽ là thảm họa thương tâm, như một hậu quả tự đào mồ để chôn mình.

Tạo hóa, chẳng những đã biết trước điều đó, mà còn vạch ra, trong đề án, những “thiết kế ” hết sức chi tiết và cực kỳ thông minh, nhằm dẫn dắt cái bản ngã ấy tránh xa “cái Tôi cực đoan”, để đi đến địa vị Chúa tể muôn loài của trần thế.

Vậy, tạo hóa thể hiện điều thông minh ấy ở chỗ nào?

1. Tại sao động vật phải phân chia giới tính?

Sinh sản là phương thức để duy trì nòi giống, là phương thức chống lại sự suy giảm lượng của giống loài. Nhưng quá trình tự sinh sản đã diễn ra ở cấp độ phân tử trong giai đoạn tiến tới cấu trúc ADN rồi, thì hãy cứ theo qui trình ấy, mà mỗi cá thể tự sinh sản lấy, sẽ đơn giản hơn không?

Vấn đề nằm ở hành vi của ý thức : Đó là tư duy. Cái mà Tạo hóa ban cho mỗi cá thể được quyền sở hữu. Vì vậy, lẽ tự nhiên, Cá thể được quyền quyết định hành động theo Tư duy của mình là hoàn toàn hợp lôgic của Tạo hóa!

Rõ ràng, đây là một kẽ hở mà thảm họa tuyệt chủng có thể xảy ra : Bởi vì, nếu sự sinh sản phụ thuộc vào sở thích chủ quan, thì cá thể nào cũng sẵn sàng chọn lấy giải pháp an toàn hơn cho chính mình. Trong khi đó, với Thế giới động vật sinh tồn bằng bản năng, thì thời điểm sinh nở và nuôi con, là thời điểm nguy hiểm nhất, kẻ săn mồi sẽ ráo riết tận dụng. Xác suất “mẹ tròn con vuông” là rất thấp. Còn đối với con người thì sinh đẻ là một thứ cảm giác đau đớn. Là thời điểm sinh mạng lảo đảo “đi qua chiếc cầu độc mộc”, như dân gian đã từng ví. Như vậy, ở chế độ sinh sản tự quyết, thì cá thể nào trong Thế giới loài người, mà chẳng chọn lấy giải pháp an toàn và không đau đớn : Đó là, từ chối sinh sản. Sự chọn lựa này, cũng giống như những người thích chọn sống độc thân, để được nhẹ thân, trong xã hội ngày nay của chúng ta vậy. Nguy cơ tuyệt chủng cúng chính là lý do đó.

Để lấp kín kẽ hở này, Tạo hóa đã chọn một giải pháp hết sức thông minh : Đó là phân chia giới tính : Sự sinh sản tự quyết bị loại bỏ. Thay vào đó là sinh sản phụ thuộc, thông qua giao phối cặp Trống – mái ; Đực – cái ; Nam – nữ.

Continue reading

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: