MỘT SỐ QUAN ĐIỂM HIỆN TẠI VỀ QUYỀN MUA NHÀ Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI

CIVILLAWINFOR (Tổng hợp)

1. Mở rộng đối tượng kiều bào được mua nhà ở Việt Nam

Năm 2008, đã có gần 400.000 kiều bào được miễn thị thực vào VN. Đây là con số được Ủy ban Nhà nước Về người VN ở nước ngoài (ủy ban) thông tin tại cuộc họp báo ngày 6-1- 2009, tại Hà Nội. Số liệu nêu trên được đánh giá là còn khiêm tốn, vì số lượng Việt kiều truy cập vào trang web của cơ quan đại diện ngoại giao VN ở nước ngoài hay cơ quan xuất nhập cảnh để làm thủ tục nhập cảnh về nước thời gian qua chưa nhiều.

Điều này cho thấy một số kiều bào còn chưa quen với việc vào internet để lấy thông tin hoặc đơn đăng ký miễn thị thực. Khúc mắc nữa là do có những rắc rối trong cách thức kê khai chi tiết về nơi sinh, nơi cư trú trước đây, đặc biệt với những trường hợp xuất thân tại những địa phương nay đã chia tách tỉnh.

Thủ tục xuất nhập cảnh sẽ thuận lợi hơn

Theo ông Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước Về người VN ở nước ngoài, ủy ban đang xem xét, thu nhận các ý kiến đóng góp của kiều bào để làm việc với các cơ quan quản lý chức năng trong nước, cải tiến thủ tục để công tác miễn thị thực được thuận lợi hơn.

Mới đây, ủy ban đã đưa mẫu đơn đăng ký miễn thị thực bằng tiếng Anh lên trang web của Bộ Ngoại giao để giúp cho thế hệ kiều bào thứ ba có thể làm thủ tục xin xuất nhập cảnh nhanh hơn, thuận lợi hơn.

Tiếp tục đọc

Advertisements

HỦY QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI: CHẾ ĐỊNH CÒN NHIỀU BẤT CẬP TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

ĐẶNG HOÀNG HOANH – Vụ Hợp tác quốc tế- Bộ Tư pháp

Sự thành công của trọng tài quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào việc quyết định trọng tài có được thi hành hay không. Rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một quyết định trọng tài không được thi hành. Điều mà các bên mong muốn trong giải quyết tranh chấp thương mại, đương nhiên là sự đền bù về tiền bạc, chứ không phải là một tờ giấy ghi phán quyết. Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa chọn trọng tài một khi họ không tin tưởng vào tính thi hành của quyết định trọng tài.

Ngược lại, giao lưu thương mại sẽ trở nên trôi chảy nếu các thương gia biết rõ rằng tranh chấp của họ có thể được giải quyết một cách hiệu quả. Việc xác định được tính thi hành của quyết định trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư trong sự lựa chọn có nên giải quyết tranh chấp hay không, bằng trọng tài hay Toà án, chọn trọng tài ở đâu và trong một số trường hợp có thể dẫn cả tới quyết định quan trọng của họ là có nên kinh doanh nữa hay không.

Một trong những yếu tố đảm bảo cho tính có thể thi hành của phán quyết trọng tài là các quy định về huỷ quyết định trọng tài phải rất hợp lý và chặt chẽ, tránh trường hợp quyết định trọng tài có thể bị bên thua kiện yêu cầu huỷ một cách tuỳ tiện.

So với quy tắc tố tụng của các thiết chế trọng tài quốc tế, cũng như pháp luật về trọng tài của các nước, thì Pháp lệnh trọng tài thương mại của Việt Nam dành một số lượng điều khoản nhiều hơn cả[i] để quy định về vấn đề huỷ quyết định trọng tài, từ các nguyên tắc huỷ quyết định trọng tài, cho đến thủ tục, trình tự huỷ quyết định trọng tài.

Tiếp tục đọc

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP – CSR: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ YÊU CẦU ĐỔI MỚI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CSR Ở VIỆT NAM

NGUYỄN ĐÌNH CUNG – LƯU MINH ĐỨC

Thời gian gần dây, du luận dang quan tâm chặt chẽ và bức xúc dối với hàng loạt vụ vi phạm dạo dức kinh doanh, xâm hại môi truờng và sức khỏe con nguời ở mức dộ nghiêm trọng; diển hình là vụ sữa nhiễm melamine của Trung Quốc và vụ xả trực tiếp chất thải không qua xử lý ra sông Thị Vải của công ty Vedan ở Việt Nam. Sự dúng – sai trong những vụ việc trên là rõ ràng. Tuy nhiên, dối với xã hội và hàng ngàn doanh nghiệp dang hoạt dộng khác, bài toán về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lại duợc dặt ra và cần duợc thảo luận nghiêm túc cả về mặt lý luận chính sách và thực tiễn.

Một công ty cần phải làm những gì dể có thể duợc xã hội dánh giá là một công ty tốt và phát triển bền vững? Trách nhiệm của co quan quản lý nhà nuớc tới dâu? Luật nên quy dịnh trách nhiệm của doanh nghiệp dến mức dộ nào thì hợp lý? Và phải chang nguời tiêu dùng ở các nuớc dang phát triển nhu Việt Nam có quá ít quyền lực, dễ bị tổn thuong, hoặc họ cung không ý thức duợc dầy dủ và sử dụng hết các quyền và phuong tiện của mình dể bảo vệ những lợi ích chính dáng của họ? Nhằm góp phần giải dáp các câu hỏi trên, chúng tôi tiếp cận từ góc dộ kinh nghiệm quốc tế trong linh vực này với suy nghi rằng các nền kinh tế phát triển dều dã từng dối mặt với những vấn dề chúng ta gặp phải ngày hôm nay, do dó những cuộc tranh luận và giải pháp của họ rất dáng dể chúng ta tham khảo.

Tiếp tục đọc

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS.TS. NGUYỄN THẾ NGHĨA

Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam.

1 – Khái quát tình hình phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam

Trước thời kỳ đổi mới, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân hầu như không được sử dụng ở nước ta. Trong thời kỳ đổi mới, nhất là khi đất nước thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, các khái niệm doanh nghiệp, doanh nhân ngày càng được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực khoa học, kinh tế… và trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Trong chương trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đến việc hình thành, phát triển các doanh nghiệp, doanh nhân và coi đó là lực lượng chủ lực của phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy, khóa IX, lần đầu tiên đã đặt ra yêu cầu xây dựng đội ngũ doanh nhân Việt Nam cùng với nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Đại hội X của Đảng đã đưa ra chủ trương cho phép đảng viên được làm kinh tế tư nhân và đặt ra yêu cầu xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp, trong đó đưa ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 cả nước có 500.000 doanh nghiệp .

Tiếp tục đọc

NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI LIÊN KẾT VIỆN, TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

HOÀNG XUÂN LONG

Mối quan hệ liên kết giữa viện, trường với doanh nghiệp ở nước ta còn khá hạn chế, thiếu chặt chẽ do gặp phải nhiều trở ngại về hành chính và cơ chế tài chính. Bên cạnh đó, những chuyển giao, đổi mới về công nghệ thời gian qua còn dừng lại ở khâu tiếp nhận, vận hành, chứ chưa tạo ra được mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu và triển khai công nghệ để nghiên cứu thích nghi, cải tiến công nghệ. Hiện đã có nhiều nghiên cứu xung quanh vấn đề này, tuy nhiên trong phạm vi hẹp của bài viết, tác giả xin nêu lên một số nhân tố đang cản trở liên kết viện, trường với doanh nghiệp.

Các ảnh hưởng từ phía doanh nghiệp

Một là, nhu cầu liên kết với viện, trường của doanh nghiệp không cao do thiếu những sức ép đòi hỏi doanh nghiệp tiến hành đổi mới công nghệ một cách mạnh mẽ; mặc dù trình độ công nghệ thấp, nhưng nhu cầu đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp không cao; hoạt động đổi mới công nghệ chủ yếu là tập trung đi mua máy móc từ bên ngoài và ít chú ý đến nghiên cứu đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp chưa có tầm nhìn xa, mang tính chiến lược, do đó chưa có những kế hoạch đổi mới công nghệ dài hạn nhằm đạt được sự phát triển bền vững…

Kết quả điều tra các doanh nghiệp tại ba thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh của Vũ Minh Khương và Jonathan Haughton đã rút ra những kết luận quan trọng. Thứ nhất, trong khi coi trọng sự cộng tác chặt chẽ với các nhà cung cấp nước ngoài thì mối liên kết của các doanh nghiệp với viện, trường chưa chặt chẽ, và việc tăng cường mối liên kết này chưa được ưu tiên cao. Thứ hai, nhìn chung các doanh nghiệp đề cao những hoạt động như sử dụng máy vi tính, thư điện tử,… hơn là liên kết với viện, trường để đổi mới công nghệ. Đó cũng có thể coi là tình hình chung của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.

Tiếp tục đọc

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO XÚC PHẠM DANH DỰ, NHÂN PHẨM VÀ UY TÍN: VU KHỐNG CÔ GIÁO HIẾN THÂN, PHẢI XIN LỖI!

NAM KIÊN

Cô giáo L. đã bật khóc nức nở tại phiên tòa phúc thẩm vì thầy T. bịa chuyện cô tự nguyện hiến thân cho thầy T. Sự bịa đặt ấy đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và hạnh phúc gia đình của cô L. nhưng cho đến tận phiên xử phúc thẩm mới đây, cô vẫn chưa hề nhận được một lời xin lỗi nào từ phía thầy T.

Bị từ chối tình cảm nên vu khống

Vụ án này từng được Pháp Luật TP.HCM phản ánh ngay sau khi phiên xử sơ thẩm của TAND TP Rạch Giá (Kiên Giang) diễn ra. Theo hồ sơ, cô L. và thầy T. là đồng nghiệp dạy cùng một trường ở TP Rạch Giá. Vì cô L. xinh xắn, có duyên, thầy T. nhiều lần buông lời chọc ghẹo bóng gió và tỏ ra quan tâm quá mức tình đồng nghiệp, tình bạn. Tính tình nghiêm túc, lại đã lập gia đình nên cô L. rất khó chịu, nhiều lần cô thẳng thắn nhắc nhở thầy T.

Thầy T. không tiếp thu mà còn phao tin khắp nơi rằng “Cô ta đã hiến thân cho tôi rồi”. Sau khi cô L. báo cáo sự việc, đề nghị lãnh đạo trường làm rõ, thầy T. còn đứng trước hội đồng nhà trường khẳng định: “Cô L. quyến rũ tôi. Tôi nhiều lần cho cô ấy tiền, từ 20 ngàn đồng đến 100 ngàn đồng mỗi lần”… Sau đó, thầy T. còn hùng hồn tuyên bố trước hai cô giáo khác cùng trường: “Tôi biết được… vết tích trên thân thể cô ta”. Lãnh đạo trường nhiều lần mời thầy T. đến làm việc, yêu cầu chấm dứt việc phao tin sai sự thật nhưng thầy T. vẫn không chấp hành. Vì thế, chủ tịch UBND TP Rạch Giá ra quyết định kỷ luật thầy T. với hình thức khiển trách vì đã có hành vi xúc phạm đến nhân phẩm, uy tín, danh dự, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của đồng nghiệp và uy tín của đơn vị.

Tiếp tục đọc

MỘT SỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP BỘ GIAI ĐOAN 2004 – 2009 CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG ƯƠNG

CIVILLAWINFOR (Tổng hợp) 

A. NĂM 2009

1. Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững ở Việt Nam

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Lê Xuân Bá, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Email: LeXuanBa@ciem.org.vn


2. Nghiên cứu hoàn thiện các chính sách hỗ trợ đời sống người lao động

Chủ nhiệm đề tài: TS. Đinh Văn Ân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Email: president@ciem.org.vn


3. Tăng cường trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường Việt Nam vì sự phát triển bền vững

Chủ nhiệm đề tài:  PGS.TS. Nguyễn Đình Tài, Giám đốc Trung tâm Tư vấn quản lý và đào tạo
Email: Tai@ciem.org.vn

Tiếp tục đọc

CẢI CÁCH GIÁO DỤC Ở HÀN QUỐC

TS. TRẦN ANH PHƯƠNG

Hàn Quốc là nước có nền giáo dục phát triển cao, và đó là một trong những nguyên nhân cơ bản làm nên “Kỳ tích Sông Hàn”, khiến cho cả thế giới khâm phục. Song hiện nay, Hàn Quốc vẫn đang phải tiếp tục thực hiện cuộc cải cách giáo dục lần thứ sáu. Vì sao như vậy và mục tiêu của cuộc cải cách lần này là gì?

1. Giáo dục là quốc sách hàng đầu và cải cách giáo dục là nhiệm vụ thường xuyên của Hàn Quốc

Từ lâu, Hàn Quốc đã có truyền thống đề cao vị trí, vai trò quan trọng của giáo dục, coi đây là một phương tiện để hoàn thiện con người và là động lực thúc đẩy sự phát triển đất nước. Ngay sau khi Nhà nước Đại Hàn dân quốc được thành lập (năm 1948), Chính phủ bắt đầu xây dựng hệ thống giáo dục hiện đại, và từ đó và đến nay, đã tiến hành 7 lần cải cách giáo dục, vào các năm: 1955-1962 (lần thứ nhất); 1963-1972 (lần thứ hai); 1973-1980 (lần thứ ba); 1981-1986 (lần thứ tư); 1987-1996 (lần thứ năm); và lần thứ sáu được triển khai chính thức từ ngày 30-12-1997 và vẫn kéo dài cho đến ngày nay.

Ngày nay, Hàn Quốc là một trong những nước có tỷ lệ dân số biết chữ cao nhất thế giới. Chính trình độ học vấn cao của người Hàn Quốc là một yếu tố quan trọng góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế nhanh và đưa đất nước này nhanh chóng trở thành một trong những con rồng trong nhóm các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs) của Đông Á từ thập niên 70-80 của thế kỷ trước.

Tiếp tục đọc

VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA

TẠP CHÍ CÔNG NGHIỆP – Cơ cấu kinh tế là tổng thể các mối quan hệ hữu cơ trong nền kinh tế. Mối quan hệ này biểu hiện ở các tỷ lệ về lượng giữa các bộ phận trong hệ thống, cũng như tác động qua lại về chất giữa chúng.

Quản lý nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu  kinh tế  theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá là quá trình Nhà nước xây dựng và vận hành cơ chế quản lý kinh tế phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hôi, phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan để tác động vào hệ thống kinh tế làm biến đổi về lượng, thay đổi mối quan hệ về chất của các bộ phận hợp thành hệ thống kinh tế theo hướng công nghiệp hoá – hiện đại hoá.

Tuy nhiên, một hệ thống thị trường hoàn chỉnh và đồng bộ lại không phải là có sẵn và Nhà nước buộc phải tham gia vào việc hình thành, phát triển, hoàn thiện đồng bộ các loại thị trường. Như vậy, vai trò của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trước hết chính là vài trò làm “bà đỡ” cho thị trường hình thành và phát triển. Những thành tựu phát triển kinh tế kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới kinh tế trong những năm vừa qua là một minh chứng rõ nét nhất về vai trò của Nhà nước ta trong việc phát triển nền kinh tế thị trường. Vai trò “bà đỡ” cho thị trường ra đời và phát triển của Nhà nước thể hiện ở các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, Nhà nước phải sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật để cho thị trường phát triển, xoá bỏ các luật lệ, quy định gây cản trở hoạt động của thị trường, xây dựng hệ thống luật pháp phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường.

Tiếp tục đọc

Ý KIẾN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI NGUYỄN ĐÌNH XUÂN – TÂY NINH ĐỐI VỚI DỰ THẢO LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TẠI KỲ HỌP THỨ 5 QUỐC HỘI KHÓA 12

NGUYỄN ĐÌNH XUÂN

Qua nghiên cứu luật này tôi thấy có điểm khó trong luật này đó là chúng ta phải giải quyết mối quan hệ tay ba giữa một bên là công dân, một bên là Nhà nước và bên thứ ba là người thi hành công vụ. Nếu tóm tắt lại nội dung, chủ chốt của luật này là gì, tức là khi có một hành vi trái pháp luật xảy ra gây thiệt hại cho người công dân thì Nhà nước phải bồi thường, còn người thi hành công vụ có lỗi hay không có lỗi lại là quan hệ giữa Nhà nước và người thi hành công vụ.

Nếu người thi hành công vụ có lỗi, gặp được lỗi cố ý thì sẽ phải bồi thường cho Nhà nước trở lại, tức là hoàn trả trở lại hoặc không có lỗi thì không phải hoàn trả, nhưng dù cho người thi hành công vụ có lỗi hay không có lỗi thì Nhà nước vẫn phải bồi thường cho công dân. Nếu ta nói được điều này thì ta giải quyết được nhiều vấn đề khác còn nếu không chúng ta sẽ rất lúng túng. Ví dụ như ở Điều 4, 5, 6 chúng ta nói rằng dựa vào một cơ sở là phải có một văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định lỗi. Đặt trường hợp nếu ông không có lỗi thì ai sẽ được lỗi, thứ hai nếu như cơ quan có thẩm quyền không ra văn bản xác định lỗi mà thời hiệu đã hết thì chẳng lẽ người công dân này không bao giờ được bồi thường hay sao? Tương tự như trường hợp giáo sư Nguyễn Lân Dũng đã nói, tức là vấn đề oan sai trong tố tụng hình sự, không có cơ quan chức năng nào chịu ra văn bản xác định ông nào bị oan bị sai cả, mà thời hiệu thì đã hết lâu rồi, ông ta cứ như thế, không ai xác định gì cả, như vậy căn cứ pháp luật không cơ quan nào chịu bồi thường. Điều này chúng ta cũng phải lưu ý.

Tiếp tục đọc

THÔNG TƯ SỐ 11/2009/TT-NHNN NGÀY 27 THÁNG 5 NĂM 2009 VỀ SỬA ĐỔI KHOẢN 1 ĐIỀU 7 THÔNG TƯ SỐ 03/2009/TT-NHNN NGÀY 02 THÁNG 3 NĂM 2009 QUY ĐỊNH VỀ VIỆC CHO VAY CÓ BẢO ĐẢM BẰNG CẦM CỐ GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG

Căn cứ Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2003;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam sửa đổi Thông tư số 03/2009/TT-NHNN ngày 02 tháng 3 năm 2009 quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các ngân hàng như sau:

Điều 1. Khoản 1 Điều 7 được sửa đổi như sau:

“1. Tiêu chuẩn giấy tờ có giá được cầm cố:

a. Được phép chuyển nhượng;

b. Giấy tờ có giá thuộc sở hữu hợp pháp của ngân hàng xin vay;

c. Có thời hạn còn lại tối thiểu bằng thời gian vay.”

Tiếp tục đọc

%d bloggers like this: