SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH NHÀ ĐẤT TRUNG QUỐC VÀ TÁC ĐỘNG CỦA WTO

TRUNG TÂM TIN HỌC – BỘ XÂY DỰNG

I. S phát trin ca ngành nhà đất Trung Quc

1. Khái quát:

Năm 1978 Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế. Những quan điểm như thương mại hoá nhà ở và quyền về bất động sản nhà đất đã được các nhà lý luận đưa ra. Năm 1990 "Quỹ tích tụ nhà ở" đư ợc thành lập ở Thư ợng Hải. Giai đoạn từ 1987 đến 1991 là giai đoạn khởi đầu của thị trư ờng bất động sản Trung Quốc.

Năm 1992, Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách nhà ở, "Quỹ tích tụ nhà ở" cũng được triển khai trên diện rộng. Ngành bất động sản nhà đất của Trung Quốc trong giai đoạn này phát triển rất nhanh, tuy nhiên ở một số thị trường địa phương bắt đầu xuất hiện những yếu tố không bền vững, một số nơi có hiện tượng phát triển bong bóng trong lĩnh vực bất động sản. Vào cuối năm 1993, Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra thực hiện "chính sách kinh tế vĩ mô", mà hậu quả của chính sách này là tốc độ tăng trư ởng đầu tư trong lĩnh vực bất động sản của Trung Quốc bị suy giảm dần. Thị trường bất động sản nhà đất sau đó phát triển rất chậm.

Sự tiếp tục cải cách sâu rộng chính sách nhà ở, trong bối cảnh thu nhập của ngư ời dân không ngừng tăng lên, đã khiến cho mức độ tiêu thụ nhà ở trở thành điểm nóng kinh tế ở Trung Quốc. Sau năm 1998, hệ thống cũ "phân phối nhà ở" đã bị bãi bỏ, và Trung Quốc chuyển sang thực hiện "hệ thống bán nhà" (người dân mua nhà từ thị trường). Ngành bất động sản nhà đất Trung Quốc đã bư ớc vào giai đoạn phát triển nhanh và vững chắc, nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế chủ lực của nền kinh tế quốc dân.

Từ năm 2003, giá cả trên thị trường bất động sản Trung Quốc tăng nhanh chóng, thậm chí tăng trư ởng quá nóng. Để kiểm soát tình hình, Chính phủ Trung Quốc một lần nữa đã ban hành những chính sách để điều tiết ngành này.

2. Th trưng bt động sn nhà đất Trung Quc

Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì việc kinh doanh ở Trung Quốc là rất khó khăn. Bên cạnh những rào cản về ngôn ngữ và văn hoá, nhiều doanh nghiệp nước ngoài còn phải đối mặt với nhiều trở ngại khác như hệ thống các quy định và pháp luật chư a thực sự minh bạch, hệ thống thuế quá phức tạp và các cơ quan công quyền mang đậm tính chất quan liêu, mặc dù Trung Quốc đã đạt đư ợc bư ớc tiến lớn kể từ khi mở cửa ra thế giới bên ngoài từ cuối thập niên 1970 và chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã gần 30 năm. 10 năm trư ớc đây, có lẽ rất ít người dân Trung Quốc nghĩ đến việc sở hữu một ngôi nhà. Hiện nay, với tỷ lệ sở hữu nhà đã đạt đến trên 60% ở các đô thị, Trung Quốc đã chứng tỏ là một quốc gia thành công nhất thế giới trong việc phát triển thị trường xây dựng nhà ở tư nhân trong một thời gian ngắn như vậy.

2.1. Th trư ng bt động sn nhà đất và s phát trin kinh tế.

Ngay sau khi nước CHND Trung Hoa mới đư ợc thành lập năm 1949, hầu hết các thửa ruộng của tư nhân hoặc thuộc sở hữu tư nhân đều đư ợc tập thể hoá đưa vào hợp tác xã. Sở hữu tư nhân về nhà ở trong các đô thị gần như bị xoá bỏ. Nhằm thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, Chính phủ Trung Quốc trong các thập niên 1960 và 1970 đã nỗ lực đầu tư. Một phần lớn sản lư ợng kinh tế của đất nư ớc do chính phủ sắp xếp và quản lý. Chính phủ đề ra mục tiêu sản xuất, quản lý giá và phân phối các nguồn lực cho toàn bộ nền kinh tế. Do đó, đến năm 1978, gần 3/4 sản lư ợng công nghiệp là do các doanh nghiệp Nhà nư ớc sản xuất (SOEs) trên cơ sở các chỉ tiêu sản ư ợng kế hoạch hoá tập trung. Các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp vốn đầu tư nư ớc ngoài hầu như không tồn tại. Một trong những mục tiêu chính của Chính phủ Trung Quốc khi đó là xây dựng một nền kinh tế độc lập tự cường.

Vào cuối thập niên 1970, Chính phủ Trung Quốc vào cuối thời kỳ lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình hy vọng việc mở cửa thị trư ờng theo lộ trình và thực hiện cải cách kinh tế sẽ đẩy nhanh đáng kể tốc độ tăng trư ởng kinh tế và nâng cao mức sống của nhân dân. Từ đó đến nay, quy mô nền kinh tế Trung Quốc đã phát triển gấp trên 10 lần. Trong giai đoạn 1979 ư1999, GDP của Trung Quốc tăng trư ởng bình quân 9,7%/năm và GDP năm 2000 đã vư ợt con số 1000 tỷ USD (8,8 nghìn tỷ NDT) lần đầu tiên trong lịch sử. Hai yếu tố cơ bản góp phần làm cho nền kinh tế Trung Quốc tăng trư ởng vượt bậc đó là: đầu tư vốn lớn (từ tiền tiết kiệm trong nư ớc và đầu tư nư ớc ngoài) và tăng năng suất lao động. Công cuộc cải cách kinh tế đã mang lại hiệu quả cao hơn cho nền kinh tế, nâng cao sản lư ợng và tăng cư ờng các nguồn lực đầu tư . Bên cạnh đó, khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm các doanh nghiệp bán tư nhân của xã, của thị trấn và các công ty tư nhân và các hộ nông dân đều có thể đóng góp cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế Trung Quốc. Các doanh nghiệp tư nhân từ chỗ hầu như chư a có gì vào năm 1979 đến nay đã tạo ra trên 60% GDP của Trung Quốc. Sau một Hội nghị đư ợc tổ chức vào tháng 8/1999, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã cam kết đư a tỷ lệ nói trên lên 75% vào năm 2002. Hiện nay, trên 177 triệu dân của Trung Quốc trong độ tuổi lao động (từ 18ư60 tuổi) đang làm việc trong các công ty tư nhân hoặc có một phần vốn góp của tư nhân so với 122 triệu ngư ời làm việc trong các doanh nghiệp nhà nư ớc. Nếu chỉ tính quy mô GDP thì Trung Quốc đã vư ợt xa Nhật Bản và trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ.

Mặc dù nền kinh tế Trung Quốc phát triển rất nhanh trong những năm gần đây, như ng tư ơng lai của sự phát triển đó vẫn sẽ phụ thuộc nhiều vào năng lực và ý chí của Chính phủ trong việc giải quyết những thách thức phía trư ớc. Hiện tại, gần 1/3 sản lư ợng công nghiệp của Trung Quốc là của các doanh nghiệp nhà nư ớc, trong đó có nhiều doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ và cần sự hỗ trợ của Nhà nư ớc thông qua hệ thống ngân hàng. Việc cơ cấu lại các ngành nghề truyền thống và giải thể hoặc bán các doanh nghiệp thua lỗ sẽ khiến cho hàng trăm ngàn lao động mất việc làm. Để đáp ứng sự phát triển, Chính phủ Trung Quốc cần phải duy trì đư ờng lối đảm bảo ổn định chính trị trong khi vẫn tiếp tục cải cách kinh tế. ….

XEM TOÀN VĂN TÀI LIỆU TẠI ĐÂY

SOURCE: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ BỘ XÂY DỰNG

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: