LỒNG GHÉP GIỚI VÀO KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

HỒ MINH CHIẾN

Lồng ghép giới và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) là một khái niệm tương đối mới ở nước ta. Cũng như lồng ghép giới vào chính sách, thực chất lồng ghép giới vào kế hoạch phát triển KT-XH không có nghĩa là có các kế hoạch riêng biệt cho phụ nữ và nam giới, thậm chí cũng không phải là kế hoạch riêng cho phụ nữ. Thay vào đó, lồng ghép giới vào kế hoạch là xem xét sự ảnh hưởng, sự tác động của mỗi kế hoạch (quốc gia, ngành, địa phương, cơ sở…) đối với nhu cầu và sự phát triển của phụ nữ.

Luật Bình đẳng giới bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, tạo điều kiện thuận lợi cho sự thành công của Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam. Tuy vậy, điều này cũng đòi hỏi việc lồng ghép giới vào công tác kế hoạch hoá phát triển KT-XH của đất nước phải thực sự đạt được hiệu quả, thúc đẩy việc đạt được công bằng trong sự phát triển xã hội, tức là tạo cơ hội như nhau cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ để họ có thể phát triển hài hoà, đúng hướng, đúng mục đích.

Những vấn đề về bình đẳng giới hiện nay

Bất bình đẳng giới về kinh tế

Tham gia các hoạt động sản xuất và hưởng thụ kết quả sản xuất kinh doanh trong xã hội có sự góp mặt của cả nam và nữ. Tuy nhiên thực tế cho thấy luôn luôn có bất bình đẳng về cơ hội có việc làm, về lợi thế của các loại hình nghề nghiệp lựa chọn được, về tiền lương, thu nhập và cơ hội thăng tiến giữa nam và nữ, gây nên hàng loạt bất bình đẳng khác cho xã hội. Thực tế cho thây: dư thừa lao động trong khu vực quốc doanh tác động mạnh đối với phụ nữ nhiều hơn nam giới; Sức ép về kéo dài ngày lao động và tăng sức lao động tiếp tục đè nặng lên đôi vai người phụ nữ; Sự khác biệt về lương, thu nhập và cơ hội về việc làm, về thăng tiến vẫn còn khá phổ biến. Đây là những vấn đề bức xúc về bình đẳng giới cần phải giải quyết hiện nay.

Khác biệt giới trong giáo dục, đào tạo

Trong vòng 25 năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều tiến bộ đáng ghi nhận về bình đẳng giới trong giáo dục. Theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến cuối năm 2005, có 96,87% số phụ nữ dưới 40 tuổi biết chữ, tỷ lệ lao động nữ được đào tạo đạt 20,45%. Trong tổng số lao động được đào tạo trên đại học, có 30,1% là nữ. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều vấn đề bất bình đẳng giới: Tỷ lệ trẻ em gái đi học tiểu học và trung học còn thấp, đặc biệt ở vùng nghèo và dân tộc. Số phụ nữ không biết chữ vẫn còn cao. Thậm chí, phụ nữ người dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn thiều người chưa biết tiếng phổ thông, nên nhận thức xã hội bị hạn chế, rất ít tham gia vào công tác xã hội.

Khác biệt về sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ

Tồn tại lớn nhất vẫn là nhận thức về bình đẳng giới và sự chỉ đạo của các cấp các ngành trong việc triển khai lồng ghép giới và các nhiệm vụ cụ thể trong chăm sóc sức khoẻ, như tỷ suất mẹ chết, sức khoẻ bà mẹ, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi và tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em giữa các vùng miền còn là những vấn đề bức súc. Tình trạng nạo phá thai còn khá phổ biến.

Khác biệt trong việc tham gia công tác xã hội và vai trò đối với việc ra quyết định quản lý KT-XH

Thời gian qua, với sự chỉ đạo của Chính phủ có sự tham mưu của Uỷ ban Quốc gia vì Sự tiến bộ của Phụ nữ và các Bộ, ngành liên quan, việc triển khai thực hiện Mục tiêu 4 của Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộ quan trọng. Bước đầu đã nâng cao được chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; đã tăng được số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành; tham gia lãnh đạo quản lý KT-XH của đất nước.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bức xúc, đặc biệt, vẫn tồn tại khác biệt lớn trong vai trò ra quyết định, tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ, một phần do chưa làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, công tác quy hoạch cán bộ nên tư duy về tăng cường vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý chưa đổi mới và thiếu sự chuẩn bị đội ngũ cán bộ kế cận.

Lồng ghép giới trong kế hoạch phát triển KT-XH

Hiện nay, chúng ta đã bước đầu hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương tiến hành lồng ghép giới vào kế hoạch. Tuy nhiên, thông qua các kế hoạch phát triển KT-XH của các địa phương và kế hoạch về phát triển ngành, lĩnh vực của các Bộ, ngành, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Nhiều mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, nhưng do thiếu thông tin, thiếu giải pháp và chưa có căn cứ để xây dựng chỉ tiêu làm thước đo cụ thể, nên rất khó đánh giá.

Giai đoạn 2006- 2010, xuất phát từ yêu cầu lồng ghép giới vào kế hoạch phải trở thành nề nếp; cán bộ ngành Kế hoạch ngoài việc quán triệt các yêu cầu về lồng ghép giới, có thể hiểu và hướng dẫn lồng ghép giới vào kế hoạch, bước đầu nghiên cứu và biên soạn cuốn sổ tay hướng dẫn lồng ghép giới với nguyên tắc các chỉ tiêu hướng dẫn phải thiết thực, dễ hiểu và dễ áp dụng. Đã lựa chọn 5 mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia Vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010 để kết hợp lồng ghép vào các kế hoạch phát triển KT-XH, xét trên cả 2 khía cạnh kinh tế và xã hội.

Về kinh tế, sẽ tập trung vào vấn đề việc làm của phụ nữ (trong các ngành kinh tế quốc dân, đặc biệt là nông nghiệp phát triển nông thôn và xoá đói giảm nghèo) và tiếp cận các dịch vụ tài chính.

Về xã hội, bao gồm các vấn đề như: (i) Phụ nữ với tiếp cận các dịch vụ giáo dục, đào tạo, học nghề để có nhiều cơ hội về việc làm với thu nhập đảm bảo cuộc sống và có cơ hội phát triển; (ii) Phụ nữ với tiếp cận các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ, cải thiện các chỉ số về sức khoẻ, tuổi thọ; điều kiện về các dịch vụ văn hoá thông tin; (iii) Phụ nữ với các vấn đề được Nhà nước và xã hội quan tâm, tạo cơ hội thăng tiến để có tiếng nói và tham gia công tác lãnh đạo, quản lý phát triển KT-XH của đất nước. Được tiếp cận ngày càng tốt hơn quyền sử dụng đất gắn với thực thi chính sách.

Trong Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001-2010, mà cụ thể là Kế hoạch Hành động vì sự tiến bộ phụ nữ (TBPN) giai đoạn 2006-2010 đã xác định cần triển khai thực hiện 5 mục tiêu cụ thể dưới đây:

Mục tiêu 1: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động, việc làm.

Mục tiêu 2: Thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục- đào tạo.

Mục tiêu 3: Cải thiện và nâng cao sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em.

Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và xã hội.

Mục tiêu 5: Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ

Các mục tiêu này phải được lồng ghép vào kế hoạch phát triển KT-XH, góp phần giảm sự chênh lệch về giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trong phát triển, đảm bảo thực hiện các cam kết của Chính phủ Việt Nam với thế giới về bình đẳng giới và xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

Lồng ghép giới trong các kế hoạch cụ thể

Về xây dựng kế hoạch lao động- việc làm có yếu tố giới:

Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2006-2010 đã xác định mục tiêu về lao động việc làm là: (1) Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn lao động, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm lao động nông lâm ngư nghiệp xuống còn 50% vào năm 2010, tăng lao động công nghiệp- xây dựng lên ít nhất 23-24% và tăng lao động thương mại- dịch vụ lên ít nhất 26-27%. (2) Trong 5 năm 2006-2010, phấn đấu giải quyết việc làm cho trên 8 triệu lao động, trong đó có 6 triệu chỗ việc làm mới, tức là bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho 1,6 triệu lao động (trong đó có khoảng 1,2 triệu việc làm mới). (3) Giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn dưới 5% số lao động trong độ tuổi.

Như vậy, lồng ghép giới ở đây là trong mục tiêu giải quyết việc làm cho trên 8 triệu lượt lao động trong 5 năm, cần xem xét và tìm cách đáp ứng nhu cầu về lao động việc làm của cả giới nam và nữ, trong đó là lựa chọn ưu tiên nhằm tạo điều kiện cho cả nam và nữ có cơ hội ngang về việc làm và thu nhập ổn định theo hướng tiến tới cơ cấu lao động của cả nam và nữ phù hợp, có lợi cho cả nam và nữ.

Về lồng ghép giới trong giáo dục- đào tạo

Bình đẳng giới trong giáo dục đào tạo trước hết là bình đẳng về cơ hội trong giáo dục- đào tạo, nhằm giúp cho nữ giới nói chung và nhóm phụ nữ yếu thế nói riêng (như các nhóm phụ nữ nghèo, dân tộc thiểu số, tàn tật…) có nhiều điều kiện hơn trong đào tạo các kiến thức chuyên môn, tự tin khi làm việc, qua đó có nhiều cơ hội để tham gia vào các ngành nghề tương đối ổn định và có ưu thế về thu nhập.

Cần chú ý đề ra những giải pháp khắc phục những yếu kém, những mặt chưa làm được về bình đẳng giới trong giáo dục- đào tạo như:

Thứ nhất, nâng cao dân trí, tiến tới dần xoá bỏ tình trạng không đồng đều về giáo dục đào tạo giữa các vùng, miền. Tiếp tục thực hiện công tác xoá mù chữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn có tỷ lệ dân số bị mù chữ cao, đặc biệt là phụ nữ và các em gái.

Thứ hai, có kế hoạch cụ thể về phối hợp hoạt động xoá mù chữ giữa các cơ quan chức năng, như Bộ Giáo dục- đào tạo, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên và chính quyền các cấp ở địa phương. Tạo điều kiện để phụ nữ có nhiều cơ hội hơn nữa trong sử dụng chữ viết phục vụ lao động sản xuất, chống tái mù chữ một cách thiết thực.

Thứ ba, định kiến giới còn tồn tại trong xã hội và bản thân chị em. Nhiều chị em tự tin, ngại đi học, ngại vươn lên. Do đó, rất cần có các biện pháp phù hợp về thông tin, tuyên truyền, vận động chị em hiểu rằng học được chữ chính là để giúp mình có thể vươn lên thoát khỏi nghèo đói và vững vàng trong cuộc sống.

Thứ tư, thu hẹp khoảng cách giữa 2 giới ở cấp trung học cơ sở. Còn tình trạng bỏ học nhiều của trẻ em gái bậc tiểu học; tỷ lệ chuyển cấp từ tiểu học lên trung học cơ sở của học sinh nữ thấp hơn học sinh nam… là những vấn đề phải có hướng giải quyết cụ thể trong kế hoạch phát triển KT-XH của các địa phương.

Thứ năm, các cơ quan quản lý Nhà nước về giáo dục- đào tạo và quản lý sản xuất kinh doanh cần phối hợp chặt chẽ trong xây dựng chính sách đào tạo có gắn yếu tố giới, cần triển khai ngay việc lồng ghép giới vào biên soạn nội dung sách giáo khoa.

Lồng ghép giới trong xây dựng kế hoạch phát triển y tế – chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Hiện nay, các chỉ tiêu về sức khoẻ dân cư được quốc tế dùng để tính toán chỉ số phát triển con người, đặc biệt là các chỉ tiêu phản ánh tình trạng sức khoẻ phụ nữ và trẻ em và được xếp vào các chỉ tiêu phản ánh mức độ, trình độ phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Với nhận thức đó, trong giai đoạn 2006-2010, việc lồng ghép các chỉ tiêu của mục tiêu cải thiện và nâng cao sức khoẻ bà mẹ và trẻ em trong Chiến lược quốc gia vì TBPN vào kế hoạch phát triển y tế Việt Nam cần được đẩy mạnh một cách có hiệu quả, góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đề ra.

Nâng cao quyền năng của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và xã hội.

Việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và em gái đang dừng lại ở mức độ rất chung, chưa phản ánh sự nỗ lực của cấp chính quyền đối với việc thực hiện chỉ tiêu này. Do vậy, còn nhiều phụ nữ, trẻ em gái là nạn nhân của bạo hành phụ nữ trong gia đình, xã hội, là nạn nhân của các vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em, các vụ xâm hại tình dục…

Giai đoạn 2006-2010, cần chỉ đạo thực hiện những công việc sau: Quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý nữ, lãnh đạo nữ; Hoàn thiện hệ thống chính sách đối với cán bộ nữ; Thực hiện lồng ghép giới trong chính sách phát triển nguồn nhân lực, tổ chức cán bộ và nền hành chính công; Đào tạo đội ngũ cán bộ nữ; Tăng cường năng lực của phụ nữ trong tiếp cận và sử dụng các công cụ pháp lý; Nâng cao năng lực quản lý nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em gái.

Tăng cường năng lực và hiệu quả hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ

Để giúp cho các hoạt động vì sự TBPN đạt hiệu quả, cần thiết phải có bộ máy đủ hiệu lực, có thể chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc lồng ghép giới từ trung ương xuống tận cơ sở.

Công tác xây dựng Luật và chế độ chính sách về bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng của Uỷ ban quốc gia (UBQG) trong toàn hệ thống pháp luật theo hướng trách nhiệm giới. Đi đôi hoạt động trên, việc kiểm tra công tác TBPN trở thành nhiệm vụ thường xuyên của UBQG vì sự TBPN với sự tham gia của các Bộ, ngành có lãnh đạo là thành viên trong UBQG đã tạo điều kiện để công tác TBPN ngày càng đi vào chiều sâu, chất lượng và hiệu quả theo hướng trách nhiệm giới. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định của pháp luật, của chế độ chính sách so với những gì diễn ra trên thực tế vẫn còn rất xa, làm hạn chế khả năng thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới, thể hiện ở tất cả các lĩnh vực việc làm, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và nâng cao quyền năng của phụ nữ trong mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội, đòi hỏi phải có những đổi mới thực sự trong tổ chức bộ máy các Ban TBPN, nâng cao năng lực chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thực hiện công tác TBPN lồng ghép trong các hoạt động phát triển KT-XH, sao cho công tác TBPN trở thành bộ phận gắn bó hữu cơ, không thể thiếu được của các bộ, ngành, các cấp chính quyền và toàn xã hội./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 5 (421) THÁNG 3 NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: