BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRƯỚC NHỮNG YÊU CẦU MỚI CỦA THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

CHU THÁI THÀNH

Trong những năm gần đây, bảo vệ môi trường đang trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhiều quốc gia. Sự thay đổi khí hậu bất thường, suy giảm tầng ôzôn, tình trạng ô nhiễm gia tăng, suy thoái đất canh tác, nạn phá rừng, lụt, bão, suy giảm đa dạng sinh học… đang trở thành vấn đề bức bách mang tính toàn cầu. Cho nên, muốn bảo đảm phát triển kinh tế – xã hội bền vững và hội nhập kinh tế thành công, không thể không quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường.

Đối với nước ta, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiệm vụ bảo vệ môi trường thường xuyên được Đảng và Nhà nước coi trọng và đã ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết liên quan. Đặc biệt, ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 41/NQ-TW Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là Nghị quyết đầu tiên của Đảng ta chỉ đạo riêng về công tác bảo vệ môi trường. Nghị quyết nêu rõ: Công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian qua đã có những chuyển biến tích cực. Hệ thống chính sách, thể chế từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. Nhận thức về bảo vệ môi trường trong các cấp các ngành và nhân dân đã được nâng lên; mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bước được hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học đã đạt được những tiến bộ rõ rệt…

Mục tiêu phấn đấu của đất nước đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là: từ nay đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Theo định hướng mục tiêu đó, thời gian tới, tăng trưởng kinh tế nước ta phải ở mức cao hơn so với hiện tại và phải duy trì được mức độ ấy trong một vài thập kỷ. Dự báo trong vòng 15 đến 20 năm tới, GDP của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng từ 2 đến 3 lần, công nghiệp sẽ tăng 4 lần. Sự tăng trưởng như vậy làm cho đất nước nhanh chóng phát triển, hội nhập với nền kinh tế khu vực. Nhưng đồng thời nó cũng kéo theo một khối lượng lớn tài nguyên thiên nhiên được khai thác, chế biến và một khối lượng chất thải từ sản xuất và tiêu dùng thải vào môi trường ngày càng tăng. Những thách thức về môi trường càng khó giải quyết, vì vấn đề tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường cho ngày hôm nay và cho thế hệ mai sau thường mâu thuẫn trực tiếp với nhau.

Thực tế cho thấy, trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nước ta đang phải đương đầu với nhiều vấn đề về môi trường gay gắt, trong đó có những vấn đề nghiêm trọng như nạn phá rừng, sự khai thác quá mức tài nguyên sinh học, sự xuống cấp của tài nguyên đất, nạn thiếu nước ngọt và ô nhiễm gia tăng…

Rừng là nguồn tài nguyên sinh vật quý giá nhất. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế – xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái rất quan trọng. Thế nhưng, trong quá trình phát triển, độ che phủ của rừng nước ta đã giảm sút đến mức báo động. Chất lượng của rừng ở các vùng còn rừng đã bị hạ thấp quá mức. Trên thực tế chỉ còn khoảng 10% là rừng nguyên thủy. Ở nhiều tỉnh miền núi, độ che phủ của rừng tự nhiên, nhất là rừng già còn lại rất thấp. Ví dụ, ở Lai Châu chỉ còn 7,88%, Sơn La là 11,95% và Lào Cai là 5,38%. Ở Tây Nguyên trung bình mỗi năm diện tích rừng tự nhiên mất 10.000 ha. Những tổn thất về rừng là không thể bù đắp được và gây ra nhiều tổn thất lớn về kinh tế, về công ăn việc làm và phát triển đất nước bền vững. Cho dù các chương trình trồng rừng sẽ đạt được những kết quả khả quan, thì cũng chưa thể bù đắp ngay được mức phá rừng hiện tại và cũng khó thực hiện được mục tiêu đề ra là đến năm 2010 tỷ lệ che phủ của rừng đạt 43% diện tích rừng tự nhiên cả nước.

Thoái hóa đất đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn ở nước ta, nhất là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất. Các dạng thoái hóa đất chủ yếu là: xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh dưỡng, đất chua hóa, mặn hóa, phèn hóa, bạc màu, khô hạn và sa mạc hóa. Trên 50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13 triệu ha) ở vùng đồi núi có những vấn đề liên quan đến suy thoái đất. Ở đồng bằng, thách thức về môi trường đất là nạn ngập úng, lũ, phèn hóa, mặn hóa, xói mòn và sạt lở bờ sông, bờ biển, ô nhiễm đất, vắt kiệt độ phì của đất để thu lợi ích ngắn hạn. Ở vùng miền núi, suy thoái môi trường đất do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của đồng bào các dân tộc; tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi. Suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đến mức báo động.

Việc bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên nước còn nhiều bất cập. Các nguồn nước đang bị suy thoái và nhiều nơi bị ô nhiễm trầm trọng. Nguy cơ nguồn nước bị cạn kiệt đang đe dọa thiếu nước cho phát triển kinh tế và đời sống ở một số vùng. Nguồn nước mặt ngày càng bị ô nhiễm do lượng lớn chất thải công nghiệp và sinh hoạt gây nên. Nguồn nước ngầm ở một số đô thị có biển hiện chớm bị ô nhiễm bởi các chất gây ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.

So với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực, nước ta có những lợi thế quan trọng về tài nguyên khoáng sản. Nếu biết bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên này thì chúng sẽ trở thành một lợi thế trong cạnh tranh quốc tế cả hiện tại và trong tương lai lâu dài. Tuy nhiên, do quản lý chưa chặt chẽ nên việc khai thác thiếu quy hoạch, bừa bãi đã gây ra tình trạng thất thoát tài nguyên khoáng sản, hủy hoại môi trường đất, thảm thực vật và gây nhiều sự cố môi trường như sụt lở, sập hầm lò khai thác… Bên cạnh việc lãng phí tài nguyên do không tận thu được hàm lượng khoáng sản hữu ích, việc khai thác bằng công nghệ lạc hậu còn gây ra tình trạng mất rừng, xói lở đất, bồi lắng và ô nhiễm sông, suối, ven biển.

Sức ép dân số và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh ở các vùng ven biển gây ra nhiều hậu quả xấu đối với tài nguyên ven biển và trong lòng biển. Các thành phố, khu công nghiệp vùng ven biển đổ một lượng nước thải không qua xử lý và một phần chất thải rắn vào sông, biển gây nên ô nhiễm môi trường nước. Các trung tâm du lịch nằm ven biển hằng năm cũng xả ra một khối lượng lớn nước thải và rác thải ra biển. Hậu quả là các hệ sinh thái biển và ven biển bị suy thoái nghiêm trọng. Đa dạng sinh học bị đe dọa, diện tích rất lớn rừng ngập mặn bị triệt phá để nuôi tôm, các bãi san hô bị khai thác một cách hủy diệt, đưa nước ta vào danh sách những vùng có mức độ đe dọa cao nhất thế giới. Nhiều nhóm động vật quý hiếm như thú biển, đồi mồi, chim biển, các thảm thực vật biển bị thu hẹp dần. Chất lượng môi trường sống trong các hệ sinh thái bị suy giảm, bị thay đổi theo chiều hướng xấu; đa dạng loài và nguồn gen đặc hữu bị tổn thất, hoặc suy thoái, có nơi đến mức nghiêm trọng.

Môi trường ở nhiều đô thị nước ta đang bị ô nhiễm do chất thải rắn chưa được thu gom, nước thải chưa được xử lý theo đúng quy định. Trong khi đó khí thải, tiếng ồn, bụi từ các phương tiện giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với kết cấu hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng báo động. Hệ thống cấp thoát nước lạc hậu, xuống cấp, không đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng. Mức độ ô nhiễm về bụi và các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nhất là tại một số thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần.

Môi trường nông thôn đang bị ô nhiễm do các điều kiện vệ sinh và kết cấu hạ tầng yếu kém. Việc sử dụng không hợp lý các loại hóa chất nông nghiệp cũng đã và đang làm cho môi trường nông thôn bị ô nhiễm và suy thoái. Việc phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề và cơ sở chế biến ở một số vùng do công nghệ sản xuất lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, phân tán xen kẽ trong khu dân cư và hầu như không có thiết bị thu gom và xử lý chất thải, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Hiện nay, ở nước ta có khoảng 1.450 làng nghề truyền thống, trong đó có hai phần ba tập trung ở đồng bằng sông Hồng. Nhiều làng nghề khác đang trên đường phục hồi. Kết quả điều tra mới đây cho biết, điều kiện và môi trường lao động tại các làng nghề là đáng lo ngại. Có 60 đến 90% số người lao động tiếp xúc với bụi, hóa chất, độ nóng không có trang thiết bị phòng hộ. Tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng tăng. Các chất thải rắn, lỏng, khí trong quá trình sản xuất không được xử lý, thu gom, thải bừa bãi ra môi trường xung quanh và trong các khu dân cư đã làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Điều kiện vệ sinh môi trường nông thôn vẫn chưa được cải thiện đáng kể, tỷ lệ số hộ có hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 28 – 30% và số hộ ở nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh là 30 – 40%.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng nguyên nhân cơ bản nhất vẫn là do các cấp ủy và chính quyền các cấp chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, chưa biến nhận thức, trách nhiệm thành hành động cụ thể của từng cấp, từng ngành và từng người cho việc bảo vệ môi trường; chưa bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thường chỉ chú trọng đến tăng trưởng kinh tế mà ít quan tâm việc bảo vệ môi trường; nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường của Nhà nước, của các doanh nghiệp và cộng đồng dân cư rất hạn chế. Bên cạnh đó, khuôn khổ pháp lý còn thiếu đồng bộ, năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu, mức đầu tư bảo vệ môi trường còn thấp, nhiều vấn đề chưa đặt ra và giải quyết đúng với tầm quan trọng của nó.

Trước tình hình đó, Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ Chính trị đã đặt ra nhiều nhiệm vụ mới, nhấn mạnh nhiều quan điểm mới, sâu sắc, có ý nghĩa chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường trong suốt thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thứ nhất, bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội; ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.

Thứ hai, bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành, từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế – xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.

Thứ ba, bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hóa, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hòa với tự nhiên của ông cha ta.

Thứ tư, bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống.

Thứ năm, bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao. Vì vậy, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp ủy, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Mục tiêu bảo vệ môi trường đặt ra trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là: ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra. Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học. Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường. Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.

Để đạt được những mục tiêu đó, trong những năm tới, chúng ta cần tập trung nỗ lực thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục, truyền thông nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường của toàn dân. Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật và các thông tin về môi trường và phát triển bền vững cho mọi người, nhất là trong thanh niên, thiếu niên; đưa nội dung giáo dục môi trường vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục quốc dân, tăng dần thời lượng và tiến tới hình thành môn học chính khóa đối với các cấp học phổ thông. Tạo thành dư luận xã hội lên án nghiêm khắc đối với các hành vi gây mất vệ sinh và ô nhiễm môi trường đi đôi với việc áp dụng các chế tài, xử phạt nghiêm, đúng mức mọi vi phạm. Xây dựng lối sống lành mạnh, hài hòa, gần gũi và yêu quý thiên nhiên.

Hai là, tăng cường công tác xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường.Xác định rõ trách nhiệm bảo vệ môi trường của Nhà nước, cá nhân, tổ chức và cộng đồng, đề cao trách nhiệm của các cơ sở sản xuất và dịch vụ. Tạo cơ sở pháp lý và cơ chế khuyến khích cá nhân, tổ chức và cộng đồng tham gia công tác bảo vệ môi trường. Chú trọng xây dựng và thực hiện quy ước, hương ước, cam kết về bảo vệ môi trường và các mô hình tự quản về môi trường của cộng đồng dân cư. Phát hiện các mô hình, điển hình tiên tiến trong hoạt động bảo vệ môi trường để khen thưởng, phổ biến và nhân rộng. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho môi trường. Huy động sự tham gia và đóng góp của mọi tầng lớp dân cư, của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội vào lĩnh vực bảo vệ môi trường. Phát triển các tổ chức tài chính, ngân hàng, tín dụng về môi trường nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư bảo vệ môi trường. Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực về môi trường.

Ba là, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của quá trình phát triển. Tích cực và chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do hoạt động của con người gây ra. Cần áp dụng rộng rãi nguyên tắc "người gây thiệt hại đối với tài nguyên môi trường thì phải bồi hoàn". Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ môi trường trong việc lập quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển kinh tế – xã hội, coi yêu cầu bảo vệ môi trường là một tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển bền vững.

Bốn là, chú trọng công tác quản lý môi trường ở các vùng kinh tế trọng điểm, vùng dân cư tập trung. Gắn mục tiêu bảo vệ môi trường với mục tiêu nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư. Chú trọng ngăn ngừa sự cố môi trường và xử lý ô nhiễm môi trường; trước hết xử lý nước thải, chất thải rắn, tập trung ở các bệnh viện lớn, nghiên cứu tái sử dụng chất thải và áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn. Tăng khả năng dự báo các sự cố thiên nhiên, thời tiết, bão lụt, động đất, giảm thiểu các thiệt hại do thiên tai gây ra. Hình thành khung pháp luật, chính sách về bảo vệ và cải thiện môi trường. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; quy định và áp dụng các chế tài cần thiết để xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

Năm là, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng phảibảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai. Sử dụng tiết kiệm những nguồn tài nguyên không thể tái tạo lại được, gìn giữ và cải thiện môi trường sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với môi trường do quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế gây ra. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.

Sáu là, bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường tự nhiên khác đạt chuẩn mực tối thiểu do Nhà nước quy định. Tập trung giải quyết tình trạng suy thoái môi trường ở các khu công nghiệp, các khu dân cư đông đúc, chật chội ở các thành phố lớn và một số vùng nông thôn. Kiểm soát ô nhiễm và ứng cứu sự cố môi trường do thiên tai lũ lụt gây ra; cải tạo, khắc phục ô nhiễm môi trường trên các dòng sông, ao hồ, kênh mương… Thực hiện các dự án về cải tạo, bảo vệ môi trường, xây dựng vườn quốc gia, khu rừng cấm, trồng cây xanh, giữ gìn đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn gen di truyền, xây dựng các công trình làm sạch môi trường. Áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất ít chất thải, ít gây ô nhiễm môi trường. Bảo đảm sử dụng hợp lý tài nguyên, phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Bảy là, bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ, ngành và địa phương, của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân. Phải huy động sự tham gia tối đa của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường ở địa phương và trên quy mô cả nước. Bảo đảm cho nhân dân có khả năng tiếp cận thông tin và nâng cao vai trò của các tầng lớp nhân dân, trước hết là đối với phụ nữ, thanh niên, đồng bào các dân tộc thiểu số trong việc đóng góp vào quá trình ra quyết định về các dự án đầu tư phát triển lớn, lâu dài của đất nước, thực hiện bằng được tiêu chí nâng cao chất lượng sống và phát triển bền vững.

SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 74 NĂM 2005

Advertisements

Gửi phản hồi

%d bloggers like this: