TIẾP TỤC ĐẨY NHANH, MẠNH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

PGS.TS. NGUYỄN THỊ DOAN*

Sau chiến tranh thế giới thứ II, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở hầu hết các nước trên thế giới phát triển rất nhanh chóng và chiếm tỷ trọng áp đảo trong nền kinh tế mỗi quốc gia. Nhưng đến những năm cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, khu vực DNNN ở hầu hết các quốc gia đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém, nhất là về hiệu quả kinh tế. Khu vực DNNN nắm đại bộ phận tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn và công nghệ của toàn xã hội, song sức sinh lợi của đồng vốn bỏ ra luôn thấp hơn so với khu vực kinh tế khác. Trong khi đó, nhà nước lại phải chi những khoản lớn cho khu vực DNNN.

Vì vậy, chính phủ nhiều nước đã tiến hành cải cách và cơ cấu lại khu vực DNNN làm cho nó năng động và hoạt động hiệu quả hơn. Nhưng mỗi quốc gia có bước đi và mức độ thực hiện khác nhau. Chẳng hạn, như chính phủ các nước Anh và Pháp đã tiến hành tư nhân hóa đồng loạt khu vực DNNN thông qua hình thức bán DNNN cho tư nhân và cho phá sản. Cùng với quá trình tư nhân hóa thì chính phủ Tây Ban Nha lại áp dụng cả các biện pháp sáp nhập và giải thể các DNNN. Vào những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90, khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, thì quá trình tư nhân hóa hàng loạt DNNN cũng đã diễn ra tại các nước này. Trên thực tế, quá trình ấy chưa hẳn đã đem lại hiệu quả cao, mà ngược lại, những cú "sốc" đối với người lao động và nền kinh tế đã gây hậu quả khá nặng nề về mặt xã hội.

Đối với nước ta, trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đa dạng hóa sở hữu thông qua chuyển đổi sở hữu DNNN mà trọng tâm là cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN cũng được xác định là một chủ trương lớn đã thể hiện trong các nghị quyết của Đảng và Quốc hội. Song chúng ta có cách làm riêng, từng bước ổn định và vững chắc ; đồng thời, giải quyết thỏa đáng quyền lợi cho người lao động. Điều này nói lên bản chất ưu việt của chế độ ta, cổ phần hóa nhưng không làm tăng thêm số người thất nghiệp.

Có thể khái quát quá trình cổ phần hóa DNNN ở nước ta như sau : giai đoạn 1992 – 1995, là thời kỳ thực hiện thí điểm theo Quyết định 202/HĐBT (1992) của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về thí điểm chuyển một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần ; giai đoạn 1996 – 1998, là thời kỳ thực hiện Nghị định 28/CP (1996) về cổ phần hóa DNNN ; giai đoạn 1999 đến nay, là thời kỳ thực hiện Nghị định 44/1998 NĐ-CP về cổ phần hóa DNNN và Nghị định 103/1999/NĐ-CP về giao, bán, khoán, cho thuê DNNN (Xem thêm – Civillawinfor)

Hai nghị định gần đây đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cho việc cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN. Về tổ chức, các ban chỉ đạo đổi mới DNNN từ trung ương đến các bộ, ngành, Tổng công ty 91 và các địa phương đã được thành lập. Nhưng quá trình cổ phần hóa DNNN diễn ra rất chậm. Từ năm 1992 đến năm 1998, cổ phần hóa được 120 doanh nghiệp. Từ chỗ tự nguyện đăng ký số doanh nghiệp thực hiện cổ phần hóa đã trở thành chỉ tiêu pháp lệnh. Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ giao chỉ tiêu cổ phần hóa 450 doanh nghiệp cho các bộ, Tổng công ty 91 và các địa phương, nhưng chỉ thực hiện được 220 doanh nghiệp, đạt 49% kế hoạch. Năm 2000, chỉ tiêu cổ phần hóa DNNN là 508 doanh nghiệp, trong đó 337 doanh nghiệp cổ phần hóa theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP và 171 doanh nghiệp giao, bán, khoán, cho thuê theo Nghị định 103/1999/NĐ-CP, nhưng chỉ thực hiện được 196 doanh nghiệp đạt gần 38,6% kế hoạch đề ra, trong đó có 171 doanh nghiệp cổ phần hóa, đạt 50,7% kế hoạch và 25 doanh nghiệp thực hiện hình thức bán, khoán, cho thuê, đạt 14,6% kế hoạch. Mặc dù doanh nghiệp đã cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê còn ít, nhưng khả năng cạnh tranh và hiệu quả đã rõ ràng, hầu hết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa thì doanh thu, thu nhập của người lao động, lợi nhuận, vốn, nộp thuế đều tăng hơn so với trước khi cổ phần hóa. Hiệu quả đã rõ ràng, song cổ phần hóa DNNN không những không đạt chỉ tiêu Chính phủ đề ra mà còn có chiều hướng chững lại. Tình trạng này cần phải được làm rõ nguyên nhân và tìm biện pháp khắc phục để đẩy nhanh hơn nữa quá trình sắp xếp lại và cổ phần hóa DNNN.

Hiện nay, trong tổng số 5.280 DNNN chỉ có 20,9% doanh nghiệp có vốn trên 10 tỉ đồng, còn 65,5% doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỉ đồng, 30% các DNNN địa phương có vốn dưới 1 tỉ đồng. Doanh nghiệp nhà nước có sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế thấp, chỉ khoảng 40% làm ăn có hiệu quả, đủ sức cạnh tranh, 40% hiệu quả thấp hoặc hòa vốn, 20% thua lỗ liên tục. Lộ trình đổi mới DNNN giai đoạn 2000 – 2002 (3 năm) là phải sắp xếp lại 2.280 doanh nghiệp, trong đó số có vốn trên 10 tỉ đồng là 216, từ 1 đến 10 tỉ đồng là 1.233 và dưới 1 tỉ đồng là 831 ; về hình thức thì 368 doanh nghiệp thuộc diện tiến hành giải thể hoặc phá sản ; 1 489 doanh nghiệp được cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê ; 380 doanh nghiệp phải sáp nhập vào doanh nghiệp khác và 43 doanh nghiệp trở thành đơn vị sự nghiệp. Thực hiện lộ trình trên đòi hỏi phải giải quyết dứt điểm được tổng khoản nợ 21.165 tỉ đồng đang tồn đọng ở các DNNN này (trong đó nợ ngân hàng 7 260 tỉ đồng) để nâng lượng vốn bình quân mỗi DNNN lên 27 tỉ đồng vào năm 2003, tăng 9 tỉ đồng so với hiện nay. Như vậy, đến đầu năm 2003 sẽ còn 3.000 doanh nghiệp và năm 2005 chỉ còn 2.000 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước. Các DNNN này sẽ tập trung ở lĩnh vực công ích và những lĩnh vực, ngành then chốt có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân.

Đánh giá một cách tổng quát, có một số nguyên nhân chính, cả khách quan và chủ quan, làm cho cổ phần hóa và giao, bán, khoán, cho thuê DNNN trong thời gian qua không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, đó là :

Thứ nhất, tình hình tài chính DNNN nói chung và tài chính của những DNNN phải cổ phần hóa nói riêng chưa lành mạnh, thiếu tính minh bạch, thiếu rõ ràng. Chính phủ đã có Quyết định 104/CT (10-4-1991) về thanh toán công nợ giai đoạn I và Quyết định 95/QĐ/TTg (15-8-1998) về xử lý thanh toán công nợ giai đoạn II nhằm lành mạnh hóa tài chính của các DNNN, nhưng kết quả giải quyết công nợ chưa khả quan, diễn ra rất chậm. Giai đoạn I chỉ giải quyết được gần 19% và giai đoạn II được khoảng 18% tổng số nợ các doanh nghiệp kê khai. Trước hiện trạng này, Chính phủ đã ban hành Nghị định 8/1999/NĐ-CP (9-7-1999) nhằm cơ cấu lại nợ đối với các DNNN trước khi thực hiện cổ phần hóa và Quyết định 5/2000/QĐ-TTg (5-1-2000) xóa bỏ các khoản nợ đã mất khả năng thanh toán. Mục đích của các biện pháp này là làm cho các DNNN lành mạnh về tài chính trước khi cổ phần hóa, nhưng việc cơ cấu lại nợ của các DNNN vẫn còn nhiều bất cập nên việc xác định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện cổ phần hóa gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP, giá trị doanh nghiệp là giá trị thực tế theo giá thị trường, có nghĩa là phải định được giá của các yếu tố vô hình, như uy tín, vị trí, lợi thế… của doanh nghiệp. Nhưng chung quanh những yếu tố này rất khó tìm được sự thống nhất giữa doanh nghiệp và hội đồng định giá. Điều đó đã làm chậm quá trình xác định giá trị doanh nghiệp, đồng thời làm cho việc xác định giá trị doanh nghiệp của hội đồng định giá không sát với giá thị trường.

Thứ hai, thể chế quản lý kinh tế vẫn chưa tạo ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Hiện nay, vẫn có sự phân biệt đối xử giữa DNNN với các đối thủ cạnh tranh thuộc thành phần kinh tế khác. Thực tế là, giữa chính sách coi mọi doanh nghiệp đều bình đẳng trước pháp luật và thực tiễn còn có khoảng cách, ngay khuôn khổ pháp luật vẫn có sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế. Bên cạnh đó là, sự mặc cảm của xã hội đối với những người làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh và sự kỳ thị của một số công chức đối với khu vực kinh tế dân doanh. Điều đó thể hiện rõ ở tần suất thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp dân doanh lớn hơn nhiều so với DNNN. Chúng đã tác động không nhỏ đến tư tưởng người lao động trong các DNNN đang chuẩn bị cổ phần hóa. Nhiều doanh nghiệp đã đưa ra yêu cầu nhà nước phải chiếm cổ phần chi phối (51% trở lên) để sau khi cổ phần hóa doanh nghiệp vẫn được hoạt động theo Luật DNNN mà không phải hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Thứ ba, công tác tuyên truyền về đa dạng hóa sở hữu một bộ phận DNNN còn nhiều hạn chế. Một số giám đốc DNNN vẫn còn nhận thức giám đốc doanh nghiệp là một chức vụ, vì cùng với nó là "vị ngọt" của quyền lợi, "hương thơm" của quyền lực ; họ vẫn ỷ lại vào nhà nước, chưa nhận thức được đầy đủ trách nhiệm của một giám đốc đối với doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường đã khác xa thời kỳ bao cấp trước đây. Nếu cổ phần hóa thì những giám đốc này chắc chắn không thể tiếp tục tồn tại ở vị trí giám đốc nên họ vẫn chưa mặn mà với chủ trương cổ phần hóa DNNN. Một bộ phận người lao động, đặc biệt là những người làm việc từ thời bao cấp vẫn có tư tưởng biên chế suốt đời nên họ không muốn cổ phần hóa. Tuy nhà nước đã có ưu đãi rất lớn về vật chất cho người lao động ở DNNN khi tiến hành cổ phần hóa nhưng họ vẫn băn khoăn về quyền lợi xã hội và chính trị sau khi cổ phần hóa.

Con đường sắp xếp lại và chuyển đổi sở hữu DNNN còn đang ở phía trước với những "gập ghềnh" cần phải được san phẳng bằng các chính sách, cơ chế thích hợp và sự quyết tâm hơn nữa trong triển khai thực hiện. Thách thức, vướng mắc lớn hiện nay là giải quyết công nợ và lao động dôi dư khi cổ phần hóa. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DNNN, thì số lao động ở 2.280 DNNN thuộc diện phải sắp xếp lại lên tới 429.095 người. Mà bản chất của chế độ ta thể hiện ở những hành động cụ thể thông qua việc tạo điều kiện để họ có thể học tập, chuyển đổi công tác, hạn chế tối đa tình trạng mất việc làm.

Bởi vậy, việc đánh giá, phân tích rõ các lực cản, nguyên nhân làm cho quá trình cổ phần hóa và bán, khoán, cho thuê DNNN không thực hiện được như mong muốn là rất cần thiết ; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm, tìm ra giải pháp hữu hiệu thực hiện lộ trình đã đề ra nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và cơ cấu lại khu vực DNNN, làm cho khu vực kinh tế nhà nước phù hợp với cơ chế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh và hoạt động có hiệu quả hơn, đủ thực lực vật chất để giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ : "Trong 5 năm tới, cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp nhà nước hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Thực hiện tốt chủ trương cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn ; giao, bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ Nhà nước không cần nắm giữ ; sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả và không thực hiện được các biện pháp trên. Khẩn trương cải thiện tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước ; củng cố và hiện đại hóa một bước các tổng công ty nhà nước" và "phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội" (1).

Muốn vậy, trước hết, cần phải nhận thức rằng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không phải ở số lượng DNNN nhiều. Trong thập niên 80, ở nước ta có trên 12000 DNNN nhưng nền kinh tế vẫn lâm vào tình trạng đình đốn, và năm 1991 GDP của khu vực DNNN cũng chỉ chiếm 36,5% GDP của toàn xã hội. Năm 2000 chỉ còn hơn 5.000 doanh nghiệp, nhưng DNNN vẫn đóng góp trên 42% GDP, 50% giá trị xuất khẩu và 40% tổng nộp ngân sách. DNNN đã nắm giữ những vị trí then chốt, ngành hàng chủ yếu và là lực lượng chủ lực thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước.

Cổ phần hóa DNNN ở nước ta là quá trình đa dạng hóa sở hữu có bản chất và cách làm khác hẳn các nước, là hình thức xã hội hóa một bộ phận DNNN để nhiều người cùng sở hữu doanh nghiệp theo tỷ lệ cổ phần nhằm huy động vốn, nâng cao hiệu quả quản lý và phát huy tính năng động, sáng tạo của người lao động. Nhưng, tiếc rằng hiện nay vẫn còn không ít người cho rằng cổ phần hóa DNNN là hình thức tư nhân hóa, làm mất vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước. Sự khác nhau về nhận thức có lúc có nơi đã dẫn đến hành động chưa thống nhất.

Hai là, đổi mới và hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chế chính sách cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê DNNN nói riêng theo hướng như Báo cáo Chính trị tại Đại hội IX của Đảng đã khẳng định : "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh ; trong đó nền kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân" (2).

Trước mắt, cần có phương án cụ thể giải quyết công nợ và phương pháp xác định giá trị DNNN khi tiến hành cổ phần hóa, chuyển dần từ hội đồng định giá doanh nghiệp sang hình thức đấu giá theo cơ chế thị trường. Trên cơ sở thu hút tối đa số lao động hiện tại ở các doanh nghiệp, cần có chính sách rõ ràng, cụ thể giải quyết quyền lợi cho người lao động dôi dư trong quá trình cơ cấu lại DNNN (những người ra khỏi khu vực DNNN hoặc mất việc làm). Cần nghiên cứu sửa đổi một số điều của Bộ Luật Lao động theo hướng một thị trường lao động định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, nên có phương án để người lao động trực tiếp nhận được các khoản trợ cấp. Thay đổi cơ chế bán cổ phần cho thích ứng với quá trình đa dạng hóa sở hữu trong phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nhằm thu hút mọi nguồn vốn vào công cuộc chấn hưng kinh tế đất nước.

Ba là, tuyên truyền sâu, rộng về chủ trương, chính sách cổ phần hóa, giao, bán, khoán, cho thuê DNNN làm cho người lao động hiểu rằng, làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh thì quyền lợi chính trị – xã hội (của họ và của con cái họ) cũng bình đẳng như ở trong khu vực nhà nước. Trước hết, cần xóa bỏ sự mặc cảm của xã hội và sự kỳ thị của công chức trong bộ máy công quyền đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.

Môi trường thuộc "tầng" vĩ mô về luật pháp, cơ chế chính sách là rất quan trọng, nhưng chỉ khi nào mọi người trong doanh nghiệp "trên dưới một lòng" quyết tâm thực hiện, tìm ra biện pháp thiết thực, tự thân vận động và biết giải quyết hài hòa giữa các lợi ích, thì khi đó động lực bên trong mới phát huy, đẩy nhanh được quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN nói chung và cổ phần hóa nói riêng như lộ trình đã đề ra.


* PGS, TS, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương (Hiện tác giả là Phó chủ tịch nước)

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 96 và 99

(2) Văn kiện đã dẫn, tr 95 – 96

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 6 NĂM 2002

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: