Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

TÍNH NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT

GS. TƯƠNG LAI

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của nước ta từ đổi mới là sự vận hành guồng máy xã hội đã từng bước dựa vào pháp luật ghi nhận trình độ văn minh của một xã hội hiện đại mà chúng ta đang xây dựng. Nói “từng bước” là vì tinh thần thượng tôn pháp luật của người cầm quyền cũng như người công dân đang còn có nhiều trở lực. Quả là còn xa để biến một ước vọng tốt đẹp sau đây thành hiện thực: “Có cách gì làm cho người cầm quyền tăng thêm được tri thức về những việc họ phải quản lý và làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi họ tuân lệnh”.

Ước vọng đó được đưa ra từ những năm 30 của thế kỷ XVIII xem ra vẫn đang trên một hành trình quá gập ghềnh. Những bức xúc của công luận về cách hành xử của các cơ quan pháp luật trong một số vụ án cho thấy tính nghiêm minh của pháp luật chưa được thực sự tôn trọng. Nguyên nhân do đâu? Do “tri thức về quản lý” hay là còn do những nguyên nhân nào khác nữa? Trả lời thật tường minh về điều này xem ra không hề đơn giản! Chẳng hạn như, đã có không ít “kịch bản” được dàn dựng xoay quanh một vụ án mà những lời đồn đoán, không biết thực hư, rằng do chúng động chạm quá nhiều. Người ta sợ “rút dây thì động rừng”, cây con dễ chặt nhưng cây lớn khó đốn vì rễ nó chằng chịt, lại chui rất sâu, chỉ riêng cây đổ cũng rúng động một góc rừng! Ấy vậy mà,“trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu” vốn là sức mạnh của luật pháp, thể hiện ý chí và khát vọng muôn đời của người dân dưới bất cứ thể chế chính trị nào. Không thực hiện được điều đó thì rồi sẽ còn có nhiều “kịch bản” điêu luyện được dàn dựng để diễn ra nghịch lý của pháp luật từng bị lên án từ xa xưa, nơi “ruồi to chui lọt, ruồi con mắc lưới”.

Để góp phần trao đổi về nỗi bức xúc của công luận, xin không phải nói về những sự kiện cụ thể vì người viết như “ếch ngồi đáy giếng” không thể hiểu tất cả những tình tiết phức tạp của sự kiện và diễn biến, chỉ xin được cung cấp một số hiểu biết chung vềtính nghiêm minh của pháp luật ngõ hầu tham gia một cách gián tiếp tháo gỡ những bức xúc nói trên.

Trước hết cần thấy rằng, pháp luật là sự ghi nhận một cột mốc hết sức quan trọng trên hành trình con người – tìm đến tự do cho chính mình trong xã hội. Thế nhưng “xã hội là gì?”, C.Mác từng đặt ra câu hỏi đó và tự trả lời: “Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không? Tuyệt đối là không”. Làm sao để điều chỉnh được sự tác động qua lại giữa người với người là vấn đề đặt ra từ khi có loài người. Những bộ óc lớn của nhân loại từng suy tư, chiêm nghiệm và đúc kết từ cuộc sống để đưa ra những giải pháp, song xem ra vẫn còn không thiếu những nghịch lý, những mù mờ tồn đọng trong những giải pháp ấy. Xã hội có sẵn khi chúng ta ra đời, nhưng cũng được chính chúng ta xây dựng lên. “Chúng ta bị áp đặt với chính sự hợp tác của chúng ta”, làm sao điều chỉnh được sự “áp đặt” và sự “hợp tác” Phải chăng, pháp luật chính là mẫu số chung cho chủ thể và đối tượng người cầm quyền và người dân trao quyền mà không bị mất quyền, không bị phản bội. Sứ mệnh cao cả ấy của pháp luật vẫn đang chỉ là khát vọng.

Lọt lòng mẹ, con người đã có sẵn một xã hội mà nó không có quyền lựa chọn, cũng giống như đứa trẻ không lựa chọn được nơi nó sinh ra, không thể lựa chọn cha mẹ. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi đời sống xã hội và đồng thời cũng biến đổi chính mình. Trong xã hội ấy “công lý xuất hiện để ngăn chặn kẻ mạnh làm hại kẻ yếu” , ý tưởng đó đã có cách đây hơn ba ngàn năm. Thế nhưng, như sự cảnh báo của Rousseaux: “con người sinh ra đã là tự do, vậy mà ở khắp mọi nơi con người lại bị cùm kẹp”. Trong trạng thái tự nhiên, con người sinh ra đã là bình đẳng, nhưng khi hợp thành xã hội, con người mất bình đẳng. Và con người trong cuộc sống xã hội của nó “chỉ trở lại bình đẳng nhờ có pháp luật”. Luận điểm ấy của Montesquieu, nhà “Khai Sáng” thuộc thế hệ thứ nhất, sống trước Rousseaux 23 năm thuộc thế hệ thứ hai, đưa ra từ những năm 30 của thế kỷ XVIII.

Thế nhưng, thật ra trước đó rất lâu, ngay từ thời cổ đại ở phương Đông cách đây hơn hai ngàn năm, Hàn Phi đã từng đòi hỏi: “Pháp luật không hùa theo người sang. Sợi dây dọi không uốn mình theo cây gỗ cong. Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu. Cho nên điều sửa chữa được sự sai lầm của người trên, trị được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường lối của dân không gì bằng pháp luật” (Hàn Phi Tử. Quyển 2. Thiên VI).

Quản Trọng, người đã làm cho nước Tề thành “bá” từ sáu thế kỷ trước Công Nguyên đã từng khẳng định: “Pháp (luật) là cái quy tắc của thiên hạ… Quan sai khiến dân mà có pháp (luật) thì dân theo, không có pháp (luật) thì dân dừng lại. Dân lấy pháp (luật) chống nhau với quan. Người dưới lấy pháp (luật) phục vụ người trên, cho nên bọn dối trá không thể lừa chủ, bọn ghen ghét không thể có cái bụng kẻ giặc, bọn xu nịnh không thể khoe cái khéo, ngoài ngàn dặm không dám làm điều trái” (Quản tử. Quyển 21).

Chính vì lẽ đó mà phái pháp gia bị phái nho gia vốn chủ trương “đức trị”, “nhân trị” chống lại kịch liệt. Khổng tử nói: “Sở dĩ dân có thể tôn quý kẻ sang, người sang nhờ thế giữ gìn được cơ nghiệp của mình. Người sang, người hèn không lẫn lộn, cái đó gọi là pháp độ… Nay bỏ pháp độ này mà làm cái vạc ghi pháp luật, thì dân chỉ biết cái vạc, lấy gì để tôn quý (người sang)? Người sang còn có cơ nghiệp nào để giữ? Người sang, kẻ hèn không có trên dưới lấy gì để làm thành nước?” (Tả truyện. Quyển 26). Thì ra, ẩn đằng sau những lập luận của ngôn từ là cái lợi ích cụ thể, là “cái ghế” của người đang nắm quyền lực!

Nhân trị, đức trị hay “pháp độ” thực chất là công cụ của kẻ đang nắm được quyền lực muốn duy trì hiện trạng của sự bất công, phân biệt kẻ sang, người hèn, bắt “người hèn” sợ uy lực và khuất phục “kẻ sang”. Vì thế phải dùng cái “nhân”, cái “đức” của người cầm quyền để giáo hóa và trị dân, bằng sự áp đặt ý chí của kẻ có quyền buộc thần dân phải tuân theo, không thể dùng pháp luật vì sợ dân có thể dùng ngay pháp luật để chống lại mình. “Nhân trị”, “đức trị” chẳng qua là sự tùy tiện của người có quyền. May mắn mà người cầm quyền có “đức” có “nhân” thì dân được nhờ. Vô phúc vớ phải kẻ hôn quân, tên bạo chúa thì dân đành chịu vậy. Mà trò đời, đã nắm được quyền thì muốn giữ triệt lấy quyền ấy, mấy ai mà chịu “nhường ngôi”, “từ chức”! Thế nhưng nhìn lại lịch sử của đất nước từng là quê hương của “pháp gia” hay “nho gia” ấy, người ta nghiệm ra rằng, trong các cuộc “tranh bá, đồ vương”, những nước cố giữ lấy “pháp độ” thì sớm suy vong còn những nước chịu theo “pháp trị” thì hùng cường lên để có thể thôn tính các nước khác! Người ta càng hiểu ra rằng, chỉ hô hào đạo đức suông mà không tạo ra một cơ chế vận hành xã hội trên cơ sở pháp lý nhằm loại bỏ những hành vi phản đạo đức thì giống như điều mà C.Mác đã từng phê phán đạo đức do Phơbách đề xướng: “Đạo đức là sự bất lực đưa ra hành động”!

Thế nhưng, theo được tư tưởng của Hàn Phi không dễ, nghe được những khuyến cáo của Hàn Phi càng khó. Chính vì thế mà vốn là người dám nhìn thẳng vào sự thật với tất cả sự tàn nhẫn của nó, Hàn Phị biết chắc rằng nhất thiết phải nói, nhưng “nói ra để chết” chứ không phải để sống! Mà quả vậy, Tần Thủy Hoàng đọc tác phẩm của Hàn Phi đã từng nói: “Ta được làm bạn với con người này thì có chết cũng không uổng”, nhưng rồi chính Hàn Phi bị bức phải uống thuốc độc, chết trong ngục của nước Tần. Chính Hàn Phi đã thổ lộ tâm sự đó trong “nỗi phẫn uất của con người cô độc” để phân tích rõ về cái kết cục tất yếu mà mình phải hứng chịu vì “Kẻ sĩ biết đề cao pháp luật và thuật trị nước nắm lấy cái thế có năm cái thua”: Ở xa và không thân nhà vua, mới đến, nói trái ý nhà vua, bị coi khinh, đơn độc. Vì thế, “những kẻ sĩ có trí và có thuật biết đề cao pháp luật và những bọn hiện đang cầm quyền là những kẻ thù của nhau không thể cùng chung sống. Khi những bọn cầm quyền nắm lấy việc thì bên ngoài cũng như bên trong chỉ lo mưu lợi riêng mà thôi… những kẻ soi sáng pháp luật làm trái ý nhà vua nếu không bị quan lại giết ắt cũng bị thanh kiêm riêng giết vậy” (Hàn Phi Tử. Quyển IV, Thiên XI: Cô phẫn). Đừng quên rằng, thời kỳ chống “hữu phái” và “đại cách mạng văn hóa vô sản” diễn ra trên quê hương của nhà tư tưởng cổ đại hơn 2000 năm sau đã có đến hơn 550.000 “kẻ sĩ” các loại, những Hàn Phi thế kỷ XX, bị bắt và đưa đi đày!

Chẳng phải lịch sử đã lặp lại đó sao? Mà lặp lại trong bối cảnh văn minh, hiện đại hơn và cũng tàn nhẫn, thảm khốc hơn đó sao? Tuy nhiên, mặc cho những bước gập ghềnh của lịch sử, trong những thành tựu của văn hóa và văn minh mà loài người đạt được, thì pháp luật vẫn là dấu ấn đậm nét rất dễ nhận ra . Thực tiễn lịch sử cho thấy chỉ ở những quốc gia mà sự vận hành guồng máy xã hội dựa vào tính nghiêm minh của luật pháp, ở đấy mới có được sự ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa nhằm nâng cao chất lượng sống của con người, của đại bộ phận dân cư. Đương nhiên, ước nguyện của Montesquieu “Tôi sẽ là người sung sướng nhất đời nếu có cách gì làm cho người cầm quyền tăng thêm được tri thức về những việc họ phải quản lý và làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi họ tuân lệnh” vẫn đang là một câu hỏi chưa được giải đáp một cách thỏa đáng. Để đạt được điều đó người thực thi nhiệm vụ quản lý và người tiếp nhận sự quản lý đó phải cùng đứng trên một nền móng vững chắc của tư tưởng dân chủ pháp quyền trong nguồn mạch tư duy về triết học chính trị của Montesquieu:“Chỉ huy những người bình đẳng với mình và phục tùng con người mà mình bình đẳng với họ”

Chẳng thế mà người đồng hương với ông, Napoléon, từng ngạo ngược vỗ ngực mà rằng: “Nhà nước là ta”, thì cùng với sự khẳng định: “Nhà nước là cái gì ? Không ra cái gì cả, nếu nó không có dư luận”, nhà độc tài thông minh đó đã có một tuyên bố nổi tiếng: “Vinh quang thật sự của tôi không phải là đã chiến thắng 40 trận… mà là cái sẽ không phải mơ được! Cái sẽ sống vĩnh viễn là bộ Luật Dân sự của tôi”. Chẳng phải là ngẫu nhiên mà một danh tướng với võ công lừng lẫy từng đứng ở đỉnh cao chói lọi của những thiên tài quân sự thế giới, nhà vua Napoléon đệ nhất lại tự hào nhất về “bộ Luật Dân sự” của mình! Ngẫm cho kỹ, niềm tự hào ấy vừa ghi nhận một ánh lửa trí tuệ bừng lên trong bộ óc thiên tài biết cách duy trì lợi ích lâu dài của một đấng quân vương!

Vì xét cho cùng, bất cứ nhà cầm quyền nào cũng buộc phải có sự kết nối với dân, phải yên dân để có một xã hội ổn định, cho dù thực lòng mong muốn hay chỉ là thủ đoạn để giữ vững quyền lực thống trị của mình. Thực lòng, thì như vị võ tướng anh hùng mà nhân dân ta đã tôn làm bậc Thánh, Đức Thánh Trần với tư tưởng bất hủ: Ngày thường thì “khoan thư sức dân lấy kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước” để lúc lâm trận thì như “bậc thánh võ ở đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có lũy, chiến ở chỗ không có trận… tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được”. Còn thủ đoạn, thì dù có ngông cuồng đến đâu những kẻ cầm quyển cũng đều hiểu ra được một nguyên lý đơn giản “đẩy thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân”.

Tuy hiểu ra như vậy, nhưng khi đã ấm chỗ trên cái ghế quyền lực thì đúng như phân tích của một học giả Trung Quốc, Chi Fulin, Viện trưởng Viện nghiên cứu Cải cách và Phát triển Trung Quốc khi bàn về tham nhũng: “Quyền lực, đặc biệt là quyền lực chính trị thực hiện sự tham nhũng trong chính nó, đang cổ vũ những người sở hữu quyền lực đó nô dịch và đàn áp những người không có quyền”. Ông viện dẫn đến G. Bourdeau trong Đại Bách khoa Toàn thư Pháp (xuất bản năm 1900): “Như những gì C.Mác đã chứng minh, tự do chính trị chỉ là tự do hình thức, nhằm tạo ra bằng chứng ngoại phạm cho những người thực sự nắm giữ sức mạnh kinh tế và là những người duy nhất có thể sử dụng quyền tự do chính trị của họ”. (Kỷ yếu Hội thảo khoa học do Viện Quản lý Kinh tế TƯ tổ chức năm 2004)

Một học giả Trung Quốc khác, Đinh Học Lương, từ những dẫn giải trong cuốn sách “Sự hưng vọng của một quốc gia” của Mancur Olson đại học Maryland, Mỹ đưa ra luận điểm về “ những tập đoàn kinh tế lớn bắt làm con tin chính sách phát triển và chiến lược quốc gia”. Ông ta chỉ ra rằng: “Bất kỳ một quốc gia nào chỉ cần có thời gian ổn định chính trị đủ dài là sẽ xuất hiện những tập đoàn lợi ích đặc biệt, hơn nữa chúng sẽ trở nên ngày càng thành thục, có kỹ sảo… Vì kỹ sảo của chúng ta ngày càng thành thạo, nên lợi ích thu được ngày càng nhiều. Cuối cùng dần dần dẫn đến thể chế, chính sách tổ chức về các mặt như kinh tế, xã hội, hành chính, pháp luật… của quốc gia đó biến thành sự sắp xếp phù hợp nhất với tập đoàn lợi ích đặc biệt. Vì vậy, động lực mới của sự phát triển ngày càng bị kiềm chế, các ngành ngày càng xơ cứng, điều này tất dẫn đến sự suy vong của quốc gia” (Tạp chí “Quan sát” tháng 10.2008). Tác giả của luận điểm trên cũng giải thích rằng, ở các nước Âu Mỹ, chuyện thao túng các tập đoàn kinh tế lớn cũng diễn ra, song khác với Trung Quốc là chúng bị sự ràng buộc của môi trường pháp lý và thể chế pháp quyền. Chính cái đó kiềm chế cho các tập đoàn lợi ích đặc biệt không thể bắt làm con tin chính sách phát triển và chiến lược phát triển quốc gia lâu dài, mặc dù nó có thể ảnh hưởng một thời gian hoặc ở một nơi nào đó.

Những điều vừa dẫn giải nói trên nhằm nói lên vai trò của pháp luật, ý nghĩa của việc tạo ra một môi trường pháp lý nghiêm minh làm điểm tựa căn bản cho sự vận hành guồng máy xã hội là quan trọng và bức thiết đến nhường nào. Có thể nói, quá trình tạo ra một xã hội “sống và làm việc theo pháp luật” phải là một phấn đấu liên tục từ người cầm quyền cho đến mỗi công dân. Thiết tưởng ở đây cân nhắc lại khuyến cáo của chính V.I Lênin: “Ở giờ phút chiến đấu quyết liệt, kẻ nào chùn bước trước tính chất bất di bất dịch của pháp luật thì người đó là kẻ cách mạng tồi”*(V.I Lênin, Toàn tập, Tập 36 ,NXB Tiến bộ Matxcơva 1978, tr. 625). Mong sao ngày càng bớt đi những “người cách mạng tồi”.

Nhưng muốn vậy, phải có những bước đi vững chắc nhằm nâng cao tính nghiêm minh của pháp luật. Nếu vẫn kéo dài tình trạng“ở nước ta xử đúng cũng được, xử sai cũng được, xử hòa cũng được, xử thắng cũng được, xử thua cũng được…” như sự điều trần của một vị Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao trước phiên họp của Quốc hội; hoặc vẫn cứ để diễn ra sự thiếu hụt trầm trọng đội ngũ thẩm phán, những người nắm “cán cân công lý”, khiến phải “cố vơ vét, bổ nhiệm cho đủ” như trình bày cũng của một vị Chánh án Tòa án NDTC khác, người kế nhiệm vị Chánh án vừa dẫn ra kia, trước một phiên họp Quốc hội khác thì khó mà nói gì về tính nghiêm minh cần có của pháp luật! Thậm chí còn tệ hơn nếu “có khi lái xe, đánh máy đưa lên làm thẩm phán. Thế là lại phải cho họ đi học tại chức rồi về phải “đôn” họ lên? Rồi không chỉ có thế, “về hệ thống pháp luật, chúng ta đã cố gắng làm rất nhiều nhưng có phải tất cả các lĩnh vực xã hội đều đã có pháp luật điều chỉnh đâu. Các luật chuyên ngành có mâu thuẫn với luật gốc, luật cơ bản hay không? Các quy phạm đã rõ ràng rành mạch, hiểu theo một nghĩa chưa? Một quy định mà công an hiểu thế này, viện kiểm sát hiểu thế kia, tòa án hiểu thế khác, hội đồng sơ thẩm hiểu một kiểu, cuối cũng phải biểu quyết”(Pháp luật TP Hồ Chí Minh ngày 29-11-2006). Đây là những nghịch lý quá lớn cho việc thực hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Cùng với việc nâng cao chất lượng và sức mạnh của pháp luật, tạo ra môi trường pháp lý lành mạnh và công khai, nâng cao trình độ xét xử của tòa án, nâng cao năng lực và phẩm chất của những người đại diện và thực thi pháp luật thì việc đảm bảo tính minh bạch và công khai của chính sách và luật pháp là điều kiện không thể thiếu của việc hóa giải những nghịch lý nói trên. Xã hội hiện đại mà chúng ta đang xây dựng trước hết là một xã hội không thể tồn tại sự bưng bít thông tin và tập cho người ta chỉ được quen với chỉ một giọng nói, một kiểu nhìn, một cách nghĩ của một cái đầu! Sự phản hồi thông tin từ nhiều phía, nhiều người là không khí để thở của xã hội hiện đại. Chẳng thế mà ở Thụy Điển, “Quyền được tiếp cận với các văn bản chính thức” là một quyền được Hiến pháp quy định. Nguyên tắc về việc công chúng được quyền tiếp cận với các văn bản chính thức ấy được nói đến lần đầu tiên trong Luật về tự do báo chí 1976. Luật đó đã trở thành một Đạo luật có tính hiến định của nước này.

Với xã hội hiện đại, thì đạo luật về tự do báo chí có tính hiến định, một bước tiến dài của văn hóa và văn minh, là điều mà xã hội cổ truyền của ta xưa kia chưa thể biết đến. Chưa biết đến một công cụ của xã hội hiện đại nhằm nắm bắt mạch sống của xã hội, của đất nước là báo chí, song không thể nào một thể chế cai trị muốn ngồi vững trên cái ghế quyền lực lại cách ly với mạch sống ấy, ông cha ta đã từng vận dụng nhiều cách thức nhằm lắng nghe tiếng nói của dân. Chỉ gợi ra đây đôi điều cổ sử đã chép để hiểu về điều đó: Đại Việt sử ký Toàn thư, kỷ Nhà Lý chép việc năm 1029, Lý Thái Tông cho xây Điện Thiên An,“Thềm trước điện gọi là Long Trì (thềm rồng)… hai bên tả hữu thềm rồng đặt lầu chuông đối nhau để dân chúng ai có việc kiện tụng oan uổng thì đánh chuông lên” (Tập I, tr. 269). Lại chép: Năm Nhâm Thìn (1052). “Tháng ba, đúc chuông lớn để ở Long Trì, cho dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên” (Tập I, tr. 269). Cùng với việc đó, nhà Lý còn đặt ra “Tả, Hữu gián ngự đại phu” phải có nhiệm vụ can gián nhà vua. Đến thời Trần, đặt Gián nghị đại phu bên cạnh Ngự sử đài với chức năng “đàn hoặc các quan, nói bàn về chính sự hiện thời” mà theo Phan Huy Ích trong“Lịch triều hiến chương loại chí” thì “Ngự sử đài phong hóa pháp độ, chức danh rất trọng”. Đến thời Lê lại mở rộng diện Gián nghị đại phu để “phong cho bất cứ bề tôi nào dám nói thẳng với vua”“đàn hặc hành vi của các quan”! Xem thế đủ thấy, để duy trì một triều đại, một chế độ thì ngay trong nền chuyên chế phương Đông, thể chế cực quyền với chỉ một “Thiên tử”, thì tuy ông “con trời” thu tóm vào tay mình mọi quyền hành vẫn buộc phải tìm cách thu phục dân tâm, lắng nghe tiếng nói của “trăm họ” vì các “Thiên tử” chắc đều hiểu kỹ điều đã dẫn ra ở trên về sức dân như nước có thể đẩy thuyền mà cũng có thể lật thuyền.

Dẫn ra điều trên để hiểu ý nghĩa của việc hiện nay Luật về quyền được thông tin đang được xây dựng. Tuy rằng muộn, quá muộn khi mà non sông quy vào một mối đã 34 năm, chiến tranh đã lùi xa một phần ba thế kỷ, đất nước đang trong quỹ đạo phát triển của thế giới hiện đại, nhưng muộn còn hơn không, hy vọng rằng, đây sẽ là một bước tiến quan trọng góp phần to lớn vào sự phát triển vững chắc của đất nước. Trước hết, nó sẽ góp phần nâng cao dân trí và dân khí, điều kiện để tính nghiêm minh của pháp luật được thực hiện.

Đó chính là luồng sinh khí thổi vào xã hội, nguồn sinh khí ấy sẽ là một lực đẩy rất quyết định để dân tộc ta vượt qua những thử thách mà đi tới./ .

SOURCE: HÀ NỘI NGÀN NĂM

Trích dẫn từ:

http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Luat-Phap/Tinh_nghiem_minh_cua_phap_luat/

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: