TIẾP TỤC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VỀ SỞ HỮU TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

NGUYỄN VĂN HẬU

Trong quá trình hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) thì việc hình thành và phát triển thể chế về sở hữu là vấn đề cốt lõi, giữ vị trí trung tâm. C.Mác viết: “…tất cả những cuộc cách mạng gọi là những cuộc cách mạng chính trị, từ cuộc cách mạng đầu tiên đến cuộc cách mạng cuối cùng, đều được tiến hành để bảo hộ sở hữu thuộc một loại nào đó”. ở nước ta hiện nay, xây dựng và phát triển thể chế về sở hữu phải đảm bảo vừa thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức sở hữu cho phù hợp với KTTT, vừa phải giữ vững định hướng XHCN.

Định hướng hoàn thiện thể chế về sở hữu

Trong những năm qua, thể chế về các hình thức sở hữu đa dạng đã từng bước được hình thành và phát huy tác dụng, làm cho nền kinh tế Việt Nam phát triển năng động và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều mặt tồn tại, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển và hội nhập. Vì vậy cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện theo những hướng sau đây:

Tiếp tục khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu khác nhau trong nền kinh tế; xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu, tài nguyên nước, khoáng sản…

Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các quyền của người sử dụng đất theo các quy định hiện nay của pháp luật được tôn trọng và bảo đảm.

Tách bạch vai trò của Nhà nước với tư cách là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế – xã hội với vai trò chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước; tách chức năng chủ sở hữu tài sản, vốn của Nhà nước và chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước; thu hẹp và tiến tới xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước của các bộ, Ủy ban nhân dân (UBND) đối với tài sản, vốn nhà nước tại các doanh nghiệp có tài sản, vốn nhà nước. Tiếp tục đổi mới, củng cố và phát huy vai trò của mô hình công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Quy định rõ, cụ thể về quyền của chủ sở hữu và những người liên quan đối với các loại tài sản (trí tuệ, tài sản vật chất, tài sản cổ phiếu, tài sản nợ); bảo hộ các quyền lợi hợp pháp. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu và những người liên quan đối với xã hội.

Khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tập thể, các tổ hợp tác, hợp tác xã; bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích của các xã viên đối với tài sản thuộc sở hữu của hợp tác xã.

Khuyến khích liên kết hỗn hợp giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, làm cho chế độ cổ phần, sở hữu hỗn hợp trở thành hình thức sở hữu chủ yếu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Quy định pháp lý về quyền sở hữu của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam về đối tượng, điều kiện để người nước ngoài có quyền được mua, được sở hữu nhà ở gắn với quyền sử dụng đất và các tài sản khác tại Việt Nam.

Giải pháp cụ thể

Muốn thực hiện được các phương hướng trên, cần phải giải quyết những vấn đề cụ thể sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục rà soát lại các văn bản pháp luật, tìm ra và sửa đổi kịp thời những quy định trái với phương hướng trên. Điều chỉnh những quy định chồng chéo, mâu thuẫn nhau để đảm bảo có sự nhất thể hoá và tính đồng bộ giữa các văn bản pháp luật.

Khi điều chỉnh các văn bản pháp luật trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO phải đối chiếu với các nguyên tắc cơ bản của WTO để sửa đổi như: không phân biệt đối xử, tự do hoá thương mại và cạnh tranh công bằng, minh bạch hoá…

Việc nghiên cứu rà soát các văn bản pháp luật về sở hữu và về các chủ thể sản xuất kinh doanh cần được tiến hành để tìm ra những khác biệt bất hợp lý trong thành lập, quản trị DN; những quy định bất hợp lý giữa các DN thuộc thành phần kinh tế khác nhau trong lĩnh vực thuế, phí và lệ phí; trong lĩnh vực tín dụng; những quy định khác biệt giữa các loại hình DN trong lĩnh vực đất đai. Căn cứ vào các văn bản pháp luật hiện hành, kinh nghiệm xây dựng pháp luật của thế giới và thực tiễn bối cảnh kinh tế nước nhà để tiến hành rà soát, nghiên cứu sao cho cân đối được các lợi ích của các bên chịu tác động, lợi ích nhà nước, giới hạn tới mức tối đa các bất hợp lý cho mỗi bên.

Trước hết cần sửa đổi, bổ sung một số luật và văn bản dưới luật có liên quan đến vấn đề sở hữu mà trên thực tế có những điều khoản tỏ rõ không phù hợp, gây cản trở cho sự phát triển kinh tế thị trường như Luật Đất đai , Luật Sở hữu Trí tuệ, Luật Nhà ở, Luật Khoáng sản, Luật Chuyển giao Công nghệ và Luật Chứng khoán… cũng như phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản hướng dẫn thi hành luật nhưng lại trái với các luật.

Đối với Luật Đất đai (2003), cần sửa đổi cho phù hợp với thực tế và giải quyết thực trạng mâu thuẫn gay gắt trong đền bù giải phóng mặt bằng giữa doanh nghiệp và người dân. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này cần tập trung vào ba nội dung chính: 1) Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; 2) Giá đất và bồi thường giải phóng mặt bằng; 3) Cơ chế và chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng khi giao đất và khi thu hồi đất, tháo gỡ cho doanh nghiệp, đơn giản hoá thủ tục để dễ cho doanh nghiệp. Sửa đổi và bổ sung Luật Đất đai phải đảm bảo nhằm khai thông những vướng mắc, để đất đai thực sự là nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo an ninh lương thực và định hướng cho một thị trường giao dịch bất động sản lành mạnh.

Công cuộc đổi mới cũng đưa đến quan niệm mới về đối tượng sở hữu trong KTTT, đối tượng của sở hữu không chỉ bao gồm những của cải bằng vật thể hữu hình, mà còn gồm cả những của cải phi vật thể và được “tiền tệ hoá”. Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện luật pháp về sở hữu đối với các loại tài sản mới như trí tuệ, cổ phiếu, trái phiếu… Luật pháp về sở hữu trí tuệ phải được xây dựng và hoàn thiện sao cho phù hợp với TRIPS (Hiệp định bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ).

Trước đây, xét trên quan hệ pháp lý, quyền sở hữu và quyền sử dụng không có sự tách biệt mà được coi là một. Vì vậy, thể chế của nền kinh tế cũng dựa trên quan hệ đó để xây dựng và trên thực tế nó đã có những hạn chế lớn đến hiệu quả sử dụng đối tượng sở hữu, không phát huy được tính chủ động trong hoạt động (người sử dụng phải tuân thủ yêu cầu của chủ sở hữu); không gắn được trách nhiệm của từng chủ thể trong việc sử dụng đối tượng sở hữu (cả về quan hệ pháp lý và quan hệ kinh tế) dễ dẫn đến tình trạng “vô chủ” và chính nhận thức này không tạo được cơ sở giải quyết quan hệ lợi ích trong việc thực thi các quyền trong chế độ sở hữu. Vì vậy, cần hoàn thiện thể chế về quyền của chủ sở hữu và những người có liên quan đến các đối tượng sở hữu; quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên.

Thứ hai, đổi mới quy trình xây dựng luật pháp, nâng cao chất lượng công tác xây dựng và hiệu quả thực thi pháp luật: cần chủ động lên kế hoạch cho chương trình làm luật từng kỳ họp của Quốc hội, việc ban hành những luật mới phải được hoạch định theo tư tưởng hoàn thiện thể chế kinh tế.

Nghị quyết số 48-NQ/TƯ của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã xác định mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”. Để có thể đạt được mục tiêu này, một trong những giải pháp quan trọng là phải đổi mới cơ bản quy trình, thủ tục xây dựng pháp luật từ sáng kiến pháp luật đến thông qua luật nhằm đẩy nhanh quá trình soạn thảo, ban hành luật. Nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.

Nhờ đẩy nhanh tốc độ nên công tác lập pháp trong thời gian qua đã kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, ban hành được số lượng lớn văn bản luật, pháp lệnh, bước đầu tạo lập được khung pháp luật để quản lý nhà nước, tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là đã góp phần quan trọng đưa đất nước hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được, hoạt động lập pháp từ khâu lập chương trình, soạn thảo, thẩm tra đến việc thảo luận, thông qua các dự án luật, pháp lệnh vẫn còn có những hạn chế nhất định. Cụ thể như: Việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ và hàng năm vẫn chưa sát thực tế, chưa dự báo đầy đủ yêu cầu nên tính khả thi chưa cao, phải điều chỉnh lại nhiều lần. Có văn bản chưa thực sự cần thiết nhưng lại được đưa vào chương trình. Việc xác định tên gọi, hình thức, phạm vi điều chỉnh của văn bản và phân công cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm tra trong một số trường hợp còn chưa hợp lý. Chưa có sự phân công rành mạnh, hợp lý giữa các cơ quan trong việc soạn thảo nên đã dẫn đến tình trạng chờ đợi, dựa dẫm nhau làm chậm tiến độ lập pháp cũng như giảm chất lượng soạn thảo văn bản, kết quả là nhiều dự án không được soạn thảo, trình đúng tiến độ, không được gửi đến cơ quan thẩm tra, UBTVQH, Quốc hội đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Có dự án, do trong quá trình xây dựng chưa có sự trao đổi, bàn bạc kỹ giữa các cơ quan có trách nhiệm nên mặc dù đã được trình ra Quốc hội nhưng ý kiến giữa các cơ quan này chưa thống nhất được với nhau về các nội dung quan trọng. Chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục Chính phủ xem xét, thảo luận và thông qua dự án luật, pháp lệnh nên trong thực hiện chưa tuân thủ đầy đủ quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật là Chính phủ phải thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số.

Giai đoạn nghiên cứu tiếp thu ý kiến đại biểu quốc hội đối với dự án luật và nghiên cứu tiếp thu ý kiến của các thành viên UBTVQH đối với dự án pháp lệnh là giai đoạn rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng của văn bản nhưng chưa được quy định rõ trình tự, thủ tục cũng như trách nhiệm cụ thể của các cơ quan hữu quan. Chưa có cơ chế hợp lý để ủy ban Pháp luật thực hiện vai trò bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật đối với các dự án luật, pháp lệnh trước khi trình Quốc hội, UBTVQH thông qua. Quy trình xem xét, thông qua luật tại kỳ họp Quốc hội, tuy có cải tiến, nhưng vẫn còn những điểm chưa hợp lý.

Thứ ba, cần có cơ chế thu hút các chuyên gia giỏi, những người trực tiếp thi hành pháp luật và trí tuệ của nhân dân, các tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp vào hoạt động xây dựng pháp luật, đổi mới việc tổ chức lấy ý kiến của các bộ, ngành, các thành viên Chính phủ về các dự thảo văn bản pháp luật để đạt được hiêu quả thiết thực.

Về vấn đề này Việt Nam nên áp dụng kinh nghiệm của Trung Quốc là ngoài việc trao quyền cho các bộ, ngành hữu quan, nên giao cho những tổ chức và cá nhân (nếu có thể) am hiểu và có trình độ pháp luật cao cùng soạn thảo.

Hiện nay, hoàn thiện thể chế về sở hữu ở Việt Nam là một việc cần thiết khách quan là vì, một mặt, khi điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi thì thể chế cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp; mặt khác, còn do yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Gia nhập WTO Việt Nam cần có “một làn sóng thứ hai” của cải cách thể chế “quyết liệt” sao cho vừa phù hợp với kinh tế thị trường, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 7 (447) THÁNG 4 NĂM 2009

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: