TỔNG KẾT 20 NĂM LUẬT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

TS. PHAN HỮU THẮNG

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nay là Luật Đầu tư là một trong những đạo luật đầu tiên của thời kỳ đổi mới. Việc ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (ĐTNN) tại Việt Nam đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN tại Việt Nam trong suốt 20 năm qua.

KẾT QUẢ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 20 NĂM QUA (Chưa tính kết qủa đầu tư năm 2008 hơn 64 tỷ đô la – Civillawinfor)

Tình hình cấp phép chung: Tính đến cuối năm 2007, cả nước có hơn 9.500 dự án ĐTNN được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký khoảng 98 tỷ USD (kể cả vốn tăng thêm). Trừ các dự án đã hết thời hạn hoạt động và giải thể trước thời hạn, hiện có 8.590 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 83,1 tỷ USD.

Tình hình tăng vốn đầu tư chung: Cùng với việc thu hút các dự án đầu tư mới, nhiều dự án sau khi hoạt động đã mở rộng quy mô sản xuất, tăng vốn đầu tư, nhất là từ năm 2001 trở lại đây. Tính đến hết năm 2007 có trên 4.000 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm hơn 18,9 tỷ USD, bằng 19,2% tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới.

Cơ cấu vốn ĐTNN chung từ 1988 đến 2007:

(1) Theo ngành: Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 66,8% về số dự án, 60,2% tổng vốn đăng ký và 68,5% vốn thực hiện; Lĩnh vực dịch vụ chiếm 22,2% về số dự án, 34,4% số vốn đăng ký và 24,5% vốn thực hiện; Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 10,8% về số dự án, 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,7% vốn thực hiện.

(2) Theo vùng và lãnh thổ: Từ năm 1988 đến hết năm 2007, các tỉnh phía Bắc đã thu hút 2.220 dự án với vốn đầu tư khoảng 24 tỷ USD, chiếm 26% về số dự án, 29% tổng vốn đăng ký cả nước và 24% tổng vốn thực hiện của cả nước. Các tỉnh phía Nam từ Ninh Thuận trở vào thu hút được 5.452 dự án với tổng vốn 46,8 tỷ USD, đã góp vốn thực hiện đạt 15,68 tỷ USD, chiếm 63% về số dự án, 56% về vốn đăng ký và 51% vốn thực hiện của cả nước, trong đó, Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam gồm 8 địa phương (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh, Long An, Bình Phước) chiếm 64,3% về số dự án và 55,7% về vốn đăng ký và 48,4% vốn thực hiện của cả nước. Đồng bằng sông Cửu Long tuy là vựa lúa, vựa trái cây, giàu tiềm năng thuỷ, hải sản của cả nước nhưng thu hút vốn ĐTNN còn rất thấp so với các vùng khác, chiếm 3,6% về số dự án và 4,4% về vốn đăng ký và 3,2% vốn thực hiện của cả nước. Bắc và Nam Trung Bộ, trong đó Quảng Nam và Đà Nẵng đã có nhiều tiến bộ trong thu hút vốn ĐTNN, nhất là đầu tư vào xây dựng các khu du lịch, trung tâm nghỉ dưỡng, vui chơi đạt tiêu chuẩn quốc tế. Tây Nguyên cũng ở trạng thái thu hút vốn ĐTNN quá ít như vùng Đông Bắc và Tây Bắc.

360255 

(3) Theo hình thức đầu tư: Doanh nghiệp (DN) 100% vốn nước ngoài chiếm 74,4% tổng số dự án và 50,7% tổng vốn đăng ký; DN liên doanh chiếm 22,2% tổng số dự án và 38% tổng vốn đăng ký; Hợp tác kinh doanh chiếm 3,1% tổng số dự án và 8,3% tổng vốn đăng ký; DN BOT có 6 dự án (0,1% tổng số dự án) với tổng vốn đăng ký 1,4 tỷ USD (2,7% tổng vốn đăng ký); DN cổ phần có 8 dự án (0,1% tổng số dự án), với tổng vốn đăng ký 199 triệu USD (0,4% tổng vốn đăng ký); Công ty quản lý vốn (công ty mẹ-con) có 1 dự án (0,02% tổng số dự án) với tổng vốn đăng ký 14,4 triệu USD (0,03% tổng vốn đăng ký).

(4) Theo đối tác đầu tư: Đã có 82 nước và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam trong tổng vốn đăng ký trên 80 tỷ đô la Mỹ, các nước Châu á chiếm 69,1%; các nước thuộc EU chiếm 16,2%; các nước Châu Mỹ chiếm 11,8%, riêng Hoa Kỳ chiếm 4%. Tuy nhiên, nếu tính cả số vốn đầu tư từ các chi nhánh tại nước thứ 3 thì vốn đầu tư của Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ đạt con số trên 3 tỷ USD, đứng vị trí thứ 5 trong tổng số 82 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam. Số vốn đầu tư còn lại thuộc các nước tại khu vực khác.

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 

Về mặt kinh tế:

ĐTNN là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế

Đóng góp của FDI trong đầu tư xã hội biến động lớn. Trong thời kỳ 1991-1995 tỷ trọng của FDI trong đầu tư xã hội chiếm 30%, là mức cao nhất cho đến nay. Tỷ lệ này đã giảm dần chiếm 23,4% trong giai đoạn 1996-2000 và trong 5 năm 2001-2005 và 2006-2007 chiếm 16,7%. Có thể lý giải điều này do sự lớn mạnh của khối DN tư nhân kể từ khi Quốc hội ban hành Luật DN năm 1999.

ĐTNN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp

Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực kinh tế có vốn FDI cao hơn mức tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP từ 23,79% vào năm 1991 lên 40% năm 2004.

Đến nay, khu vực kinh tế có vốn ĐTNN chiếm khoảng 35% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Được biết ở một số địa phương (Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Phúc..) tỷ lệ này đạt đến 65-70%. ĐTNN đã tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép, điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày, dệt may… Trong nông-lâm-ngư nghiệp, ĐTNN đã tạo ra một số sản phẩm mới có hàm lượng kỹ thuật cao và các cây, con giống mới.

ĐTNN đã kích thích lĩnh vực dịch vụ Việt Nam nâng cao chất lượng và phát triển nhanh hơn, nhất là trong các ngành viễn thông, du lịch, kinh doanh bất động sản, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng…

ĐTNN thúc đẩy chuyển giao công nghệ

ĐTNN góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, phát triển một số ngành kinh tế quan trọng của đất nước như viễn thông, thăm dò và khai thác dầu khí, hoá chất, cơ khí chế tạo điện tử, tin học, ô tô, xe máy… Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực. Hầu hết các DN có vốn ĐTNN áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, được kết nối và chịu ảnh hưởng của hệ thống quản lý hiện đại của công ty mẹ.

ĐTNN tác động lan toả đến các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế

Thông qua sự liên kết giữa DN có vốn ĐTNN với các DN trong nước, công nghệ và năng lực kinh doanh được chuyển giao từ DN có vốn ĐTNN đến các thành phần khác của nền kinh tế. Sự lan tỏa này có thể theo hàng dọc giữa các DN trong ngành dọc hoặc theo hàng ngang giữa các DN hoạt động cùng ngành.

ĐTNN đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước và các cân đối vĩ mô

Cùng với sự phát triển các DN có vốn ĐTNN tại Việt Nam, mức đóng góp của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN vào ngân sách ngày càng tăng. Thời kỳ 1996-2000, không kể thu từ dầu thô đạt 1,49 tỷ USD, gấp 4,5 lần 5 năm trước. Trong 5 năm 2001-2005, thu ngân sách trong khối DN FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. FDI tác động tích cực đến các cân đối lớn của nền kinh tế như cân đối ngân sách, cải thiện cán cân vãng lai, cán cân thanh toán quốc tế thông qua việc chuyển vốn vào Việt Nam và mở rộng nguồn thu ngoại tệ gián tiếp qua khách quốc tế, tiền thuê đất, tiền mua máy móc, nguyên vật liệu…

ĐTNN góp phần giúp Việt Nam tiếp cận và mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao năng lực xuất khẩu

Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN tăng nhanh, cao hơn mức bình quân chung của cả nước, đóng góp quan trọng vào việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. ĐTNN chiếm một tỷ trọng cao trong xuất khẩu một số sản phẩm: 100% dầu khí, 84% hàng điện tử, máy tính và linh kiện, 42% sản phẩm da giày, 35% hàng may mặc… Trong lĩnh vực khách sạn và du lịch, ĐTNN đã tạo điều kiện gia tăng nhanh chóng xuất khẩu tại chỗ. Thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia, nhiều sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đã tiếp cận được với các thị trường trên thế giới.

Về mặt xã hội:

ĐTNN góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm, tăng năng suất lao động, cải thiện nguồn nhân lực

Đến nay, khu vực có vốn ĐTNN đã tạo ra việc làm cho trên 1,2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp khác. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các DN có vốn ĐTNN, Việt Nam đã từng bước hình thành đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao và có tác phong công nghiệp hiện đại, có kỷ luật lao động tốt, học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến.

Hoạt động của các DN có vốn ĐTNN tại Việt Nam cũng đã thúc đẩy các DN trong nước không ngừng đổi mới công nghệ, phương thức quản lý để nâng cao hơn chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế. Đặc biệt, một số chuyên gia Việt Nam làm việc tại các DN có vốn ĐTNN đã dần thay thế các chuyên gia nước ngoài trong đảm nhiệm các vị trí quản lý DN cũng như điều khiển các quy trình công nghệ hiện đại.

ĐTNN góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới

ĐTNN đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ cấm vận của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo hướng đa phương hóa và đa dạng hóa, thúc đẩy Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, đẩy nhanh tiến trình tự do hoá thương mại và đầu tư. Thông qua tiếng nói và sự ủng hộ của các nhà đầu tư nước ngoài, hình ảnh và vị thế của Việt Nam không ngừng được cải thiện.

Về mặt môi trường:

Nhìn chung các DN có vốn ĐTNN tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường Việt Nam và có kết quả tốt hơn so với số đông các DN trong nước vì có khả năng tài chính và khả năng tiếp cận với các kỹ năng quản lý môi trường. ĐTNN đã tác động tích cực tới kết quả môi trường của bạn hàng cung cấp đầu vào và các công ty vệ tinh thông qua việc hỗ trợ, tư vấn về hệ thống quản lý môi trường hoặc các giải pháp xử lý môi trường. Thông qua các đối tác liên doanh, các đối tác Việt Nam có thể học hỏi, được hỗ trợ và tư vấn để cải thiện kết quả môi trường. ĐTNN tạo điều kiện làm cho nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, tài nguyên… được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn.

360256

ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT ĐTNN

Chủ trương tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTNN được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước và tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

Thực hiện chủ trương nêu trên, giai đoạn 2006-2010, chúng ta dự kiến sẽ huy động khoảng 25 tỷ USD từ nguồn vốn ĐTNN để đầu tư cho phát triển. Với tốc độ gia tăng mạnh mẽ dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong những năm qua và tiếp tục tăng cao trong những năm tới. Chúng ta có đủ cơ sở để khẳng định rằng, mục tiêu trên sẽ sớm trở thành thành hiện thực.

Sẽ ưu tiên thu hút ĐTNN vào các ngành có tác động lớn trên các phương diện như: thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhất là công nghệ cao, công nghệ nguồn, gia tăng xuất khẩu, tạo việc làm, các dự án sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có sức cạnh tranh; các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng. Các ngành công nghiệp đặc biệt khuyến khích đầu tư gồm công nghệ thông tin, điện tử, vi điện tử, công nghệ sinh học…; chú trọng công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; coi trọng thu hút ĐTNN gắn với nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh đó, sẽ khuyến khích thu hút ĐTNN vào ngành công nghiệp phụ trợ nhằm giảm chi phí đầu vào về nguyên-phụ liệu của các ngành công nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước.

Về đối tác đầu tư, chúng ta sẽ chú trọng hơn vào việc thu hút ĐTNN từ các tập đoàn đa quốc gia (TNCs), nhất là các tập đoàn đến từ các trung tâm kinh tế lớn của thể giới như Nhật Bản, Hoa Kỳ và EU theo hướng để thực hiện những dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu; tạo điều kiện để một số TNCs xây dựng các Trung tâm nghiên cứu, phát triển, vườn ươm công nghệ gắn với đào tạo nguồn nhân lực./.

SOURCE: TẠP CHÍ KINH TẾ VÀ DỰ BÁO SỐ 1 (417) THÁNG 1 NĂM 2008

===============================

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI NĂM 2008

Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 65 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới nay. Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

1. Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD, trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp 7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007; số còn lại là vốn đầu tư tăng thêm của một số dự án mở rộng sản xuất, kinh doanh. Quy mô vốn bình quân đầu tư của một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn tăng hơn nhiều so với năm 2007 (12,2 triệu USD/dự án). Điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay. Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định chính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.

2. Môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực. Chính sách phân cấp việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủ động và tích cực cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả về phương thức lẫn nâng cao chất lượng thông qua nhiều hoạt động, như triển khai thực hiện Quyết định số 109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 – 2010; thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh hưởng lớn tới địa phương; ban hành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 – 2010; xuất bản các tài liệu cập nhật, đĩa CD… liên quan tới hoạt động FDI; tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; chú trọng hướng thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm thu hút các dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu.

Một điều dễ nhận thấy là dòng vốn FDI vào Việt Nam trong vài năm trở lại đây không chỉ thay đổi về lượng (vốn đầu tư) mà cả về chất (chiều sâu đầu tư) thông qua sự có mặt của các tập đoàn nổi tiếng trong lĩnh vực điện tử, như: Intel, Compal, Foxconn, Samsung… Đặc biệt trong năm 2008 còn xuất hiện dự án của các tập đoàn lớn, như Good Choi (Hoa Kỳ), Berjaya (Ma-lai-xi-a) v.v.. Điều này cho thấy, sau một thời gian nghiên cứu thị trường Việt Nam các tập đoàn nước ngoài đã quyết định đầu tư quy mô lớn, xem Việt Nam như một mắt xích trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Các dự án lớn nói trên sẽ kéo theo nhiều nhà sản xuất và cung cấp sản phẩm phụ trợ phục vụ sản xuất.

Vấn đề đặt ra là mức thu hút vốn FDI đăng ký nêu trên đã là đỉnh điểm của làn sóng FDI lần thứ hai vào Việt Nam kể từ năm 2005 tới nay hay chưa? Biểu đồ thu hút vốn FDI trong thời gian qua cho thấy, năm 2008 thu hút vốn FDI đạt mức cao nhất, tăng gấp hơn 5 lần so với năm 1996 – năm đỉnh điểm của làn sóng FDI đầu tiên vào Việt Nam.

Mặc dù có ý kiến cho rằng: vốn FDI thời gian qua chủ yếu vào lĩnh vực bất động sản, song trên thực tế kết quả thu hút vốn FDI trong 11 tháng đầu năm 2008 cho thấy, vốn đăng ký cấp mới tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, với 537 dự án có tổng vốn đăng ký 32,5 tỉ USD, chiếm 53,7% về số dự án và 55,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực dịch vụ có 480 dự án với tổng vốn đăng ký 26,2 tỉ USD, chiếm 42% về số dự án và 43,9% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp. Bên cạnh đó, cơ cấu đầu tư đã chuyển dịch dần sang lĩnh vực dịch vụ với sự xuất hiện của một số dự án quy mô lớn trong lĩnh vực bất động sản, cảng biển. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng khu vực dịch vụ, bao gồm tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… góp phần thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế trong thời gian tới.

Hiện nay đã có 44 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại Việt Nam, trong đó có 11 quốc gia và vùng lãnh thổ có đăng ký mức vốn đầu tư trên 1 tỉ USD. Ma-lai-xi-a đứng đầu với 49 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỉ USD, chiếm 4,2% về số dự án và 25,5% về vốn đầu tư đăng ký. Đài Loan đứng thứ 2 với 127 dự án, vốn đầu tư 8,6 tỉ USD, chiếm 12,8% về số dự án và 14,8% về vốn đầu tư đăng ký. Nhật Bản đứng thứ 3 với 95 dự án, vốn đầu tư 7,2 tỉ USD, chiếm 9,4% về số dự án và 12,89% về vốn đầu tư đăng ký. Bru-nây đứng thứ 4 với 16 dự án, vốn đầu tư 4,38 tỉ USD, chiếm 7,5% về vốn đầu tư đăng ký. Ca-na-đa đứng thứ 5 với 8 dự án, vốn đầu tư 4,23 tỉ USD, chiếm gần 7,5% về vốn đầu tư đăng ký. Kết quả trên cho thấy, các nhà đầu tư từ quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc châu á vẫn chiếm đa số trong tổng vốn FDI đăng ký tại Việt Nam. Do vậy, để thu hút được nhiều hơn vốn FDI vào Việt Nam từ các nước có tiềm năng kinh tế thuộc châu Âu và châu Mỹ, việc xây dựng và triển khai chiến lược thu hút vốn FDI từ các quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc các châu lục này càng trở nên cấp thiết và phải được phối hợp đồng thời với việc nhanh chóng đưa các bộ phận đại diện cơ quan xúc tiến đầu tư tại các khu vực trọng điểm đi vào hoạt động theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

Không kể 7 dự án thăm dò, khai thác dầu khí (chiếm 18,1% tổng vốn đăng ký), trong 11 tháng đầu năm 2008, tỉnh Ninh Thuận đã vươn lên đứng đầu 43 địa phương của cả nước có thu hút vốn FDI, do có liên doanh sản xuất thép giữa tập đoàn Lion (Ma-lai-xi-a) với tập đoàn tàu thủy Vinashin, với tổng vốn đăng ký đạt 9,79 tỉ USD; Bà Rịa – Vũng Tàu đứng thứ 2, có 4 dự án với tổng vốn đăng ký là 9,3 tỉ USD, chiếm 16,6% tổng vốn đăng ký. Các địa phương có thứ tự tiếp theo là Thành phố Hồ Chí Minh với tổng số vốn đăng ký đạt 7,99 tỉ USD, chiếm 14,2% tổng vốn đăng ký; Hà Tĩnh: 7,8 tỉ USD, chiếm 14%; Thanh Hóa: 6,2 tỉ USD, chiếm 11%; Phú Yên: 4,3 tỉ USD chiếm 7,7%; Kiên Giang: 2,3 tỉ USD chiếm 4,09%; Đồng Nai: 1,78 tỉ USD chiếm 3,1%. Như vậy, sau hơn 20 năm thực hiện Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, các địa phương thuộc khu vực miền Trung đã đạt được kết quả thu hút vốn FDI đáng khích lệ với sự góp mặt của một số dự án FDI có quy mô vốn đầu tư lớn hàng tỉ USD, chắc chắn sẽ có tác động không nhỏ cho sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng.

Theo đánh giá tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam năm 2008 được tổ chức vào ngày 1-12-2008 tại Hà Nội, khu vực doanh nghiệp FDI hiện đóng góp hơn 40% sản lượng công nghiệp, gần 60% tổng giá trị xuất khẩu, 20% lực lượng sản xuất và hơn 35% nguồn thu thuế. Tình hình hoạt động triển khai sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp FDI trong năm 2008 cũng đạt kết quả tích cực, mặc dù khu vực này cũng đang đối mặt với nhiều thách thức. Nhiều dự án lớn được khai trương, động thổ và triển khai xây dựng ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư, như trong tháng 7-2008 có dự án sản xuất gang thép Hưng Nghiệp, Formosa đầu tư 7,879 tỉ USD, được cấp phép và khởi công xây dựng; dự án xây dựng khu đô thị đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Berjaya Leisure (Ma-lai-xi-a) đầu tư 3,5 tỉ USD v.v.. Ước tính các doanh nghiệp FDI đã góp vốn đầu tư thực hiện trong năm đạt khoảng 11 tỉ USD, tăng 30,8% so với năm 2007. Doanh thu của khu vực FDI đạt khoảng 50 tỉ USD, tăng 26,3% so với năm 2007, trong đó xuất khẩu (trừ dầu thô) đạt khoảng 25 tỉ USD, tăng 24,9% so với năm trước. Nhập khẩu đạt khoảng 29 tỉ USD, tăng 34,5% so với năm 2007. Nộp ngân sách đạt khoảng 2 tỉ USD, tăng 33% so với năm 2007. Trong năm 2008, khối doanh nghiệp FDI thu hút thêm khoảng 18 nghìn lao động, đưa tổng số lao động trong khu vực FDI tính đến thời điểm này xấp xỉ 1,5 triệu lao động, tăng 15,7% so với năm trước.

3. Bên cạnh những kết quả khả quan nêu trên, khu vực FDI còn những hạn chế như: công tác kiểm tra, giám sát quy hoạch chưa được quan tâm đúng mức nên xảy ra tình trạng một số địa phương cấp mới một loạt dự án sử dụng nhiều đất (như sân gôn, khu công nghiệp, khu đô thị, khu vui chơi giải trí), tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước, rác thải tại một số khu công nghiệp – khu chế xuất đến mức rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới môi trường sinh thái; thiếu lao động có tay nghề cao, việc chuyển dịch cơ cấu lao động trong khu vực nông nghiệp – nông thôn còn chậm, điều kiện làm việc và sinh hoạt của người lao động còn hạn chế, nhất là tình trạng đình công kéo dài không được giải quyết triệt để cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường đầu tư – kinh doanh.

Như vậy, tính lũy kế từ khi thực hiện Luật Đầu tư (năm 1987) đến nay, nước ta đã thu hút được khoảng 150 tỉ USD vốn FDI cam kết, nhưng vốn giải ngân mới đạt khoảng 56 tỉ USD, bằng khoảng 36% tổng vốn cam kết. Với quy mô vốn đăng ký tăng cao đột biến trong 2 năm 2007 và 2008 việc giảm khoảng cách giữa vốn FDI cam kết với vốn thực hiện đòi hỏi các cơ quan quản lý hoạt động FDI các cấp càng phải nỗ lực nhiều hơn trong việc hỗ trợ trực tiếp, thiết thực đối với các dự án đang triển khai trên địa bàn nhằm giúp các doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, triển khai giải ngân vốn theo đúng tiến độ đề ra; đồng thời tiếp tục tạo môi trường pháp lý, đầu tư – kinh doanh ngày càng minh bạch, hấp dẫn, phù hợp với cam kết quốc tế. Bên cạnh đó, Chính phủ cần tiếp tục xây dựng, nâng cấp, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, giao thông, cảng biển… bằng vốn đầu tư từ các nguồn khác (ODA, tư nhân…) bắt kịp tốc độ phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài.

Theo kết quả điều tra về môi trường kinh doanh năm nay do Ban Thư ký của Diễn đàn doanh nghiệp công bố tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam năm 2008, hầu hết các doanh nghiệp được điều tra đều tin tưởng Việt Nam sẽ vượt qua các thách thức, bình ổn kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh trong các năm 2009, 2010 và đến năm 2011 sẽ được cải thiện hơn. Theo thông tin của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp từ các địa phương, hiện có khoảng 50 tỉ USD vốn cam kết của các dự án đang trong quá trình xem xét, thẩm tra cấp giấy chứng nhận trong những năm tới. Tuy nhiên, trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay, khó khăn lớn mà các nhà đầu tư đang phải đối đầu là việc vay vốn của ngân hàng để đầu tư. Do vậy, khả năng các dự án FDI tại Việt Nam cũng không tránh khỏi trở ngại trên và như vậy tiến độ triển khai dự án cũng sẽ bị tác động.

Để khắc phục các hạn chế trên và tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương thực hiện các biện pháp hữu hiệu liên quan tới môi trường pháp lý, môi trường đầu tư – kinh doanh, bảo vệ môi trường sinh thái nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong hoạt động FDI về mọi mặt, nhất là công tác thúc đẩy vốn giải ngân, hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động. Chúng ta tin tưởng năm 2009 sẽ tiếp tục giữ được kết quả trong thu hút và sử dụng vốn FDI, góp phần giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế và thực hiện hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo theo mục tiêu đề ra.

SOURCE: BỘ KÊ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

Trích dẫn từ: http://www.mutrap.org.vn/Lists/Posts/Post.aspx?List=5276b79d-4e3a-4c5b-a2ad-c903807cc7ea&ID=195

Advertisements

One Response

  1. Tôi cần số liệu FDI của Hà Nội từ 200-2008 trên tất cả các lĩnh vực và tác động của nó đến phat triển kinh tê xã hội. Xin vui lòng giúp
    tungkt10@yahoo.com.vn

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: