Bạn sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết đi như một bản sao (Khuyết danh)

CHÍNH TRỊ – ĐẠO ĐỨC VÀ CHÍNH TRỊ – KINH TẾ

PGS. HÀ THÚC MINH

Ai cũng biết đổi mới có nghĩa là chuyển biến từ cái cũ sang cái mới. Chuyển biến hay đổi mới hiện nay không phải chỉ đơn thuần là sự thay đổi thông thường của lịch sử mà chính là sự chuyển hình xã hội (social information) chưa từng có đang trở thành hiện tượng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước, trong đó có nước ta. Lịch sử sẽ bị kéo ở hai đầu nếu như không nhận thức, lý giải đúng đắn đặc điểm của bước chuyển xã hội hiện thời.

Xã hội ở nước ta chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu nhìn rộng hơn thì đó là sự chuyển hóa giữa hai loại hình văn hóa "chính trị – đạo đức" và "chính trị – kinh tế". Loại hình chính trị – đạo đức là loại hình văn hóa truyền thống tồn tại suốt chiều dài của xã hội phong kiến phương Đông. Đặc điểm của nó là chính trị hay hệ thống chính trị quan hệ mật thiết với đạo đức như hình với bóng. Cho nên có thể nói không có gì là quá đáng nếu cho rằng chính trị ở đây là chính trị – đạo đức và đạo đức cũng là đạo đức – chính trị.

Tại sao như vậy? Một trong những đặc điểm quan trọng của tồn tại xã hội ở phương Đông là quan hệ huyết thống bền chặt cho đến tận ngày nay, trong khi ở phương Tây, quan hệ huyết thống đã bị phai nhạt và "bốc hơi" gần hết sau thời kỳ gọi là "văn hóa phục hưng". Qua đó, có thể giải thích vì sao loại hình văn hóa chính trị – đạo đức lại có sức sống lâu dài như vậy ở phương Đông. Từ thời cổ đại, cách ngày nay hơn ba nghìn năm, nhà nước hay hệ thống chính trị đã nảy mầm trên mảnh đất chằng chịt quan hệ huyết thống xa gần.

Nếu nhìn xa hơn nữa, ngay ở thời kỳ bộ lạc nguyên thủy cũng đã xuất hiện sợi dây quan hệ giữa huyết thống và cái gọi là "chính quyền" một cách "tự phát". Người đứng đầu bộ lạc thường cũng là người có vị trí cao nhất trong quan hệ huyết thống. Cho nên từ rất sớm người ta đã biết rằng nối kết chính trị – đạo đức sẽ tạo thành sức mạnh vững chắc cho bộ máy nhà nước. "Hiếu" và "trung" là hai phạm trù cơ bản của đạo đức và chính trị. Một bên là "nhà" và một bên là "nước". "Nhà" là nước thu hẹp, "nước" là nhà mở rộng, cho nên "hiếu" chỉ là sự thu hẹp của "trung" và "trung" chẳng qua cũng chỉ là sự mở rộng của "hiếu" mà thôi. "Hiếu" và "trung" ở Trung Quốc cổ đại là bí quyết trường sinh của chế độ đẳng cấp tông tộc, còn ở nước ta thì "hiếu" và "trung" thống nhất trong cùng một "kênh" đã trở thành động lực mạnh mẽ đối với sự nghiệp giữ nước, dựng nước suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Từ "nợ nước, thù nhà" của Hai Bà Trưng đầu công nguyên, "Hịch tướng sĩ" của Trần Hưng Đạo, cho đến "tiểu hiếu", "đại hiếu" mà Nguyễn Trãi được giáo huấn từ Nguyễn Phi Khanh… đều thể hiện quan niệm truyền thống của dân tộc về quan hệ giữa "nước" và "nhà".

Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thoát thai từ xã hội phong kiến, tiền tư bản, đương nhiên không nhiều thì ít cũng phải "kế thừa di sản" mà người trước đã để lại C.Mác đã nhiều lần nói rất rõ về điều đó:

"Lịch sử chẳng qua chỉ là sự nối tiếp của những thế hệ riêng rẽ, trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả các thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục phương thức hoạt động được truyền lại, nhưng trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi"(1)

"Người ta có được tự do lựa chọn hình thức này hay hình thức kia của xã hội không? Hoàn toàn không"(2)

"Cũng chẳng cần phải nói thêm rằng người ta không được tự do lựa chọnnhững lực lượng sản xuất của mình – những lực lượng hợp thành cơ sở của toàn bộ lịch sử của họ – vì mỗi một lực lượng sản xuất là một lực lượng đã đạt được, tức là sản phẩm của hoạt động đã qua. Như vậy, lực lượng sản xuất là kết quả của năng lực thực tiễn của con người; nhưng bản thân năng lực này lại bị giới hạn bởi những điều kiện trong đó người ta sống, bởi những lực lượng sản xuất đã gom góp được từ thế hệ này qua thế hệ khác, bởi hình thức xã hội đã có trước họ và không phải do họ tạo ra, mà do thế hệ trước tạo ra. Đơn giản là bởi vì mỗi một thế hệ sau đã có sẵn những lực lượng sản xuất do thế hệ trước gây dựng nên"(3)

Thực ra "tả" khuynh và "hữu" khuynh một phần cũng là do nhận thức không đúng về cái mà thế hệ trước đã để lại. Nghĩa là không biết mình đang ở đâu trên chặng đường lịch sử, cho nên hoặc là chỉ muốn "một bước tới trời", hoặc là do dự không quyết đoán chỉ "chờ thời, đợi vận". Loại hình văn hóa "chính trị – đạo đức" truyền thống là tiền đề hiện thực chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức. Trong cách mạng dân tộc, dân chủ, nó không những không phải là sức ỳ mà chính nó cũng đã góp phần tạo thành động lực to lớn đối với công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước. Người Việt Nam thường gọi Chủ tịch Hồ Chí Minh là "cha già của dân tộc", là "Bác Hồ", còn "Bác Hồ" lại gọi những cộng sự là "các cô", "các chú"… chẳng khác gì một đại gia đình. Hình như trên thế giới này chưa nước nào lại có biểu hiện "nước" và "nhà" chặt chẽ, thân thiết đến như vậy. Đó chính là truyền thống văn hóa của Việt Nam, truyền thống đoàn kết chống ngoại xâm gắn chặt với quan hệ huyết thống. Loại hình văn hóa chính trị – đạo đức có sứ mệnh lịch sử của nó, nghĩa là nó vẫn luôn tồn tại trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, nhưng lịch sử là lịch sử, là thời gian, cho nên, như Mác đã nói: "lịch sử tự nhiên chân chính của con người" bao giờ cũng phải "tự tước bỏ mình một cách có ý thức"(4). Xin lưu ý là tước bỏ chứ không vứt bỏ, càng không phải lúc nào cũng khẳng định. Sai lầm của Hê-ghen chính là đã từ bỏ phủ định biện chứng để thay thế bằng khẳng định siêu hình đối với sự vĩnh hằng của nhà nước Phổ lúc bấy giờ. Hãy nhớ lời dạy của Lê-nin rằng phần lớn những khuyết điểm là do kéo dài ưu điểm. Đó là loại hình chính trị – đạo đức ở phương Đông, còn ở phương Tây thì không giống như vậy.

Trong khi loại hình văn hóa chính trị – đạo đức ở phương Đông còn đang bền chặt hơn bao giờ hết thì ở phương Tây lịch sử đã tự tước bỏ loại hình "chính trị – tôn giáo" để chuyển sang loại hình "chính trị -kinh tế". "Kinh tế thị trường" thực ra là tên gọi khác của loại hình chính trị – kinh tế. Vào thế kỷ XV, phát kiến khoa học, thực nghiệm (experiment) và dân chủ làm cho chân lý từ kinh Thánh khép kín bước ra cuộc sống thoáng mở, làm cho con người từ bàn tay của thượng đế siêu nhiên trở về với sự phát triển tự nhiên. Con người tồn tại trước hết là cần phải thỏa mãn dục vọng tự nhiên của mình, cho nên Mác mới nhận xét rằng: "Dục vọng là lực lượng bản chất của con người kiên quyết hướng về đối tượng của mình"(5).

Dẫu sao, kinh tế thị trường cũng đã thực hiện bản chất tự nhiên đó của con người, đã làm cho sản xuất một ngày bằng hai mươi năm trước đó cộng lại. Sở dĩ kinh tế thị trường làm được điều đó, hay nói như Mác-xơ Vê-bơ (1864-1920) sở dĩ chủ nghĩa tư bản ở phương Tây xuất hiện sớm hơn ở phương Đông, trong khi điều kiện khách quan của hai bên không khác nhau là mấy, là do loại hình chính trị – kinh tế tuy đã "tước bỏ" loại hình "chính trị – tôn giáo" nhưng chính Cơ đốc giáo lại là tác nhân thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. Nếu nhận xét của Vê-bơ là đúng thì đó cũng là biểu hiện sự kế thừa giữa hai loại hình ở phương Tây.

Thực ra, kinh tế thị trường không phải của riêng ai, không phải chỉ là thuộc tính của chủ nghĩa tư bản mà là quá trình phát triển lịch sử "tự nhiên chân chính" của nhân loại. Nhưng đến lượt nó, nó cũng phải "tự" hay "bị" tước bỏ. Tuy nhiên, hơn 500 năm nay và có lẽ còn lâu hơn nữa, nó vẫn đang "tự" tước bỏ để khỏi "bị" tước bỏ.

Điểm tựa của loại hình chính trị – đạo đức là ý thức hệ hay hệ tư tưởng. Nho giáo là ý thức hệ của xã hội phong kiến Việt Nam, đỉnh cao của nó là ở thời Lê. Ý thức hệ là điểm tựa, là cột trụ của hệ thống chính trị của loại hình chính trị – đạo đức. Hệ thống chính trị ổn định hay không là tùy thuộc vào ý thức hệ, thực chất là đạo đức, chứ không phải tùy thuộc vào kinh tế hay pháp luật. Ở Việt Nam có hai bộ luật nổi tiếng, đó là Luật Hồng Đức và Luật Gia Long. Nhưng cơ sở của cả hai bộ luật này đều là quan hệ huyết thống, hay nói đúng hơn là bắt đầu từ chữ "hiếu". "Bất hiếu" bị xem là một trong mười tội ác lớn nhất. Cho nên luật pháp có lẽ chỉ là cái "dưới đạo đức". Chính trị ở đây không phải như ở phương Tây là "biểu hiện tập trung của kinh tế" mà có lẽ chỉ là biểu hiện "phân tán" hay gián tiếp của kinh tế mà thôi. Xã hội phong kiến là xã hội đẳng cấp, còn xã hội tư bản là xã hội chỉ có giai cấp chứ không có đẳng cấp. Cho nên Lê-nin nhận xét rằng bóc lột dưới chế độ phong kiến là bóc lột "siêu kinh tế" chứ không phải bóc lột kinh tế như ở xã hội tư bản. Loại hình chính trị – kinh tế khác với loại hình trên ở chỗ điểm tựa của nó không phải là ý thức hệ, càng không phải là ý thức hệ dựa vào đạo đức. Đương nhiên chẳng có nhà nước nào không quan tâm đến tư tưởng. Nhưng sự ổn định và phát triển của hệ thống chính trị thuộc loại hình này chủ yếu phụ thuộc vào kinh tế và pháp luật – vệ sĩ của kinh tế. Khẩu hiệu của loại hình trước là "sống theo gương", khẩu hiệu của loại hình sau là "sống theo luật". Một bên thường đề cao đạo đức, động cơ, tính cộng đồng, nói chung là thuộc lĩnh vực giá trị, trong khi bên kia lại thường đề cao năng lực, hiệu quả, cá nhân…, nói chung là thuộc lĩnh vực của cái "chân" nhiều hơn là cái "thiện". Thông thường sự thật cũng là chân lýchân lý cũng là sự thật. Nhưng không phải cái "chân" nào cũng là cái "thiện" và cái "thiện" nào cũng là cái "chân". Pháp luật và đạo đức đều có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội, đều nhằm mục đích bảo vệ hệ thống chính trị, nhưng pháp luật không dựa vào tình cảm, không căn cứ vào dư luận để phán quyết. Từ xa xưa, Pla-tôn đã quan niệm pháp luật là đạo đức không có tình cảm. Nhà nước Việt Nam hiện nay là nhà nước pháp quyền, nhưng không phải là nhà nước pháp quyền tư sản mà là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhưng một khi đã là nhà nước pháp quyền thì nhất thiết phải quản lý xã hội bằng luật pháp chứ không phải bằng đạo đức. Nhưng không giống như ở phương Tây, loại hình chính trị – đạo đức truyền thống ở Việt Nam, hàng nghìn đời nay đã tạo thành tâm lý xã hội "một tạ cái lý không bằng một tý cái tình" làm cho những nhà thực thi pháp luật không khỏi không suy nghĩ. Hơn nữa, cho dù pháp luật có chi tiết, chặt chẽ đến đâu chăng nữa, nếu đạo đức xã hội suy thoái thì bản thân pháp luật cũng khó trở thành hiện thực. Cho nên, không thể tuyệt đối hóa một loại hình nào, mà cần thấy rằng hiện nay, hai loại hình văn hóa đang cùng tồn tại và đan xen lẫn nhau. Nếu giải quyết không hợp lý quan hệ giữa hai loại hình thì có khi tự mình mâu thuẫn với chính mình. Chiếc xe song mã sẽ chạy nhanh hơn nếu hai con ngựa cùng chạy theo một hướng và cũng khó lòng tiến về phía trước nếu mỗi con chạy theo một hướng khác nhau. Nên nhớ rằng loại hình chính trị – đạo đức không đề cao giá trị của kinh tế, thậm chí còn đặt đạo đức và kinh tế trong quan hệ đối lập: "Có đạo đức nhân ái thì không thể giàu được, còn đã giàu thì không thể có đạo đức nhân ái được" (vi nhân bất phú, vi phú bất nhân). Thực ra không có xã hội nào mà không quan tâm đến kinh tế, nhưng một khi giữa kinh tế và đạo đức phát sinh mâu thuẫn thì loại hình truyền thống thường hy sinh cái thứ nhất, chọn cái thứ hai. Nếu như giá trị xã hội bị đảo lộn, nếu như dấu chấm hỏi "chợ trời thật giả đâu chân lý" vẫn thường xuyên vây quanh cuộc sống thì e rằng ổn định xã hội sẽ càng ngày càng nằm ngoài tầm với. Nên nhớ rằng kinh tế không phải chỉ là tiền tệ, hàng hóa mà chủ yếu vẫn là con người. Nếu như con người kinh tế không cần biết gì khác ngoài kinh tế thì e rằng bản thân kinh tế cũng khó ổn định chứ chưa nói gì đến phát triển. Người ta cho rằng những "con rồng châu Á" sở dĩ có những bước phát triển vượt bậc về kinh tế là do biết kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai loại hình văn hóa nói trên. Tuy nhiên, sự mâu thuẫn giữa đời sống tinh thần và đời sống vật chất, sự xung đột giữa bên ngoài và bên trong của con người cũng như nhiều hậu quả do cái gọi là xã hội văn minh, hiện đại không khỏi làm cho người ta phải lo âu trước tương lai "không thể đón được" của nhân loại. Tất nhiên, đây chỉ là một sự cảnh báo. Nhưng cũng có không ít dấu hiệu thực tế cho thấy có những khả năng cho sự cảnh báo ấy trở thành một phần của sự thật. Những hậu quả về môi trường sống, về văn hóa, con người ở một số nước đang phát triển đã cho thấy cái giá của việc chỉ chú trọng mục tiêu tăng trưởng các chỉ số phát triển kinh tế, bỏ qua hoặc không quan tâm đến các yếu tố khác.

Không nên quên rằng lịch sử là sự tiếp nối của nhiều thế hệ trước để lại, trong đó có truyền thống chính trị – đạo đức, cho nên có lẽ cũng không nên tuyệt đối hóa loại hình nào. Hơn nữa, cũng đừng quên rằng mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội là con người chứ không phải là kinh tế. Đương nhiên, nếu không đủ ăn, đủ mặc thì không thể nói đến việc giải phóng con người. Chính vì vậy, sự phân biệt chính trị – đạo đức với chính trị – kinh tế là nhằm tới sự nhận thức về quan hệ thống nhất của hai loại hình, hình thành một cơ sở phương pháp luận cho một chính sách phát triển xã hội bền vững vì mục tiêu phát triển con người.


(1), (2), (3) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, t 1, tr 299, 788 (4) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà Nội, 2000, t 42, tr 234 (5) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Sđd, t 42, tr 234.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 121 NĂM 2007

Advertisements

Gửi phản hồi

Học luật để biết luật, hiểu luật, vận dụng luật và hoàn thiện luật
%d bloggers like this: