NÂNG CAO VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TS. TÔ HUY RỨA

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát mà nước ta lựa chọn trong thời kỳ đổi mới. Nó vừa mang tính chất chung của kinh tế thị trường, vừa có những đặc thù, được quyết định bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm trong nước và thế giới về phát triển kinh tế thị trường, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước. Đảng ta đã xác định một cách nhất quán kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy, việc xác định một cách rõ ràng và nhất quán vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế đất nước là rất cần thiết.

Ở nước ta, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là xuất phát từ lợi ích của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là "hòn đá thử vàng" để xem xét sự đúng hướng hay chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước càng phát huy tốt vai trò chủ đạo bao nhiêu thì kinh tế – xã hội sẽ phát triển nhanh, góp phần thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" nhanh và vững chắc bấy nhiêu.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, hiện nay, trong thành phần kinh tế nhà nước các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí cơ bản và rất to lớn nhưng không ít đơn vị chưa xứng đáng với vai trò mà nó đang nắm giữ. Vẫn tồn tại những doanh nghiệp nhà nước không những không nuôi nổi người lao động của mình, mà còn luôn đòi được Nhà nước cứu trợ cho sự tồn tại của nó; số khác liên tục thua lỗ, dù đã hơn một lần được Nhà nước "khoanh nợ" hoặc trợ cấp vốn từ ngân sách. Sự phê phán của dư luận xã hội đối với kinh tế nhà nước chính là nhằm vào bộ phận những doanh nghiệp loại này. Xét từ góc độ lợi ích của xã hội mà Nhà nước là người đại diện, những doanh nghiệp nhà nước được nêu ở đây thật sự đang là những gánh nặng, cần giải quyết càng sớm càng tốt.

Nhưng ngoài những doanh nghiệp thuộc loại đó, nhiều doanh nghiệp nhà nước kinh doanh có hiệu quả và những doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực công ích đang góp phần thể hiện rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Đó là những "người lính đi đầu" trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong cuộc chiến chống đói, nghèo và tụt hậu; là chỗ dựa để Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngay cả những người "phản biện" nghiêm khắc nhất đối với các doanh nghiệp nhà nước cũng không thể phủ nhận được thực tế đó.

Tuy khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát triển, nhưng chúng ta không thể kỳ vọng nhiều vào các doanh nghiệp tư nhân trong nước hoặc nước ngoài đầu tư phát triển các ngành kinh tế như kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cung ứng những hàng hóa và dịch vụ quan trọng. Đó còn chưa kể đến việc giải quyết các vấn đề xã hội. Trước đây, nếu không dựa vào kinh tế nhà nước thì làm sao trong một thời gian tương đối ngắn, Liên Xô có thể trở thành cường quốc. Ngày nay, đâu phải nền kinh tế Trung Quốc chủ yếu là do các doanh nghiệp tư nhân và các "hộ chuyên" góp sức tạo thành. Ngay tại những nước tư bản phát triển nhất, kết cấu hạ tầng cũng vẫn phải do nhà nước đảm nhận xây dựng và vận hành. Chẳng hạn, ở Anh, dưới thời Thủ tướng M. Thát-chơ, người ta không thể nào tư nhân hóa được hệ thống đường sắt mà chỉ bán các nhà ga và những đoàn tàu; nước Mỹ cũng không thể rao bán NASA và các nhà máy điện hạt nhân cho những tập đoàn tư bản kếch sù, dù đó là Bô-ing hay Mai-crô-xốp… Bài học của Mê-hi-cô, do hành động theo "đơn thuốc" của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) là tư nhân hóa ồ ạt các doanh nghiệp nhà nước, đã dẫn đến thảm họa thế nào, chúng ta đều biết rõ. Vậy thì, ở một nước kém phát triển như Việt Nam, tư nhân nào có thể nâng cấp và làm mới các tuyến đường giao thông, các nhà máy điện và các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ; tư nhân hoặc liên doanh nào đến những xã vùng sâu, vùng xa để làm đường ô-tô, xây dựng trạm biến thế, để bán điện với giá tương đương như ở đô thị; hoặc khi thiên tai xảy đến, tư nhân nào có thể cứu hộ, trợ giúp được cả một địa phương, một khu vực?

Đất nước ta mới bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân. Khó khăn càng chồng chất, khi quan hệ hợp tác kinh tế với các đối tác quốc tế có trình độ phát triển cao hơn rất nhiều. Việc tiếp nhận, chuyển giao công nghệ phụ thuộc vào năng lực tiếp thu và khả năng nội sinh hóa công nghệ nhập khẩu. Tiềm lực khoa học và công nghệ yếu kém, lẽ đương nhiên, dễ gặp phải những khó khăn, rủi ro hơn trong việc thực thi các hợp đồng chuyển giao công nghệ cũng như các dự án góp vốn đầu tư hoặc nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Trong hoàn cảnh này, các đối tác nước ngoài có thể lợi dụng ưu thế của họ để khống chế các đối tác nội địa. Chính vì vậy, nếu không có một khu vực kinh tế nhà nước đủ mạnh thì Nhà nước không thể hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác vươn lên trong cuộc hợp tác và cạnh tranh với các đối tác nước ngoài. Dù không nói công khai, nhưng dưới nhiều hình thức, ở những nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po,… kinh tế nhà nước vẫn đóng vai trò "bà đỡ" cho các doanh nghiệp vào những giai đoạn khó khăn, nhất là trong chuyển giao công nghệ, liên doanh góp vốn với nước ngoài. Những năm gần đây, khi nền kinh tế trì trệ, các chính phủ Mỹ, Nhật Bản, không phải chỉ một lần, xuất dự trữ nhà nước mua cổ phiếu để cứu vãn một số công ty khi chúng bị chao đảo trên thị trường chứng khoán.

Để vươn lên nhằm thoát khỏi tình trạng của một nước kém phát triển bằng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế là hướng đi đúng của nước ta và không có con đường nào khác. Cuộc đấu tranh để bảo vệ sự lựa chọn con đường phát triển của mình trong hội nhập kinh tế quốc tế và thực tiễn những năm vừa qua càng cho thấy, nhất thiết không thể thiếu vai trò của kinh tế nhà nước, trong đó các doanh nghiệp nhà nước – yếu tố quan trọng nhất trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình xây dựng nền kinh tế quốc dân. Điều đó thể hiện trước hết ở chỗ, trong hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế Việt Nam sẽ phải hợp tác và cạnh tranh với hàng loạt các đối tác nước ngoài rất mạnh về vốn và công nghệ. Đương nhiên, các đối tác nước ngoài đó muốn ở Việt Nam sẽ chỉ còn lại những doanh nghiệp nhỏ làm vệ tinh, đại lý tiêu thụ cho chúng và không có khả năng cạnh tranh đáng kể với chúng. Chính vì thế, họ không mấy thiện cảm khi thấy chúng ta duy trì và củng cố các doanh nghiệp nhà nước cỡ lớn. Khi làm ăn với những đối tác có tiềm tực to lớn đó, nếu Việt Nam không có một khu vực kinh tế nhà nước đủ mạnh, sẽ khó có thể vừa hợp tác hiệu quả lại vừa giữ vững được sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội trên mỗi bước đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Kinh tế nhà nước phải đủ sức làm chỗ dựa cho Nhà nước "của dân, do dân và vì dân" trong việc điều tiết, phát triển nền kinh tế nhằm chủ động hơn nữa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích của đại đa số nhân dân, bảo đảm thống nhất giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội – một trong những tiêu chí then chốt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ góc độ lợi ích của chủ nghĩa xã hội, trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, rõ ràng vị trí quan trọng, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là điều không cần tranh luận, nhất là khi hiểu đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta: "kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân… Doanh nghiệp nhà nước giữ những vị trí then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ; nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế – xã hội và chấp hành pháp luật"(1). Điều cần làm hiện nay là, phải tiếp tục đổi mới các doanh nghiệp nhà nước. Ngoài việc giải thể không chậm trễ những doanh nghiệp không còn khả năng tự tồn tại, cần tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc giữ cổ phần chi phối của Nhà nước. Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp nhà nước do cấp tỉnh, thành phố quản lý, phải coi cổ phần hóa là giải pháp cấp thiết. Đã đến lúc các cấp ủy và tổ chức đảng, các cấp chính quyền cần nhanh chóng vào cuộc để đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và coi đây là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cấp bách.

Đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước cần nắm 100% vốn thì vấn đề số một là phải có những cơ chế bảo đảm để các doanh nghiệp này đủ sức vươn lên đóng vai trò "chủ lực quân" trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Muốn thế, việc bổ nhiệm tổng giám đốc doanh nghiệp nhà nước phải trên cơ sở giao khoán các nhiệm vụ và chỉ tiêu cụ thể, trước hết là yêu cầu bảo toàn vốn, tỷ suất lợi nhuận doanh nghiệp, đóng góp cho ngân sách nhà nước,… và có cơ chế ngăn chặn mọi sự can thiệp vô nguyên tắc vào hoạt động của doanh nghiệp.

Để các doanh nghiệp nhà nước có thể tăng sức cạnh tranh và ngăn ngừa nguy cơ "chảy máu chất xám", cần thực hiện nghiêm Luật Doanh nghiệp nhà nước, bảo vệ các quyền tự chủ của họ trong giải quyết các vấn đề về trả lương và các hình thức phân phối thu nhập phù hợp với khả năng của doanh nghiệp. Nhà nước chỉ quy định mức lương tối thiểu của người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, không hạn chế mức lương tối đa. Về mức lương tối đa và các loại hình khuyến khích vật chất tại doanh nghiệp nhà nước sẽ do đại hội công nhân, viên chức của doanh nghiệp quyết định theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Đây là một cơ chế bảo đảm và thúc đẩy doanh nghiệp nhà nước nâng cao năng suất lao động và nêu gương trước các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác về trả công cho người lao động. Và xét cho cùng, đây cũng là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, trước di sản "quốc doanh hóa tràn lan" để lại từ thời bao cấp, việc đổi mới, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước (ngành nào, quy mô nào là tối ưu và số lượng bao nhiêu là hợp lý) thật sự là việc cần kíp trong cải cách doanh nghiệp nhà nước. Nhưng chúng ta không thể không tìm cho ra lời giải.

Ở nước ta hiện nay, chính quyền cấp tỉnh, thành phố và các bộ, ngành không cần thành lập và quản lý các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh vì lợi nhuận, mà chỉ thành lập và quản lý các doanh nghiệp công ích theo quy định chung, có tính tới đặc thù của mỗi địa phương. Cần xem xét và xử lý hữu hiệu lại cơ chế cơ quan chủ quản của doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại tràn lan như hiện nay. Có lúc chúng ta cho rằng, đó là một sự phân cấp hợp lý trong điều kiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế. Nhưng thực tế ngày càng cho thấy, không phải bao giờ các cơ quan chủ quản cũng giúp các doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động; trái lại, nhiều khi lại gây phiền hà, làm trầm trọng thêm cơ chế "xin – cho"- một biến thể của cơ chế bao cấp trước đây, làm nảy sinh các tệ nạn tham nhũng, cửa quyền và lãng phí. Theo đó, vốn ngân sách của Nhà nước bị thất thoát do có quá nhiều cơ quan thực hiện chức năng cấp phát, khi vốn đến doanh nghiệp thì không còn đủ để thực thi những kế hoạch ban đầu. Vì lợi ích cục bộ của mình và của các doanh nghiệp nhà nước trong ngành, một số bộ, ngành đã cố ý tạo những kẽ hở trong việc đề xuất các văn bản pháp lý để bảo hộ, ưu đãi cho doanh nghiệp của ngành, gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc dân.

Do đó, xóa bỏ cơ chế chủ quản theo lối hành chính quan liêu, bao cấp đối với các doanh nghiệp nhà nước, để các doanh nghiệp này được tự chủ trong cơ chế thị trường và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng đồng vốn của Nhà nước trước các cơ quan tài chính là một giải pháp cần được áp dụng trong đổi mới doanh nghiệp nhà nước nói chung và trước hết là đối với các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí then chốt của nền kinh tế. Cần có cơ chế bảo đảm để phân định rạch ròi nhiệm vụ chính trị – xã hội mà Nhà nước giao cho với lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp.

Xây dựng cơ chế bảo đảm để các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường là rất quan trọng, nhưng đào tạo và tuyển chọn cho được đội ngũ những cán bộ quản lý doanh nghiệp ngang tầm cũng rất cần thiết. Trong quản lý doanh nghiệp, không thể chấp nhận những cán bộ có trình độ chuyên môn thấp, kém năng động, nhất là khi trao cho họ những doanh nghiệp có số vốn lớn hàng trăm tỉ đồng và hàng nghìn người lao động. Kinh doanh trên thương trường khốc liệt chẳng kém gì trên chiến trường. Quản lý doanh nghiệp nhà nước mang những đặc thù riêng, nhất là phải chấp hành hàng loạt những quy định riêng do Nhà nước đặt ra với tư cách là chủ sở hữu. Vì vậy, phát hiện và sử dụng các cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi khó hơn nhiều so với các loại hình cán bộ khác. Việc đào tạo cán bộ quản lý doanh nghiệp phải lấy tự đào tạo là chính, đào tạo qua trường lớp chỉ có vai trò ban đầu và hỗ trợ.

Vấn đề công chức hóa cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước cần được tiếp tục đổi mới hơn nữa. Cần nghiên cứu, tham khảo những kinh nghiệm của các nước tiên tiến trên thế giới trong vấn đề này: Tổng giám đốc của các hãng lớn kinh doanh toàn cầu hiện nay làm việc theo cơ chế gì mà hiệu quả sản xuất, kinh doanh vẫn được bảo đảm và lợi ích của chủ sở hữu vẫn được thực hiện, khi chủ sở hữu không mấy khi can thiệp vào hoạt động quản lý? Nên chăng, áp dụng chế độ thi tuyển để chọn giám đốc của từng doanh nghiệp nhà nước và chỉ bổ nhiệm có thời hạn dựa trên những điều kiện hợp lý mà các ứng cử viên đưa ra khi tham dự thi tuyển? Trong thực tế, ở nước ta có không ít cán bộ nhiều năm, thậm chí gần cả cuộc đời, suy tư, trăn trở về những ngành nghề mà họ say mê, về những phương thức, bước đi để kiến tạo những doanh nghiệp làm ra sản phẩm có thể cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả ở khu vực và thế giới. Những suy nghĩ đó có thể bắt nguồn từ chính những sai lầm và thất bại mà họ từng gánh chịu hoặc từ những gì họ thấy qua công việc kinh doanh của người khác, ở các nước khác. Khi vấn đề được đặt ra, họ sẽ tìm tòi bằng được những giải pháp để thực hiện nó. Cần có một cơ chế đủ sức hấp dẫn để thu hút những con người đầy tâm huyết và năng lực ấy vào đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước là một việc cấp bách, có ý nghĩa rất lớn. Sau gần 20 năm đổi mới, đội ngũ những người có đức, có tài sống bằng lao động chân chính ở nước ta cũng phát triển theo hướng đông hơn về số lượng và cao hơn về chất lượng. Có một cơ chế đủ sức thu hút nhân tài, tin tưởng, trao cho họ những cơ hội để thể hiện năng lực và lòng yêu Tổ quốc của mình, sẽ đưa đến những thành quả vô cùng to lớn.

Trên nền tảng chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, xây dựng một cơ chế quản lý hữu hiệu, kiến tạo được một đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp giỏi là mấu chốt của thành công.

Cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không thể thiếu khu vực kinh tế nhà nước vững mạnh, đủ khả năng đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong thành phần kinh tế nhà nước, không có những doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích và những doanh nghiệp giữ các vị trí then chốt của nền kinh tế quốc dân không thể tiến hành thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta sẽ thất bại, nếu để kinh tế nhà nước nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng, rơi vào tình trạng yếu kém kéo dài.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 55 NĂM 2004

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: