Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM: MẤY VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

LÊ HỮU NGHĨA

Từ nửa cuối thế kỷ XIX trong lòng chủ nghĩa tư bản với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đang thống trị đã bắt đầu xuất hiện một loại hình xí nghiệp mới – xí nghiệp cổ phần hay công ty cổ phần, mà sở hữu trong đó là của các cổ đông.

Trong các trước tác của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, chúng ta có thể tìm thấy những phân tích sâu sắc về thực chất quá trình hình thành loại hình công ty cổ phần trong lòng chủ nghĩa tư bản ở Tập III của Bộ "Tư bản" (1). Tập này đã được Ph.Ăng-ghen biên tập và cho xuất bản vào năm 1894, sau khi C.Mác qua đời. Trong đó đáng lưu ý ở sự tiên đoán về hai khuynh hướng quan trọng của sự xuất hiện các công ty cổ phần trong xã hội tư sản:

Thứ nhất

, dưới chủ nghĩa tư bản, C.Mác chỉ ra rằng công ty cổ phần ra đời là sự manh nha của một hình thức sản xuất mới, sẽ đưa đến việc lập ra chế độ độc quyền và đưa đến sự can thiệp của nhà nước tư sản. Khi xuất bản tác phẩm này Ph.Ăng-ghen có bổ sung thêm một số ý như: Các-ten ra đời xóa bỏ tự do cạnh tranh. Trong một số ngành mà trình độ sản xuất cho phép làm được, người ta đã đi đến tập hợp trong toàn bộ sản xuất của ngành đó vào một công ty cổ phần lớn duy nhất có một sự lãnh đạo thống nhất (ví dụ, sản xuất a-mô-ni-ắc của cả nước Anh vào tay một hãng duy nhất, tư bản lưu động được đưa ra mời công chúng góp). Chính trong quá trình này sẽ phát sinh ra một loại ăn bám mới, – quý tộc tài chính mới và cả một hệ thống lừa đảo và bịp bợm về việc sáng lập, phát hành và buôn bán cổ phiếu.

Sự xuất hiện công ty cổ phần lần đầu tiên trong lịch sử của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho quyền sở hữu tư bản hoàn toàn tách rời với chức năng của tư bản trong quá trình tái sản xuất thực tế. Tiền công lao động của người quản lý cộng với lợi nhuận doanh nghiệp về tay nhà tư bản cổ phần, tức là các cổ đông, được thu về dưới dạng lợi tức cổ phần. Thực chất đây là tiền thù lao trả cho quyền sở hữu tư bản, biến những người sở hữu tư bản thành những người sở hữu thuần túy, nghĩa là những nhà tư bản – tiền tệ thuần túy. Những đặc điểm cổ điển của nhà tư bản đã được biến đổi thành một người chỉ giản đơn điều khiển và quản lý tư bản của những người khác.

Thứ hai

, xuất hiện những tiền đề thủ tiêu tư bản với tư cách là sở hữu tư nhân ở ngay trong những giới hạn của bản thân phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Các công ty cổ phần là điểm quá độ để biến tất cả những chức năng của quá trình tái sản xuất hiện còn gắn liền với quyền sở hữu tư bản đơn giản thành những chức năng của những người sản xuất liên hiệp, tức là thành những chức năng xã hội. Công ty cổ phần ra đời là sự thủ tiêu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ngay trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở đó, xuất hiện mâu thuẫn tự nó lại thủ tiêu nó và đây chính là giai đoạn quá độ sang một phương thức sản xuất mới: "một phương thức sản xuất mới phải nảy ra và phát triển trên cơ sở một phương thức sản xuất cũ"(2).

Theo C.Mác, chính bản thân những công ty cổ phần của công nhân như là một loại nhà máy hợp tác, và đây chính là một lỗ thủng đầu tiên trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa. Sự đối kháng giữa lao động làm thuê và chủ tư bản đã được xóa bỏ trong phạm vi những nhà máy hợp tác đó; mặc dầu ban đầu nó chỉ được xóa bỏ bằng cách biến những người lao động liên hiệp thành những "nhà tư bản" với chính bản thân mình, nghĩa là cho họ "có thể dùng tư liệu sản xuất để bóc lột lao động của chính họ".

Thực chất của quá trình hình thành các công ty cổ phần là sản xuất tư nhân không còn có sự kiểm soát của quyền sở hữu tư nhân. Những tư liệu sản xuất này sẽ không còn là tư liệu và sản phẩm của nền sản xuất tư nhân nữa, mà sẽ chỉ có thể là tư liệu sản xuất trong tay những người sản xuất liên hiệp, tức là chỉ có thể là sở hữu xã hội của họ, cũng như chúng là sản xuất xã hội của họ.

Cả hai khuynh hướng trên, tức là những xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, cũng như những nhà máy hợp tác, theo C.Mác, đều phải được coi là những hình thái quá độ từ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa sang phương thức sản xuất tập thể. Nhưng điểm khác nhau căn bản giữa hai khuynh hướng trên là: "trong xí nghiệp cổ phần tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn được giải quyết một cách tiêu cực, còn trong những nhà máy hợp tác, mâu thuẫn được giải quyết một cách tích cực".

Thời đó, C.Mác cũng đã đề cập đến các xí nghiệp của các nhà nước tư sản cũng có thể trở thành các công ty cổ phần để tăng thêm quy mô sản xuất của chúng. Vì rằng, công ty cổ phần ra đời đã làm cho quy mô sản xuất có thể được tăng lên, mở rộng một cách to lớn, đến nỗi những tư bản riêng lẻ không thể làm nổi. Ngay cả những xí nghiệp của nhà nước (của chính phủ) cũng được tổ chức thành công ty cổ phần, tham gia vào công ty cổ phần.

Trong quá trình phát triển lịch sử của chủ nghĩa tư bản, do những điều chỉnh thích nghi để bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, cố gắng duy trì sự tồn tại chủ nghĩa tư bản trên thế giới nên khuynh hướng thứ nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn. Chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh đã chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc.

Ở các tác phẩm của V.I. Lê-nin, các hình thức của công ty cổ phần ít được bàn đến, ngay cả trong quá trình thực hiện Chính sách kinh tế mới. Trong quá trình này V.I. Lê-nin đề cập rất nhiều đến chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và sự vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh cụ thể của nước Nga Xô-viết thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước. Trong đó, V.I. Lê-nin cho rằng, việc nhà nước Xô-viết có thể chỉ cần nắm khoảng 25% cổ phần là có thể chi phối được các cổ đông tư nhân khác trong các xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước.

Một luận điểm rất đáng lưu ý của V.I. Lê-nin những năm 20 của thế kỷ XX về các hình thức hợp tác xã được thể hiện trong tác phẩm: "Bàn về chế độ hợp tác xã" là: "Dưới chủ nghĩa tư bản tư nhân, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, cũng như xí nghiệp tập thể khác với xí nghiệp tư nhân. Dưới chủ nghĩa tư bản nhà nước, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp tư bản nhà nước, trước hết ở chỗ nó là xí nghiệp tư nhân, sau nữa ở chỗ nó là xí nghiệp tập thể. Dưới chế độ hiện nay của chúng ta, xí nghiệp hợp tác xã khác với xí nghiệp tư bản tư nhân, ở chỗ nó là xí nghiệp tập thể, nhưng nó không khác xí nghiệp xã hội chủ nghĩa, nếu miếng đất trên đó nó được xây dựng và những tư liệu sản xuất đều thuộc về nhà nước, nghĩa là về giai cấp công nhân"(3).

Như vậy, chứng tỏ sự xuất hiện công ty cổ phần về mặt lịch sử là bước tiến từ sở hữu tư nhân lên sở hữu tập thể của các cổ đông. Còn ở nước ta, việc thiết lập mới các công ty cổ phần hay cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước hiện nay không phải là tư nhân hóa, mà là sự hình thành các doanh nghiệp đa sở hữu cho mọi thành phần kinh tế có thể tham gia, hợp tác cùng chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro thị trường và cùng hưởng lợi trong điều kiện có Đảng Cộng sản lãnh đạo, Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý.

Ở nước ta, ngoài quá trình hình thành các công ty cổ phần từ những cổ đông là các chủ sở hữu vốn tư nhân lập nên theo Luật Doanh nghiệp, thì một bộ phận rất quan trọng các công ty cổ phần được hình thành từ những doanh nghiệp nhà nước.

Mục tiêu của quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã được Đảng ta xác định: đây là phương tiện để vừa đạt được mục tiêu phấn đấu, vừa khẳng định chức năng nhiệm vụ trước mắt cũng như lâu dài của doanh nghiệp nhà nước, cụ thể như:

– Doanh nghiệp nhà nước phải được sắp xếp làm sao để hiệu quả hoạt động cao hơn, có tính cạnh tranh cao hơn, có tăng trưởng phù hợp với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Các doanh nghiệp nhà nước phải góp phần quan trọng bảo đảm sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh và phúc lợi xã hội.

Trong quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX) về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng đã khẳng định "… đẩy mạnh cổ phần hóa những doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước"(4). Điều đó nói lên tầm quan trọng của giải pháp (một trong 5 giải pháp cơ bản đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 nêu ra) tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cũng như những chủ trương mới đây trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX) và Chỉ thị số 45/CT-TƯ, ngày 22-10-2004 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Thực tế ở nhiều doanh nghiệp cho thấy, nếu làm tốt cổ phần hóa sẽ tháo gỡ được ba vướng mắc, đó là :

– Tình trạng "cha chung không ai khóc" đối với tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, hay lĩnh vực hoạt động của chúng không thuộc diện Nhà nước phải nắm giữ 100% vốn;

– Về phương thức quản trị kinh doanh và cơ chế quản lý doanh nghiệp; về vai trò, vị trí của hội đồng quản trị và quan hệ giữa hội đồng với giám đốc điều hành, phát huy quyền làm chủ tập thể của người lao động và các cổ đông…;

– Vấn đề tạo động lực phát triển cho loại hình doanh nghiệp mới – doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó có thể có sở hữu của Nhà nước dưới dạng cổ phần chi phối hoặc không chi phối.

Chủ trương của Đảng về việc triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước từ Đại hội VIII của Đảng đã được khẳng định: cổ phần hóa "… không phải để tư nhân hóa". Thế nhưng, chính sự khác nhau về quá trình dẫn đến sự hình thành các công ty cổ phần theo trình tự khách quan và trong thực tiễn cải cách doanh nghiệp nhà nước ở nước ta đã làm cho không ít người (kể cả trong và ngoài nước) lầm tưởng rằng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là tư nhân hóa. Những nhận thức như vậy, cùng với những vướng mắc và thiếu sót, lệch lạc trong quá trình cổ phần hóa, đang có tác động không thuận đến quá trình tiến hành cổ phần hóa trên thực tế với các biểu hiện như sau:

– Việc bán cổ phần thiếu sự công khai, minh bạch còn khép kín trong nội bộ doanh nghiệp ở một số trường hợp đã dẫn đến những yếu kém của doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa và chậm được khắc phục;

– Chần chừ không muốn cổ phần hóa để cố trì hoãn sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước với mục đích đeo bám lấy "bầu sữa" của bao cấp, không dám nghĩ, dám làm, mặc dù hiệu quả hoạt động thấp, kéo dài trong nhiều năm;

– Không ít cán bộ cấp trên sợ mất quyền quản lý đối với doanh nghiệp trực thuộc, vì gắn với nó là lợi ích cá nhân, cục bộ;

– Tìm cách đánh giá sai, thiếu công tâm, khách quan giá trị thực của số tài sản hiện có đối với doanh nghiệp nhà nước thuộc diện cổ phần hóa theo hướng có lợi cho một số cá nhân;

– Khi đã tiến hành cố phần hóa xong, tìm mọi cách để thôn tính dần số cổ phiểu của cổ đông là Nhà nước, mua gom số cổ phiếu khác dưới nhiều thủ đoạn rất tinh vi nhằm thâu tóm quyền lực, thao túng công ty cổ phần dưới nhiều hình thức;

– Lo ngại rằng sau khi công nhân được bán ưu đãi cổ phiếu sẽ đem bán cho những người đầu cơ cổ phiếu;

– Lo sợ các công ty, các nhà tư bản nước ngoài đầu cơ cổ phiếu để thao túng doanh nghiệp cổ phần hóa mà không hiểu rằng, chỉ có một số doanh nghiệp nhà nước khi được đưa vào thực hiện cổ phần hóa, thì trong đó cũng đã quy định một lượng cổ phiếu nhất định được bán ra bên ngoài và khống chế tỷ lệ phần trăm cổ phiếu tối đa của một cổ đông được quyền nắm giữ với mục đích là để huy động thêm vốn, công nghệ và kỹ thuật quản lý sản xuất, kinh doanh, thị trường…;

– Lo ngại cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước sẽ dẫn đến "chệch hướng", mà không nhận thức được rằng, nếu không có giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh tốc độ phát triển của đất nước thì tụt hậu xa hơn về kinh tế cũng là một nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Những biểu hiện trên không phải không có cơ sở, nhưng không thể vì những lo ngại đó và vì lợi ích cục bộ mà chần chừ, thiếu kiên quyết "đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và mở rộng diện các doanh nghiệp nhà nước cần cổ phần hóa" như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX) và Chỉ thị 45/CT-TƯ của Đảng đã chỉ rõ. Cần khẳng định rằng, trong điều kiện Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý, cổ phần hóa ở nước ta về bản chất không phải là tư nhân hóa. Tuy nhiên, chúng ta cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết, rút kinh nghiệm quá trình cổ phần hóa vừa qua, uốn nắn kịp thời những lệch lạc, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Mặt khác, phải thấy rằng quá trình cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước ở nước ta, tuy là quá trình chuyển đổi một bộ phận thuộc sở hữu xã hội, sở hữu toàn dân, thành đa sở hữu, nhưng về bản chất đây là một trong những nội dung quan trọng của quá trình hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Cụ thể là tìm tòi một hình thức quản trị công ty cổ phần vừa phát huy quyền lợi thiết thân và trách nhiệm đầy đủ của những người lao động, cổ đông, hội đồng quản trị của công ty cổ phần, vừa bảo đảm quản lý một cách dân chủ, nâng cao hiệu quả sử dụng những tài sản của doanh nghiệp, trong đó có một phần đáng kể hay cổ phần chi phối của sở hữu nhà nước.

Từ sở hữu của một chủ là Nhà nước đối với tài sản của doanh nghiệp sau khi chuyển sang công ty cổ phần thì chuyển thành hình thức đa sở hữu, nhưng tựu trung cũng chỉ có một số hình thức cụ thể, như sau:

– Các hình thức cổ phần hóa trong đó nhà nước đều có tham gia cổ phần, như giữ nguyên giá trị của doanh nghiệp, kêu gọi thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu; hoặc vừa bán một phần vốn, vừa phát hành thêm cổ phiếu;

– Bán một phần tài sản của doanh nghiệp dưới hình thức bán cổ phiếu;

– Cổ phần hóa một bộ phận của doanh nghiệp tùy theo đặc thù của quy trình công nghệ, cổ phần hóa một công ty hoặc một tổng công ty.

Các hình thức cổ phần hóa nêu trên đều có tỷ trọng sở hữu của Nhà nước hoặc là Nhà nước nắm giữ cổ phiếu khống chế (tối thiểu là 51%), hoặc không nắm giữ cổ phiếu khống chế, hoặc không cần nắm giữ cổ phần.

– Loại hình doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nước lấy lại toàn bộ vốn bằng cách bán toàn bộ doanh nghiệp cho người lao động.

Chúng ta biết rằng dù dưới hình thức nào, khi chuyển sang công ty cổ phần là tạo ra các doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó người lao động có sở hữu thực sự, từ đó tạo ra quyền làm chủ đích thực của họ đối với doanh nghiệp. Khi đã có lợi ích thiết thân của chính họ, sự giám sát tập thể đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ được tăng cường và chính quá trình này cũng tạo ra cơ chế phân phối hài hòa giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động. Trên cơ sở đó hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ có điều kiện được nâng dần lên. Trong tương lai, sở hữu cổ phần sẽ trở thành phổ biến trong xã hội, thì vai trò làm chủ của người lao động dưới hình thức "tham dự" cổ phiếu đối với sở hữu xã hội về vốn và tư liệu sản xuất, hy vọng, sẽ khắc phục được những hạn chế của hình thức sở hữu toàn dân theo kiểu "vô chủ" như đã từng diễn ra.

Như vậy, về mặt lý luận, chúng ta có thể chứng minh được rằng toàn bộ nội dung và bản chất của quá trình cổ phần hóa ở nước ta không phải là tư nhân hóa. Riêng hình thức thứ tư, bán toàn bộ tài sản doanh nghiệp, ý kiến cho đây là tư nhân hóa dựa vào mấy lý do sau: trước hết, về mặt hình thức là bán toàn bộ tài sản nhà nước cho cá nhân; tiếp theo là giả sử người lao động nắm cổ phần rồi, nhưng sau một thời gian do quá trình trao đổi, tích tụ, đầu cơ trên thị trường chứng khoán nên số cổ phiếu ấy có thể sẽ dồn lại cho một số ít các cá nhân. Điều lo ngại đó là chính đáng, nhưng cũng phải thấy rằng, trong kinh tế thị trường quyền bán là có thể quy định được bằng các văn bản pháp luật, nhưng giá trị của cổ phiếu lại hoàn toàn lệ thuộc vào hiệu quả hoạt động của công ty cổ phần, nó có thể lên đến hàng trăm lần giá giao dịch ban đầu, nhưng cũng có thể chỉ còn là một mớ "giấy lộn" nếu doanh nghiệp tiếp tục hoạt động kém hiệu quả, dẫn đến nguy cơ phá sản.

Tinh thần chỉ đạo của các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 và 9 (khóa IX) cũng như khi hoạch định chính sách, những vấn đề nêu trên trong quá trình cổ phần hóa đã được lường trước và đã tính đến việc làm sao dành một phần vốn của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp trong quá trình bán nhằm tạo ra một lượng cổ phiếu không chia dành cho người lao động (nghĩa là vốn của Nhà nước, nhưng người lao động được hưởng cổ tức)…

Theo tinh thần các nghị quyết của Đảng, Nhà nước dành 30% tài sản của doanh nghiệp để hình thành các cổ phần ưu đãi, cho không người lao động. Điều này trong thực tế hiện nay, ở các doanh nghiệp được cổ phần hóa tỷ lệ đó thậm chí còn cao hơn khi tạo ra các cổ phiếu không chia.

Như vậy, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước chính là tạo điều kiện cho Nhà nước tập trung nắm những ngành, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, cũng như những lĩnh vực mà khu vực kinh tế tư nhân không thể hoạt động hiệu quả được. Và như vậy, bán toàn bộ tài sản chỉ được áp dụng đối với những ngành, những lĩnh vực, những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ. Nhà nước bán doanh nghiệp là nhằm thu hồi vốn về cho Nhà nước.

Quan điểm khi thực hiện cổ phần hóa là lĩnh vực nào các thành phần kinh tế khác có khả năng đem lại hiệu quả cao hơn so với doanh nghiệp nhà nước mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn thì mạnh dạn thực hiện, bởi Đảng ta coi các thành phần kinh tế đều là những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là để không ngừng nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các thành phần kinh tế, tạo môi trường kinh doanh, – sân chơi do Nhà nước tạo ra, bảo đảm sự bình đẳng trong cạnh tranh để đạt được hiệu quả cao, phát triển nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Việc phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chính là để bảo đảm chắc chắn cho mục tiêu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa IX) nêu rõ: "Kinh tế nhà nước có vai trò quyết định trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước"(5). Bởi vậy, có thể nói, gấp rút nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của chính bản thân doanh nghiệp nhà nước là để góp phần thực hiện tốt mục tiêu trên. Những biện pháp, giải pháp mà Trung ương đã đề ra có chung một mục tiêu như vậy. Chương trình hành động của Chính phủ, các đề án sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước của các ngành, các địa phương đã đưa ra lộ trình cụ thể. Hy vọng rằng tới đây, cùng với việc thực hiện thành công 104 đề án sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; cũng như soát xét lại các lĩnh vực mà doanh nghiệp nhà nước cần nắm giữ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 (khóa IX) của Đảng và Quyết định số 155/QĐ-TTg, ngày 24-8-2004 của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, các địa phương sẽ tạo điều kiện tốt hơn để các doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế.


(1) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t 25 Phần I, tr 666 ố 675 (2) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, tr 673 (3) V. I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mát-xcơ-va, 1978, t 45, tr 427 (4) Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 7 (5) Nghị quyết đã dẫn, tr 6

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 71 NĂM 2004

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: