TẢN MẠN DÂN SỐ VIỆT NAM

TS. NGUYỄN QUÁN

Trong cuốn sách “Kinh tế Việt Nam – Hội nhập và phát triển” của Nhà Xuất bản TP. Hồ Chí Minh, năm 2001, tác giả có viết “Nếu chỉ được chọn một chỉ tiêu kinh tế trong hàng loạt chỉ tiêu quan trọng nhất của một quốc gia, và của toàn thế giới hiện tại và cho tương lai, thì chọn chỉ tiêu nào? Nhiều người đồng tình chọn chỉ tiêu số lượng dân số. Chỉ tiêu này sẽ là mục tiêu cho hàng loạt các chỉ tiêu phải hướng tới nhằm nâng cao đời sống con người, con người phải được sống văn minh và bình đẳng; nhưng chính con người lại là yếu tố quyết định nhất để đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế-xã hội, để con người được sống công bằng và văn minh“ (trang 712). Vậy chỉ tiêu số dân Việt Nam và những vấn đề liên quan đến số dân Việt Nam từ những năm xa xưa và nhất là hiện nay ra sao?

Trên thế giới, trong một thời gian dài, dân số thế giới không tăng, hoặc tăng rất chậm: Những năm đầu sau Công nguyên chỉ có 260 triệu dân, 1.000 năm sau mới nhích lên 280 triệu, năm 1500: 430 triệu, vào năm 1950 dân số đạt mức 3 tỷ, bắt đầu bước vào thời kỳ bùng nổ, chỉ đến ngày 11/7/1987, em bé người Nam Tư ra đời đã trở thành công dân thứ 5 tỷ của thế giới, bước vào năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3, dân số thế giới đã vượt qua con số 6 tỷ, với tốc độ tăng trưởng này, dự kiến đến năm 2050 dân số thế giới sẽ vượt qua con số 9 tỷ dân, mặc dù chương trình kế hoạch hóa đã hạn chế phần nào sự tăng nhanh dân số (nhưng dân số vẫn tăng nhanh ở nhiều nước châu Phi, châu Á, châu Mỹ La Tinh, trong khi đó nhiều nước dân số không tăng mà còn giảm tuyệt đối, như: Nga, Nhật Bản,…) Sự tăng nhanh dân số là do đời sống vật chất và tinh thần trên toàn thế giới được cải thiện nhanh chóng, tình trạng “hữu sinh vô dưỡng“ giảm nhiều, tuy còn sự khác biệt giữa các quốc gia, các vùng trên thế giới.

Không có số liệu chính thức nào vế số dân Việt Nam, từ những năm đầu sau Công nguyên, theo số suất đinh của ba Quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam (theo địa giới là miền Bắc nước ta đến phía Bắc Quảng Nam hiện nay) trong tác phẩm của Ban Cố thì ước tính dân số lúc đó khoảng 2 triệu người. Dân số Việt Nam phát triển cũng rất chậm của các thế kỷ trước, và bắt đầu tăng nhanh từ thế kỷ XX như xu thế chung của thế giới, nhưng cũng có những đặc điểm riêng. Năm 1921 mới có 15,6 triệu người, năm 1939: 19,6 triệu, năm 2000: trên 77,6 triệu, 2008: gần 86,2 triệu. Việt Nam đã trở thành nước đất ít, người đông (trong gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam đứng thứ 65 về diện tích, thứ 13 về dân số, còn mật độ dân số đã vượt qua con số 260 người/km2– đứng thứ 35 thế giới). Dân số Việt Nam đã có nhiều năm tăng vọt do quy luật tăng bù dân số sau những năm chiến tranh, tỷ lệ tăng tự nhiên dân số một số năm sau chiến tranh trên 4 đến 5%, hiện nay tỷ lệ này còn khoảng 1,35%. Dân số Việt Nam chắc chắn còn lớn hơn nhiều, vì rất nhiều người dân đã chết vì nạn đói 1945 và hy sinh trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.

Công tác kế hoạch hóa gia đình được triển khai rất sớm ở Việt Nam (với miền Bắc ngay từ 26/12/1961, Nhà nước đã thành lập Ban sinh đẻ có kế hoạch; sau thống nhất đất nước, công tác kế hoạch hóa gia đình càng được đẩy mạnh, đặc biệt thực hiện Chương trình kế hoạch hóa gia đình với mức sinh thay thế hai con đã trở thành chuẩn vàng của chính sách dân số nước ta hiện nay); số con trung bình một người mẹ ở nước ta cũng đã giảm nhanh, từ 6,05 con năm 1960, xuống còn 3,8 con năm 1990, và 2,07 con năm 2006, tuy vẫn còn cao hơn nhiều nước như Thái Lan, Hàn Quốc,…

Dân số Việt Nam thuộc nhóm dân số trẻ (năm 2005, tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi của Việt Nam chiếm tới 26,3%, ở châu Á: 21%, châu Âu: 16%) là một nguồn lao động dồi dào, một tiềm năng kinh tế của nước ta. Tuy nhiên, kế hoạch giảm sinh mỗi năm khoảng 0,03% trong vài năm nay đã không được thực hiện (năm 2008 chỉ giảm 0,01%), số cặp vợ chồng sinh đứa con thứ ba trở lên ngày một tăng, báo hiệu sự tăng nhanh dân số lại trở lại, nếu không thực hiện tốt cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ hai con trở xuống; thêm vào đó là những vấn đề liên quan báo hiệu những hiện tượng dân số tiêu cực, như: tỷ lệ phá thai ở Việt Nam rất cao không chỉ so với các nước kinh tế phát triển mà ngay cả các nước đang phát triển, có trình độ kinh tế không hơn nhiều nước ta… đặc biệt sự mất cân bằng giới tính đối với trẻ em mới sinh, tỷ lệ trẻ em trai bằng 105/100 trẻ em gái có xu hướng tiếp tục tăng trong vài năm nay đã báo hiệu 20-30 năm sau, sẽ có hàng triệu thanh niên không thể lập gia đình vì không có nữ thanh niên (tình trạng này đã được cảnh báo sớm, từ những vấn đề xã hội, gia đình, đạo đức, tâm lý,… mà Trung Quốc đang phải giải quyết), tháp tuổi dân số Việt Nam chắc chắn sẽ khác với đáy của tháp tuổi sẽ phình ra về phía nam, ở nhóm tuổi trên 15-35 cũng vậy; tỷ lệ phụ nữ Việt Nam lấy chồng nước ngoài tăng lên nhanh chóng cũng là những vấn đề cần giải quyết.

Từ nửa cuối thế kỷ XX đến nay, dân số Việt Nam còn có những biến động cơ học lớn, đó là sau những năm 1954-1955 là những luồng di chuyển dân số giữa hai miền Nam-Bắc, các năm 1956-1958 nhiều gia đình Việt kiều ở Thái Lan, Tân đảo về miền Bắc định cư; và sau 1975, hàng vạn người ở miền Nam, và có cả một số người ở miền Bắc đã di tản hoặc vượt biên ra nước ngoài; chưa kể không ít lực lượng lao động và gia đình đã rời quê hương đi xây dựng vùng kinh tế mới… đã góp phần làm tăng nhanh quá trình thành thị hóa (tỷ lệ dân số sống ở thành thị năm 1990 mới khoảng 19,5%, năm 2007 đã tăng lên trên 27%). Những di chuyển dân cư này có một khía cạnh tích cực góp phần phát triển kinh tế đất nước, nhất là các vùng sâu, vùng xa còn nhiều tài nguyên chưa khai thác, là sự hòa hợp của dân cư Việt Nam thống nhất, không phân biệt vùng miền, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, từ 6% năm 2002, nay chỉ còn trên 4,64%, tuy nhiên vẫn còn cao hơn nhiều nước như: Thái Lan, Malaixia, Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… Hàng năm đã có hàng vạn lao động Việt Nam đã ra nước ngoài theo hình thức xuất khẩu lao động (hai năm 2007-2008, mỗi năm đã xuất khẩu khoảng 8 vạn lao động), xuất khẩu lao động cũng là một hướng giải quyết công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế nước ta chưa đủ khả năng thu hút hết lực lượng lao động ngày một tăng, đây không phải là một biện pháp mới của Việt Nam, mà nhiều nước – ngay các nước ASEAN đã và đang làm, như Philippin mỗi năm có khoảng 1 triệu người ra nước ngoài làm việc, mỗi năm số tiền gửi về trên 12 tỷ USD, bằng 10% GDP của Philippin (năm 2007: 17 tỷ USD); nhiều nước tìm kiếm thị trường xuất khẩu lao động ngay các nước láng giềng, bởi trình độ sản xuất, mức sống, phong tục tập quán không quá nhiều khác biệt, chưa kể đi lại không quá xa, hàng năm có khoảng 1 triệu lao động Mianma sang làm việc tại Thái Lan. Tuy nhiên,vấn đề xuất khẩu lao động của Việt Nam cũng còn nhiều vấn đề đặt ra nhằm thực hiện được mục tiêu xuất khẩu lao động, bảo vệ quyền lợi người lao động Việt Nam ở nước ngoài và nâng cao ý thức thực hiện hợp đồng lao động của người lao động Việt Nam với các đối tác nước ngoài. Hiện nay có tới 3,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, không tính người lao động xuất khẩu lao động, trong đó rất nhiều người thành đạt, đây là một nguồn nhân lực lớn cần động viên họ đóng góp cho đất nước cùng với lượng kiều hối tăng thêm hoặc đầu tư ở trong nước.

Cùng với số dân tiếp tục tăng, là vấn đề đào tạo chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế là những vấn đề đặt ra khá gay gắt, khi tỷ lệ lao động ở Việt Nam là quá không hợp lý, mà ngay các nước phát triển cũng không như vậy, tức “nhiều thầy, ít thợ“, tính đến cuối năm 2007 cả nước có 345 trường đại học và cao đẳng, số sinh viên tốt nghiệp hàng năm giai đoạn 2000-2006 mỗi năm trên 193 nghìn người, trong khi chúng ta chỉ có 273 trường trung học chuyên nghiệp và số học sinh tốt nghiệp chỉ có 160 nghìn người, như ngành xây dựng nước ta với tỷ lệ: 1 kỹ sư/ 1,3 lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp và 3 lao động được đào tạo ở các trường đào tạo công nhân trong khi tỷ lệ này ở nhiều nước là: 1/4/10; đấy là chưa kể trình độ thầy có hạn, thợ tay nghề bậc cao ít, trình độ đào tạo không đáp ứng được thực tế. Nhiều ngành nghề xã hội rất cần và có trình độ cao thì nước ta chưa có, hoặc mới có nhưng trình độ đào tạo rất hạn chế, như: công nghệ thông tin, dầu khí, quản trị,… Điều này, đã làm điểm năng lực cạnh tranh tổng hợp về nguồn nhân lực của nước ta rất thấp vào khoảng 32/100 điểm, trong khi đó những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu lao động theo ngành nói riêng nói chung còn rất chậm (Đến cuối 2007, vẫn còn gần 54% lao động làm việc trong ngành nông, lâm, thủy sản, chỉ có 20% lao động làm việc trong ngành công nghiệp xây dựng, còn lại là trong khi vực dịch vụ; trong khi đó nhiều nước ASEAN, tỷ lệ lao động làm việc trong ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản như: Inđônêxia, Thái Lan, Malaixia, Philippin đều dưới 50%, riêng Malaixia dưới 20%, không kể Singapore lại chưa đến 1%); Năng suất lao động của Việt Nam chỉ đứng thứ 77 trên thế giới.

Xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu quan trọng trong các nhiệm vụ hàng năm được Quốc hội đề ra, là mục tiêu quan trọng trong Chương trình Thiên niên kỷ, Việt Nam được thế giới công nhận là quốc gia sớm thực hiện được mục tiêu này. Tuy nhiên, đây vẫn là nhiệm vụ nặng nề, khi tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm 13,1% (năm 2005: 22%), còn có tới 61 huyện ở vùng sâu, vùng xa có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, hệ số bất bình đẳng đang nới rộng ra (năm 1999: thu nhập của 10% hộ giầu nhất gấp 12 lần 10% hộ nghèo nhất, nhưng năm 2003-2004 lại gấp 14,4 lần).

Còn nhiều vấn đề liên quan đến con người, như: vấn đề bình đẳng giới vẫn còn trọng nam hơn nữ, người dùng ma túy, người mắc HIV tiếp tục tăng (Việt Nam đã có trên 135 nghìn người bị chết vì đại dịch AIDS), tỷ lệ người dân chưa được sử dụng nước sạch còn nhiều (ở thành thị: 20%, ở nông thôn: 26%), tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng tuy có giảm bớt nhưng vẫn còn cao ( tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng còn chiếm: 20,6%); … và thể lực (chiều cao, trọng lượng,…) của người dân Việt Nam quá chậm được cải thiện, ngoài ra, những hậu quả chiến tranh đã và vẫn còn nặng nề trong nhiều năm sau (nhiễm chất độc mầu da cam, bệnh tật, tàn tật – chỉ riêng hiện có tới trên 3 triệu trẻ em bị tàn tật); ô nhiễm môi trường ảnh hưởng tới sản xuất và sức khỏe của người dân, thậm chí đã xuất hiện “làng ưng thư”, cùng những dòng sông đã chết và đang chết,…

Dân số là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế – xã hội. Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, của từng gia đình và của toàn xã hội, góp phần quyết định để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bức tranh dân số và các vần đề liên quan của Việt Nam tuy còn những hạn chế, những khó khăn và nhiều vấn đề đặt ra, thách thức này đặt ra nhiệm vụ cho các bộ, ngành liên quan phải có chiến lược đúng đắn thực hiện tốt nhiệm vụ dân số kết hợp với sự tham gia của toàn xã hội thông qua hàng loạt các chương trình quốc gia đang được thực hiện từ nay đến 2010 và 2020. Việt Nam cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp như: tuyên truyền vận động thực hiện quyền bình đẳng giới. Tiếp tục khẩn trương và kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số các cấp; triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng dân số; tập trung xây dựng các mô hình can thiệp nhằm giảm tình trạng mất cân bằng giới tính; triển khai đồng bộ các giải pháp truyền thông chuyển đổi hành vi; nâng cao chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; phấn đấu thực hiện đạt và vượt chỉ tiêu về dân số – kế hoạch hóa gia đình, về giảm tỷ lệ sinh xuống mức 1,14% và giảm quy mô dân số xuống dưới 89 triệu người theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đề ra “Tiếp tục kiềm chế tốc độ gia tăng dân số, phấn đấu đạt chỉ tiêu về chất lượng dân số và phân bổ dân cư hợp lý giữa các vùng”.

Với sự tăng trưởng kinh tế vào loại cao trên thế giới trong nhiều năm nay và sự phát triển giáo dục, y tế, kết quả của những nỗ lực về xoá đói giảm nghèo, tăng tuổi thọ, nâng cao dân trí, Việt Nam được thế giới đánh giá là tiến bộ, thông qua thứ tự xếp hạng về Chỉ số phát triển con người (HDI) đã gia tăng liên tục và nhanh qua các năm và đang tiếp tục được cải thiện. (Năm 1995 xếp thứ 122; năm 2000 là 109; năm 2003 là 108; năm 2005 là 105)./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 3 (443) THÁNG 2 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: