Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

SỰ LỰA CHỌN CHO TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

HUỆ NGUYỄN

Mới đây, các chuyên gia kinh tế của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) đã đưa ra một báo cáo về phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, trong đó gợi ý hai mô hình tăng trưởng của Đông Nam á và Đông á. Sau một loạt các thành tích kinh tế mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua, báo cáo này là nhận định tỉnh táo và tổng quát về hiện trạng cũng như hướng đi của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới. Tạp chí Kinh tế và Dự báo xin trích đăng một số nội dung chính của báo cáo để bạn đọc tham khảo.

1. Đánh giá chung:

Sau hơn 20 năm đổi mới với thành tích tăng trưởng kinh tế cao, nhiều người dân Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Việt Nam ngày càng được nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trên trường quốc tế. Tuy nhiên, thành công trong quá khứ không phải là một sự đảm bảo vững chắc cho tương lai. Mục tiêu phát triển của Việt Nam đầy tham vọng: Trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Thế nhưng, nếu những xu thế như hiện nay vẫn được tiếp tục thì có lẽ Việt Nam sẽ không thể đạt được những mục tiêu này. Để lý giải cho điều này, báo cáo của Harvard đưa ra kết quả đánh giá về Việt Nam trên 6 phương diện chính sách then chốt sau:

Thứ nhất, về giáo dục

Hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện đang khủng hoảng. Mặc dù tỷ lệ đi học ở các cấp phổ thông tương đối cao, nhưng chất lượng của các bậc học này rất đáng lo ngại. Kết quả trượt tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2007 cho thấy nhiều học sinh thậm chí còn không nắm được kiến thức cơ bản. Không những thế, chất lượng đào tạo ở các trường đại học của Việt Nam chưa đạt chuẩn. Trên thực tế, trường đại học của Việt Nam thua xa khi so với ngay các trường của các nước Đông Nam á – vốn chưa phải là những trường đẳng cấp quốc tế. Nếu nhìn vào sản phẩm đào tạo thì khoảng phân nửa sinh viên ra trường ở Việt Nam không được làm đúng ngành đào tạo.

Những kết quả đáng buồn trên không phải do hệ thống giáo dục hiện nay thiếu tiền. Trên thực tế, tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong GDP của Việt Nam hầu hết cao hơn các nước trong khu vực. Vấn đề thực sự nằm ở chỗ nguồn lực này được sử dụng như thế nào, và đặc biệt nằm ở cấu trúc quản trị xơ cứng và bất cập ở mọi cấp độ của hệ thống giáo dục.

Để cải thiện chất lượng giáo dục đại học và khoa học, các trường đại học của Việt Nam phải tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất với những ưu đãi hấp dẫn nhất để thu hút được những nhà khoa học hàng đầu. Chính phủ Trung Quốc đã khuyến khích các trường đại học của mình xâm nhập thị trường chất xám toàn cầu, và các trường này đang ngày càng thành công trong việc mời được những nhà khoa học Trung Quốc xuất sắc nhất từ Mỹ và các nước khác trở về với mức đãi ngộ và hỗ trợ nghiên cứu cạnh tranh. Trái lại, Việt Nam chưa sẵn sàng chấp nhận tham gia “cuộc chơi” săn lùng chất xám này. Trên thực tế, những người xuất sắc nhất trong hệ thống của Việt Nam vẫn phải chịu một sự ghen tỵ nếu như họ có được một chút đãi ngộ hơn những người khác. Thị trường chất xám là một thị trường toàn cầu, và những nhà khoa học xuất sắc nhất của Việt Nam có rất nhiều lựa chọn trong thị trường này. Chắc chắn là chỉ có một số rất ít nhà khoa học xuất sắc chịu chấp nhận các điều kiện làm việc ở các trường đại học của Việt Nam như hiện nay. Lòng yêu nước của mỗi nhà khoa học đều có, nhưng họ cũng cần cả những sự đãi ngộ và tôn trọng xứng đáng nữa.

Thứ hai, về cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

Các nền kinh tế mạnh ở Đông á đều hiểu rằng chìa khóa cho sự tồn tại của họ là đèn luôn luôn sáng và xe luôn luôn chạy. Thế nhưng ở Việt Nam, mất điện và tắc đường là chuyện thường xuyên xảy ra. Đây chính là trở ngại thứ hai cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam.

Chính sách năng lượng của Việt Nam đã sai lầm khi đầu tư quá nhiều vào thủy điện, khiến tình trạng thiếu điện ngày càng trở nên trầm trọng trong mùa khô. Tình trạng này đã được dự báo từ trước nhưng lại bị xem thường, chứng tỏ việc thiếu một tầm nhìn chiến lược hay do sự tác động của nhóm lợi ích đặc biệt. Càng ngày càng có thể thấy rõ là Tổng công ty điện lực Việt Nam (EVN) đã nhầm lẫn trong việc xác định ưu tiên của mình. Bên cạnh việc đầu tư quá mức vào thủy điện thì việc EVN bành trướng hoạt động sang lĩnh vực viễn thông, dịch vụ tài chính, bất động sản không những không giúp thực hiện nhiệm vụ cơ bản của họ là “giữ vai trò chính trong việc đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội”, mà trái lại còn làm phân tán nguồn nhân lực và tài lực có hạn của mình.

Đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều khi bị phung phí hoặc là đối tượng của tham nhũng. Những dự án phát triển hạ tầng tốn kém và lãng phí thường dẫn tới việc cung ứng dịch vụ kém hiệu quả với giá thành cao. Theo Ngân hàng Thế giới, chi phí để xuất một container 20 ft từ Việt Nam, bao gồm chi phí cho các thủ tục giấy tờ, chi phí hành chính, xếp dỡ và vận chuyển nội địa là 701 USD. Trong khi đó chi phí này ở Trung Quốc chỉ là 335 USD, và ở Singapore là 382USD.

Một thách thức có liên quan là đô thị hóa, đặc biệt là thách thức về nhà ở và giao thông. Giá đất ở các đô thị và sắp trở thành đô thị của Việt Nam tương đương với mức giá ở những khu vực tương tự ở Nhật Bản, một quần đảo đông dân với thu nhập trung bình cao hơn Việt Nam tới 50 lần. Giá đất cao một cách phi lý không chỉ dừng lại ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh mà đã lan rộng ra các tỉnh xung quanh. ở một số tỉnh, hàng ngàn héc ta đất đã bị chuyển thành đất của khu công nghiệp mà trên thực tế gần như còn trống trơn, chưa có hoạt động gì. Trong khi đó, một bộ phận nông dân đang phải đối đầu với cảnh mất đất, trong khi nghèo vẫn hoàn nghèo vì họ không biết làm gì sau khi mất đất. Cần nhanh chóng có những chính sách đất đai hợp lý vì hiện nay quá trình đô thị hóa đang diễn ra rất nhanh, đẩy thành phố vào tình trạng gần như không quản lý nổi về nhiều mặt.

Thứ ba, các công ty có tính cạnh tranh quốc tế

Các Tổng công ty 90 và 91 của Việt Nam được thành lập theo mô hình tham khảo từ các keiretsu của Nhật Bản (như Mitsubishi, Mitsui,…), và chaebol của Hàn Quốc (như Samsung, Daewoo,…). Điều khác biệt quan trọng nhất giữa mô hình Tổng công ty của Việt Nam với mô hình chaebol của Hàn Quốc là, tất cả các chaebol đều buộc phải trở nên có tính cạnh tranh quốc tế trong vòng một vài năm rồi sau đó phải xuất khẩu được một tỷ lệ nhất định sản lượng của mình. Mặc dù các chaebol được nhà nước trợ cấp rất nhiều trong thời kỳ đầu, nhưng những khoản trợ cấp này sẽ giảm dần và biến mất hoàn toàn trong những năm sau đó. Ngược lại, các Tổng công ty của Việt Nam được xây dựng để thay thế hàng nhập khẩu, và do vậy luôn nhận được sự bảo hộ và trợ giúp của Chính phủ, ngay cả khi bị thua lỗ và không thể xuất khẩu.

Trong mấy năm trở lại đây, Chính phủ ngày càng nhận thức rõ sự thất bại của các Tổng công ty nên đi đến kết luận phải cải cách những Tổng công ty này thành 18 Tập đoàn Nhà nước và một Tổng Công ty kinh doanh và Đầu tư vốn nhà nước. Tuy nhiên có nhiều lý do để nghi ngờ rằng các Tập đoàn nhà nước này sẽ không thể tự chuyển hóa mình để trở thành những doanh nghiệp cạnh tranh quốc tế bởi cấu trúc của các tập đoàn này rất giống với các Tổng công ty trước đây. Chính sách hình thành nên các Tập đoàn nhà nước về thực chất là một sự kết hợp giữa cơ chế phòng thủ và mục tiêu tiếp tục duy trì kiểm soát của Nhà nước trong lĩnh vực công nghiệp.

Có vẻ như nền kinh tế Việt Nam ngày càng bị thống trị bởi các Tập đoàn kinh tế nhà nước. Trong khi chính sách của Đảng và chủ trương của Nhà nước khẳng định rằng những tập đoàn nhà nước phải tập trung vào những ngành chiến lược thì những tập đoàn này hiện đang mở rộng một cách nhanh chóng và đầy tham vọng sang những lĩnh vực khác nhau như bất động sản, tài chính, ngân hàng, lữ hành và cả phân phối điện thoại di động nữa. Một cuộc điều tra 200 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam mới đây do Chương trình của Liên Hợp quốc về phát triển (UNDP) thực hiện khẳng định rằng nhiều công ty trong “Top 200” của Việt Nam đang đầu cơ đất đai và chứng khoán mà thiếu tập trung vào họat động kinh doanh của mình.

Thứ tư, hệ thống tài chính

Lạm phát giờ đây đã trở thành mối lo ngại của cả người dân lẫn Chính phủ, một phần là do mức lạm phát thực tế cao hơn nhiều so với số liệu công bố. Chi tiêu trong nước đã tăng mạnh khi giá trị xuất khẩu dầu lửa tăng cao ngất, các khoản viện trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vay nợ và kiều hối vẫn tiếp tục ùn ùn đổ vào Việt Nam. Sự lúng túng của Chính phủ trong việc đối phó với lạm phát thời gian qua chứng tỏ các nhà điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam chưa sẵn sàng, hoặc chưa được giao những công cụ chính sách và kỹ thuật cần thiết. Mặc dù Việt Nam có những nhà kinh tế học được đào tạo bài bản ở trình độ cao, nhưng sự thiếu vắng môi trường thảo luận, phân tích chính sách, sự chậm chạp của nhiều viện nghiên cứu và trường đại học trong việc đáp ứng nhu cầu của hoạt động ra chính sách là những trở ngại thực sự cho nỗ lực sử dụng năng lực có tính kỹ thuật để hoạch định chính sách. Kết quả là nhu cầu cần phải có những chính sách tinh vi để điều hành nền kinh tế nay đã trở nên phức tạp hơn trước rất nhiều và năng lực thật sự của các nhà hoạch định chính sách ngày càng bị nới lỏng.

Báo cáo đưa ra 4 kết luận phân tích về tình hình tài chính của Việt Nam thời gian qua như sau:

Một là, mặc dù thị trường chứng khoán phát triển rất nhanh trong thời gian qua nhưng hệ thống tài chính của Việt Nam vẫn chịu chi phối bởi các ngân hàng thương mại không được kiểm soát một cách hiệu quả với lượng nợ xấu khá lớn.

Hai là, đầu tư quá mức (gần 40% GDP) và hệ số ICOR 4,4 là rất cao so với các nước khác trong khu vực ở những giai đoạn phát triển tương đương như Việt Nam bây giờ.

Ba là, một lượng tiền lớn có nguồn gốc tham nhũng, rửa tiền và đầu tư nước ngoài đang đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, tạo nên bong bóng tài sản.

Bốn là, thâm hụt thương mại tăng nhanh và tỷ giá dao động bất thường là những dấu hiệu của những rủi ro tiềm ẩn.

Tất cả những rủi ro trên chưa dẫn đến một cuộc khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, nó cũng từng là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng năm 1997 đang xuất hiện tại Việt Nam.

Thứ năm, hiệu năng của Nhà nước

Các quốc gia Đông á có một tầm nhìn chiến lược dài hạn và ý chí chính trị để có thể dự báo trước và phản ứng lại với các thách thức phát triển trước khi mọi sự trở nên quá muộn. Các nước này cũng ứng xử khá tốt trước những cuộc khủng hoảng bất ngờ. Tuy nhiên Việt Nam lại thất bại nhiều lần trong việc đưa ra những phản ứng chính sách thích hợp ngay cả đối với những vấn đề đã được dự báo từ trước. Việc phụ thuộc vào thủy điện như đã nêu ở trên là một ví dụ. Ngập lụt tràn lan ở thành phố Hồ Chí Minh trong mùa mưa cũng là một nguy cơ được báo trước nhưng cũng không được chính quyền giải quyết thỏa đáng.

Kinh nghiệm của những nhà nước thành công cung cấp cho Việt Nam một số gợi ý quan trọng trong nỗ lực cải cách hệ thống hành chính nhà nước. Mặc dù việc tổ chức lại các cơ quan hành chính, như giảm số Bộ hay thực hiện cơ chế “một cửa một dấu”, có thể có hiệu quả ở một chừng mực nào đó, nhưng suy cho cùng, hiệu quả thực sự chỉ có thể đạt được nếu như Nhà nước chủ động giới hạn phạm vi chức năng của mình để có thể tập trung vào một số lĩnh vực then chốt mà chỉ Nhà nước mới có thể thực hiện được.

Thứ sáu, công bằng

Về phương diện con người, Việt Nam đã đạt được những thành công vô cùng ấn tượng trong hai thập kỷ trở lại đây. Nếu căn cứ vào các chỉ số phát triển chủ yếu thì Việt Nam thậm chí còn vượt lên trên nhiều nước giàu có hơn. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn cần và có thể cải thiện thêm nhiều. Trong mấy năm gần đây, người dân ngày càng phải tự gánh chịu một tỷ lệ chi phí y tế cao hơn. Hệ thống y tế ở tuyến xã và huyện nhìn chung yếu kém. Nhiều gia đình ở nông thôn đã phải bán đến mảnh ruộng cuối cùng để trang trải chi phí y tế cao với hy vọng cứu được người thân của mình. Cung cấp mạng lưới an sinh xã hội cho người nghèo và dễ bị tổn thương là điều kiện cần thiết để đảm bảo mọi người dân được chia sẻ thành quả của phát triển, đồng thời cũng giúp cho sự phát triển được trở nên hài hòa hơn.

2. Đề xuất

Một là, chính sách về giáo dục

Cần công khai các ngân sách nhà nước dành cho giáo dục. Bởi lẽ, cuộc khủng hoảng hiện nay trong giáo dục không phải là hậu quả của việc thiếu đầu tư, mà một phần là do sự lãng phí và kém hiệu quả trong chi tiêu giáo dục. Tăng cường tính minh bạch là một bước thiết yếu đầu tiên để cải thiện hệ thống giáo dục. Một mặt, nó sẽ giúp phụ huynh học sinh và báo chí có những hiểu biết đầy đủ hơn về cách thức phân bổ ngân sách giáo dục và họ có thể dễ dàng thực hiện chức năng giám sát một cách hiệu quả hơn. Mặt khác, sự minh bạch sẽ giúp Chính phủ thành công hơn trong việc huy động nguồn tài trợ từ khu vực tư nhân và thiện nguyện vì khi ấy các nhà tài trợ sẽ có cơ sở để tin rằng đồng tiền đóng góp của mình được sử dụng một cách hiệu quả.

Thực hiện một cuộc cách mạng trong giáo dục đại học. Tình trạng khủng hoảng trong giáo dục đại học là một trở ngại cơ bản cho sự tiếp tục phát triển của Việt Nam, và vì vậy, những trở ngại này cần phải được giải quyết một cách mạnh mẽ, càng sớm càng tốt. Thực tế là Chính phủ Việt Nam cũng đã kêu gọi một cuộc “cải cách toàn diện” đối với hệ thống giáo dục đại học, trong đó bao gồm những cải cách then chốt cần thiết để thổi một luồng sinh khí mới vào hệ thống. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện đang quá chậm chạp. Nếu tốc độ cải cách giáo dục vẫn chậm chạp như hiện nay thì ngay cả việc đuổi kịp các nước Đông Nam á cũng đã là một cái đích xa vời, còn nói gì đến việc đuổi kịp các nước Đông Á

.Hai là, chính sách về cơ sở hạ tầng và đô thị hóa

Để đảm bảo tình trạng thiếu điện không ngày một xấu đi, Việt Nam cần thực hiện ngay một số hành động. Thứ nhất, tăng đầu tư cho các nguồn năng lượng ngoài thủy điện và cải thiện hệ thống phân phối. Yêu cầu EVN chấm dứt việc đầu tư nguồn nhân lực và tài lực khan hiếm của mình vào các hoạt động có tính đầu cơ, không nằm trong nhiệm vụ kinh doanh chính như viễn thông, và bất động sản.Thứ hai, khuyến khích đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng một môi trường điều tiết minh bạch và hiệu quả hơn để tạo động cơ và sự an tâm cho các nhà đầu tư tư nhân.

Việt Nam đang lãng phí rất nhiều tiền của vào các hạng mục đầu tư kém hiệu quả. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do quá trình ra quyết định đầu tư công không được đánh giá một cách thực sự khách quan. Hệ quả là các nhà lãnh đạo quốc gia không thể hoàn toàn tin tưởng vào tính chính xác của các lý do biện hộ cho các dự án đầu tư. Vì vậy, Chính phủ cần thành lập Hội đồng thẩm định đầu tư công độc lập, có nhiệm vụ đánh giá, thẩm định một cách toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt qúa một ngưỡng nhất định nào đó. Kết luận của Hội đồng thẩm định này sau đó cần được công bố một cách công khai.

Áp dụng thuế bất động sản cũng là một giải pháp giúp Nhà nước đối phó với tình hình đất đai hiện nay. Mức thuế suất nên được ấn định ở một tỷ lệ vừa phải, không thấp quá để có tác dụng ngăn chặn hành vi đầu cơ và khuyến khích chủ sở hữu bất động sản sử dụng chúng vào mục đích sản xuất và sinh lợi. Tuy nhiên mức thuế này cũng không nên cao quá khiến những người đóng thuế tìm cách tránh và trốn thuế bằng nhiều hình thức.

Thêm nữa, cần phải minh bạch hóa các quy định về đất đai. Hiện nay, thị trường bất động sản của Việt Nam bị coi là một trong những thị trường kém minh bạch nhất thế giới. Báo chí đã đưa tin về nhiều trường hợp trong đó nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng mối quan hệ của mình với chính quyền địa phương để chiếm được những mảnh đất có thị trường rất cao với một mức giá rất thấp.

Ba là, chính sách về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Các chuyên gia kinh tế Harvard khuyến nghị 3 giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Thứ nhất, giải tán các Tổng công ty và thận trọng với các Tập đoàn.Các Tổng công ty được thành lập để khai thác lợi thế kinh tế theo quy mô và để nâng cao năng lực cạnh tranh. Thế nhưng cho đến nay, mặc dù cả hai mục tiêu này đều không đạt được nhưng các Tổng công ty vẫn tồn tại như một tập hợp lỏng lẻo các doanh nghiệp thành viên quy mô nhỏ với công nghệ lạc hậu và hướng nội. Những cải cách thực sự chỉ có thể xảy ra khi những doanh nghiệp này được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp thực thụ, hoạt động dưới áp lực của cạnh tranh, khi mua bán – sáp nhập công ty được thực hiện trên cơ sở thương mại và khi tồn tại cơ chế đào thải một cách dứt khoát các doanh nghiệp không có năng lực cạnh tranh.

Thứ hai, hỗ trợ cho khu vực dân doanh. Mặc dù Chính phủ Việt Nam luôn tuyên bố cam kết hỗ trợ khu vực dân doanh, nhưng trên thực tế khu vực nhà nước vẫn tiếp tục nhận được ưu ái, bao gồm khả năng tiếp cận đất đai và vốn trong khi khu vực dân doanh phải chịu sự nhũng nhiễu của quan chức và đối xử bất công của hệ thống chính quyền, đặc biệt của hải quan và thuế vụ. Chính phủ Việt Nam cần loại bỏ sự bất bình đẳng này bằng cách đảm bảo rằng nguồn lực sẽ được phân bổ cho những ai có khả năng sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất.

Thứ ba, thành lập hệ thống sáng tạo quốc gia. Công viên công nghệ cao và các trường đại học nghiên cứu là các cấu phần của hệ thống sáng tạo quốc gia, nhưng tự thân chúng thì vẫn chưa đủ. Việt Nam cần nhanh chóng thành lập Hội đồng sáng tạo quốc gia bao gồm các quan chức Chính phủ, các doanh nhân xuất sắc, và các học giả trong và ngoài nước để xây dựng một kế hoạch sáng tạo quốc gia và sau đó tổ chực thực hiện kế hoạch này.

Bốn là, chính sách về hệ thống tài chính

Một trong những vấn đề tài chính nổi bật trong thời gian qua tại Việt Nam là lạm phát đã trở thành mối lo ngại của cả người dân lẫn Chính phủ. Lạm phát không chỉ là một thách thức về kinh tế, mà nó còn là một thách thức về chính trị. Nếu tình trạng lạm phát vẫn tiếp diễn hoặc trở nên xấu đi thì chắc chắn sự bất mãn của người dân sẽ dâng cao đến độ gây bất lợi cho hoạt động điều hành và uy tín của Chính phủ. Do vậy, để đảm bảo một hệ thống tài chính đủ mạnh thì cần phải giảm lạm phát.

Biến Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thành một ngân hàng Trung ương thực thụ. Đây là lời khuyên thứ hai mà các nhà chuyên gia gợi ý cho Việt Nam. Thực tế, cải cách khu vực ngân hàng ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, những thành tưụ này sẽ không thể bền vững khi thiếu một ngân hàng trung ương thực thụ, có thẩm quyền và khả năng điều tiết, giám sát hệ thống ngân hàng, đồng thời điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phức tạp và tinh vi như hiện nay. Điều này chỉ có thể trở thành hiện thực khi Ngân hàng trung ương phải được độc lập trên các phương diện cơ bản, bao gồm độc lập về mặt tài chính, nhân sự, công cụ và mục tiêu.

Năm là, chính sách để nâng cao hiệu lực của Nhà nước

Để đạt được những mục tiêu phát triển đầy tham vọng của mình, nền kinh tế Việt Nam phải có khả năng tiếp tục tăng trưởng cao và công bằng trong vài thập kỷ tới. Và hiển nhiên, vai trò của Nhà nước là vô cùng to lớn. Theo các chuyên gia kinh tế của Đại học Harvard, hiệu lực của Nhà nước sẽ tốt hơn nếu chúng ta thực hiện một số chính sách sau:

Loại bỏ những chính sách hoang đường. Các quyết định chính sách ở các nước Đông Á thường ra đời trên cơ sở hiểu biết và phân tích kỹ lưỡng thực trạng vấn đề. Ngược lại, thực tế cho thấy các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam hay đưa ra những chính sách có tính “hoang đường”, được hiểu là những chính sách tồn tại trên giấy tờ nhưng hầu như lại không có tác dụng gì trên thực tế. Chính sách cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho tất cả trẻ em dưới 6 tuổi là một ví dụ. Mặc dù về mặt lý thuyết, đây là một chính sách đáng trân trọng, nhưng trên thực tế, Nhà nước không thể đủ tiền để tài trợ cho chính sách này. Kết quả là các bậc phụ huynh vẫn tiếp tục phải trả các khoản phụ phí ở phòng khám hay bệnh viện nếu họ muốn con em mình được khám chữa bệnh một cách đầy đủ và kịp thời.

Nâng cao năng lực kỹ trị. Chính phủ cần xây dựng một đội ngũ các nhà phân tích và hoạch định chính sách tinh hoa bằng cách từ bỏ hệ thống nhân sự hiện nay để chuyển sang chế độ trọng dụng hiền tài.

Khuyến khích nhu cầu phân tích và thảo luận có tính phê phán trong nội bộ Chính phủ. Các nhà lãnh đạo của Việt Nam không thể đưa ra những quyết định chính sách đúng đắn trừ phi họ được cung cấp những phân tích khách quan và toàn diện về tình hình cũng như những giải pháp lựa chọn. Những phân tích này phần lớn nổi lên từ những cuộc thảo luận có tính phê phán trên tinh thần xây dựng. Vì vậy, Chính phủ cần tích cực khuyến khích những tiếng nói phản biện và phê phán có tính xây dựng, đồng thời chấp nhận những ý kiến khác biệt.

Đẩy mạnh giám sát từ bên ngoài. Chính phủ chỉ có thể hiện thực hóa mục tiêu tăng cường tính chịu trách nhiệm bên trong hệ thống và đấu tranh chống tham nhũng nếu như báo chí có một không gian rộng lớn hơn để có thể tham gia vào các phân tích khách quan đối với các chính sách và công chức của Chính phủ.

Tăng cường tính chịu trách nhiệm của các nhà tài trợ. Các đối tác phát triển quốc tế của Việt Nam cần được khuyến khích để đóng một vai trò có tính xây dựng hơn trong các thảo luận chính sách. Với tư cách là nhà tài trợ đa phương lớn nhất, Ngân hàng Thế giới có một trách nhiệm đặc biệt trong việc chấm dứt hành vi tiếp tay hay biện hộ cho những chính sách hoang đường.

Theo đuổi định hướng cải cách mạnh mẽ trong chiến lược 10 năm 2011-2020. Chính phủ Việt Nam đang soạn thảo chiến lược kinh tế – xã hội 10 năm cho giai đoạn 2010-2020. Để thành công, chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn này phải tập trung cao độ để đi theo con đường phát triển của các nước Đông á. Khi thực hiện những chính sách cần thiết để duy trì tăng trưởng và đạt được một mức độ công bằng chấp nhận được, Chính phủ Việt Nam sẽ có thể bẻ lái nền kinh tế đi theo hướng của các nước Đông Á, đồng thời tránh khỏi cạm bẫy của các nước Đông Nam Á.

Sáu là, chính sách để đảm bảo công bằng

Suy đến cùng thì mục tiêu của mọi chính sách phát triển là nhằm kiến tạo một xã hội công bằng và thịnh vượng. Nếu Việt Nam muốn duy trì ổn định xã hội trong 5-10 năm tới thì một điều chắc chắn là Việt Nam sẽ phải nỗ lực hết sức để đảm bảo rằng 30% dân cư nghèo nhất nước được chia sẻ thành quả của sự phát triển bằng cách quan tâm tới ba lĩnh vực trọng yếu: giáo dục, y tế và lưới an sinh xã hội.

Cải thiện chất lượng giáo dục là giải pháp đầu tiên để đảm bảo một sự công bằng hơn cho xã hội. Thất bại của giáo dục đại học trên thực tế được giải quyết bằng cách các gia đình khá giả tự thân vận động để đưa con em mình ra nước ngoài du học. Thế nhưng đây không thể là giải pháp cho một đất nước với gần 90 triệu dân. Để đảm bảo công bằng về cơ hội học tập và phát triển cho mọi người, hệ thống giáo dục trong nước phải được cải thiện một cách cơ bản. Với cấu trúc dân số như hiện nay, lượng học sinh đến tuổi đi học ở các cấp trong thời gian tới sẽ tương đối ổn định, và do đó hệ thống giáo dục có cơ hội để tăng cường chất lượng mà không phải chịu sức ép quá tải. Điều này sẽ tạo cơ hội cho con em của những gia đình bình thường cạnh tranh với những gia đình khá giả hơn.

Thứ hai, cần cải thiện chất lượng y tế. Tỷ lệ tự trang trải chi phí y tế của người Việt Nam cao hơn so với người dân ở các nước trong khu vực. Chi phí y tế và không có thu nhập khi gia đình có người ốm là nguyên nhân quan trọng nhất đẩy các hộ ở mức cận nghèo xuống dưới ngưỡng nghèo. Nhà nước phải dành ưu tiên cao nhất cho việc cung cấp đủ y, bác sĩ, các thiết bị y tế và nguồn tài chính cần thiết cho các trung tâm y tế ở cấp cơ sở.

Thứ ba, cải thiện khả năng sở hữu nhà cho người dân ở thành thị.Nhà nước cần nhanh chóng có giải pháp cho tình trạng giá nhà đất cao một cách phi lý ở các đô thị. Giá nhà đất qúa sức chịu đựng sẽ khiến dân di cư đổ dồn về các khu nhà ổ chuột, chấp nhận chịu cảnh lụt lội, mất vệ sinh, ô nhiễm và kém an ninh. Điều này tất yếu dẫn đến gia tăng sự bất mãn về mặt tinh thần và bệnh tật.

Tiếp tục nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn cũng là một khía cạnh cần được chú ý để đảm bảo công bằng. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ co giãn của cầu lao động trong nông nghiệp tương quan với số lượng và chất lượng của hệ thống thủy lợi. Thế nhưng hệ thống thủy lợi của Việt Nam lại đang xuống cấp do hoạt động sửa chữa và bảo dưỡng không được đầu tư đúng mức. Trong khi quy mô canh tác cần được mở rộng khi người nông dân tiếp tục chuyển sang khu vực phi nông nghiệp thì sức sống của kinh tế nông thôn sẽ phụ thuộc vào sự phát triển của mạng lưới giao thông và dịch vụ. Trong thời gian tới, nông thôn vẫn tiếp tục là nơi sinh sống của đại bộ phận người dân Việt Nam, và vì vậy cần được đầu tư thích đáng về cơ sở hạ tầng để người nông dân có thể tăng được năng suất và giá trị cho các sản phẩm nông nghiệp.

Cuối cùng, trợ cấp cho hoạt động đào tạo nghề. Khi công nhân mất việc không phải vì lỗi của họ mà vì sự biến động của nhu cầu thị trường thì cơ hội được đào tạo lại sẽ giúp họ giảm thời gian và chi phí cải thiện tay nghề, tăng cường kỹ năng, thậm chí chuyển sang công việc mới hiệu quả hơn. Chính sách này cũng đóng vai trò như một tấm lưới an sinh, giúp người công nhân giảm bớt chi phí do thất nghiệp./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 5 (421) THÁNG 3/2008 VÀ SỐ 6 (422) THÁNG 3 NĂM 2008

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: